|
Quy
chế bao bì , đóng gói, vận chuyển, Bảo hiểm,
Một số lưu ý về
hàng đóng trong container:
Hàng hoá vào Hoa Kỳ,
trừ các hàng dầu thô, nông sản số lượng lớn, hoặc các mặt hàng cần
có tàu chuyên dụng, hoặc chở rời nguyên cả tàu, còn phần lớn sẽ được
chuyên chở trong các container 20 feet/40feet rất thuận tiện cho
việc xếp dỡ và vận chuyển trên biển cũng như trong đất liền giữa các
Bang rộng lớn của nước Mỹ. Trên hệ thông đường cao tốc liên bang, ô
tô chở container 40' có thể chạy tốc độ trên 100 Km/h. Một số lưu ý
khí đóng hàng:
a. Không đóng chung
trong cùng container:
-
Hàng
bám bụi bẩn không được đóng chung hàng dẽ hút bụi
-
Hàng
có mùi không đóng chung với hàng dễ hấp thụ mùi.
-
Hàng/kiện
hàng có toả ra độ ẩm không đóng chung với hàng dễ hút ẩm.
-
Kiện
hàng nặng không được đặt trên kiện hàng nhẹ
-
Hàng
có các đầu nhọn, cạnh sắc, góc không để cạnh hàng có bao bì mềm (bao
tải, hộp).
-
Hàng
ướt không để cùng với hàng khô. Nếu không thể để riêng được thì kiện
hàng ướt phải đặt dưới và giữa 2 kiện hàng phải có lớp lót ngăn cách.
-
Nói
chung, nên tách riêng các kiện hàng theo từng loai. Không dùng các
bao bì hỏng, rách, vỡ. Đối với các hàng dễ hấp thụ mùi, độ ẩm,.. cần
lót bên trong container và container phải được rửa sạch và tẩy mùi.
b. Giới hạn trọng
lượng chở trong container:
Theo Tiêu chuẩn ISO
668, trọng lượng cả bì cho phép:
-
Container 20' : 24.000 Kg (52.910 lbs)
-
Container 40' : 30.480 Kg (67.200 lbs)
Theo một Sửa đổi
năm 1985: 1 container 20' có thể chở 30.480KG. Tuy nhiên tải trọng
của hàng trong container còn phài phủ hợp với khả năng chịu tải của
nước mà container chở hàng xuất khẩu đến. Ơ Mỹ hệ thống đường xá,
cầu cống tốt và chắc chắn có thể chất tải đến mức này.
c. Các biện pháp
bảo vệ đối với thời tiết:
Điều này rất quan
trọng vì hai nước cách xa nhau có thể có chế độ thời tiết khác nhau
và nhất là đối với hàng đi đường biển thời gian vận chuyển dài hàng
tháng với tác dụng và ăn mòn của hơi nước biển. Các biện pháp bảo vệ
chủ yếu là chèn lót che phủ bằng các nguyên vật liệu chống thấm,
chống dột chống ẩm. Trường hợp hàng đồng nhất giao tận kho cùng một
chủ sẽ đơn giản hơn. Trường hợp gồm nhiều loai kiện hàng giao nhiều
nơi phải có cách chèn lót sao cho dễ ràng tách lô hàng.
d. Đối với các loai
hàng đặc chủng
Ví dụ hải sản, hoá
chất,v.v., cần liên hệ trực tiếp với các hãng vận chuyển có loai
container đông lạnh hoặc container đặc chủng phù hợp để hỏi.

Bảo hiểm hàng hải
Hàng hoá xuất, nhập
khẩu với Hoa Kỳ dứt khoát phải được mua bảo hiểm hàng hải để tránh
mọi rủi ro và tổn thất. Người nhập khẩu Hoa kỳ thường giành quyền
mua bảo hiểm cho hàng họ nhập vào Hoa Kỳ. Người xuất khẩu Hoa Kỳ
cũng sẵn sàng mua bảo hiểm giúp người nhập khẩu nước ngoài nếu yêu
cầu.
Tại Mỹ có nhiều
công ty bảo hiểm lớn tầm cỡ thế giới. Các công ty bảo hiểm hoạt
động thông qua hệ thống các đại lý bảo hiểm với số lượng rất lớn các
văn phòng nằm dải khắp các bang của Mỹ và tại nhiều nước trên thế
giới, rất thuận lợi cho việc mua bảo hiểm qua điện thoại, fax và
Internet. Việc giải quyết các vụ khiếu nại bảo hiểm cũng nhanh chóng
và chính xác.

Quy
chế Nhãn hiệu, thương hiệu, bản quyền, nước xuất xứ và kiểm soát nhập
khẩu.
+ Nhãn hiệu và thương hiệu:
Hàng hóa mang nhãn
mác (trademark) giả sẽ bi tịch thu và tiêu huỷ. Nhãn hiệu giả là
nhãn hiệu làm giống, hầu như khó phân biệt so với một nhãn hiệu đã
đăng ký. Các nhãn mark (trademark) hoặc sao chép, bắt chước một nhãn
mark đã đăng ký bản quyền và lưu ký tại Hải quan có thể bị thu giữ,
tịch thu hoặc tiêu huỷ. Hải quan sẽ bảo hộ các lô hàng mang thương
hiệu (trade names) đã lưu ký (recorded) theo các quy định của Hải
quan.
Quyền miễn trừ về
nhãn mác đối với hàng hoá mang theo người nhập cảnh vào Hoa Kỳ, nếu
các hàng này là đồ dùng các nhân, không phải dể bán (Luật 19USC
1526(d); 19CFR 148.55).
+ Ghi tên nước
xuất xứ:
Luật Hải quan Hoa
Kỳ quy định mọi hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải ghi tại một vị
trí dễ thấy, bằng cách không thể phai, mờ, và tuỳ theo bản chất hàng
hoá cho phép, bằng tiếng Anh tên của nước xuất xứ, để cho người mua
cuối cùng ở Hoa kỳ biết được tên của nước đã sản xuất ra hàng hoá đó,
trừ một số mặt hàng theo danh sách riêng được miễn ghi tên nước xuất
xứ.
Đối với Hải quan: "Nước
(Country)" có nghĩa là một thực thể chính trị gọi là Quốc gia. Các
thuộc địa, vùng lãnh thổ sở hữu, hoặc lãnh thổ bảo hộ nằm bên ngoài
biên giới nước mẹ cũng được coi là Nước riêng biệt. "Nước Xuất Xứ
(Country of origin)" đơn gian là Nước đã sản xuất hoặc nuôi, trồng
sản phẩm đó.

Cạnh
Tranh Không Công bằng
Section 337 của
Taiff Act, sửa đổi, cấm nhập khẩu hàng hoá trong trường hợp Tổng
Thống thấy đang hiện hành các biện pháp hoặc hành động cạnh tranh
không công bằng. Việc này chủ yếu nhằm vào các hàng hoá có vi phạm
bản quyền.
Nếu Internatioan
Trade Commision (ITC) qua điều tra thấy có biện pháp hoặc hành động
cạnh tranh không công bằng liên quan đến việc nhập khẩu hàng hoá nào
đó, ITC sẽ ban hành lệnh cấm và trong vòng 60 ngày Tổng Thống sẽ
thông báo việc phê chuẩn hay không phê chuẩn lênh này. Sau 60 ngày
nếu Tổng thống không có hành động gì thì lệnh sẽ có hiệu lực. Trong
thời gian 60 ngày hoặc cho đến trước khi có hành động của Tổng Thống,
việc nhập khẩu vẫn được phép tiến hành, nhưng phải theo một bảo
chứng (bond) riêng biệt. Nếu Tổng thông thấy rằng hàng hoá không vi
phạm Section 337, “bond” sẽ được huỷ bỏ.
- Nhập khẩu hàng
có mang tiêu đề,
chữ viết tắt, ký hiệu, biểu tượng, quốc huy, xi (seal) hoặc băng dải
của bất kỳ cơ quan nào thuộc Bộ Tài Chính, hoặc tương tư, sẽ bị cấm
nhập khẩu, trừ khi cơ quan đó đã uỷ quyền cho phép sử dụng
(31U.S.C.333(c).

Nhập khẩu hàng có
mang tiêu đề
chữ viết tắt, ký
hiệu, biểu tượng, quốc huy, xi (seal) hoặc băng dải của bất kỳ cơ
quan nào thuộc Bộ Tài Chính, hoặc tương tư, sẽ bị cấm nhập khẩu, trừ
khi cơ quan đó đã uỷ quyền cho phép sử dụng (31U.S.C.333(c).

Hàng Gỉa Cổ
(Artifact)/Tài Sản Văn Hoá
Việc nhập khẩu các
mặt hàng này tuân theo một số luật của Hoa Kỳ, nhất là các đồ vật
khảo cổ và ethnological. Ví dụ, luật Hoa Kỳ cấm nhập các điêu khắc
sao lại thời trước Columbo và cá đồ vật từ các nước Trung và Nam
Châu Mỹ mà không có giấy phép từ một nước thứ ba. Hải quan đã công
bố các hạn chế nhập khẩu các đồ vật và hàng gỉa cổ này.
Luật Liên bang cấm
nhập bất cứ mặt hàng là tài sản văn hoá bị đánh cắp từ các bảo tàng,
các cơ sở tín ngưỡng, hoặc tượng đài công cộng, trong trường hợp này
sẽ áp dụng các điều khoản của chống ăn cắp tài sản quốc gia (U.S.
National Stolen Property Act). Thông tin thêm về mục này có thể xem
www.usia.gov/education/culprop, hoặc US Customs Service Intellectual
Property Right Branch.

30 mặt hàng dễ dàng nhập khẩu
1. Dụng cụ gia đình
2. Nghệ thuật. HS
96 Tác phẩm nghệ thuật
3. Chổi lông : HS 96
Hàng công nghiệp khác
4. Li e HS 45 Li e
và vật làm bằng li e.
5. Hoa giả: HS 67
Lông vũ, vịt, hoa giấy, tóc giả
6. Máy cắt kim loai:
HS 82 Máy cắt
7. Lông giả: HS 43
Lông thú giả
8. Trang sức và đá
quý: HS 71 Đồ trang sức, vàng bạc, đá quý
9. Thuỷ tinh : HS 70
Thuỷ tinh và hàng bằng thuỷ tinh
10. Đồ trang sức: HS
71 Đồ trang sức
11. Đồ da: HS 42 Hàng
bằng da
12. Da thô : HS 41 Da,
lông thú thô
13. Đồ thắp sáng: HS
94 Đồ trang trí phòng ở
14. Va li, túi đựng:
HS 42 Bằng da
15. Máy công cụ: HS
84 Máy lớn công nghiệp
16. Kim loai cơ bản:
HS 72 –81
17. Nhạc cụ: HS 92
Nhạc cụ
18. Dụng cụ Quang học:
HS 90 Công cu quang học, y học, chính xác
19. Giấy và sản phẩm
bằng giấy: HS 47-49 Bột giấy, giấy phế thải, giấy in
20. Ngọc trai: HS 71
21. Nhựa và sản phẩm
nhựa: HS 39
22. Cao su và sản
phẩm bằng cao su: HS 40
23. Yên cương: HS 42
Yên ngựa
24. Hàng thể thao :
HS 95 Đồ chơi, thiết bị thể thao
25. Đá và sản phẩm
bằng đá: HS 68
26. Gạch lát nền,
tường vàg sành sứ: HS 68
27. Máy cầm tay: HS
82 Máy tiện kim loai
28. Ô dù: HS 66
29. Đồ dùng nhà bếp,
dụng cụ để nấu ăn: HS 82
30. Giấy dán tường:
HS 48

7 mặt hàng nhạy cảm khó nhập khẩu
1. Ma tuý HS 30
2. Vật liệu phóng,
phát xạ: HS 84
3. Vũ khí đạn dược:
HS 93
4. Rượu và đồ uống
có rượu: HS 22
5. Sản phẩm sữa: HS
40
6. Gia súc và trứng:
HS 02 và 04
7. Thịt: HS 02
8. Đồ chơi: HS 95
9. Động vật sống:
HS 01
10. Dệt may: HS
50-63
11. Xe máy: HS 87
12. Phương tiện
hàng không : HS 88
13. Thực phẩm chế
biến : HS 16, 19, 20 và 21
14.
Phương tiện, thiết
bị phát sang: HS 84, 85,90 và 92
15. Phân bón : HS
31
16. Sơn và sản phẩm
liên quan: HS 32
17. Thuốc nổ, Pháo,
vật liệu dễ cháy: HS36

2. Quy chẾ KiỂm dỊch đỘng
thỰc vẬt
Các quy định quản lý
thực phẩm, dược phẩm
Food, Drug
Administration (FDA) là cơ quan thuộc Bộ Y Tế Hoa Kỳ, tập hợp nhiều
nhà khoa học kỹ thuật của Hoa Kỳ để đề ra và giám sát thực hiện các
biện pháp đảm bảo an toàn tiêu dùng đối với thực phẩm, dược phẩm và
dụng cụ y tế và mỹ phẩm sản xuất tại Hoa Kỳ và nhập khẩu từ các nước
ngoài vào lãnh thổ Hoa Kỳ.
Hàng năm các điều
tra viên và các thanh tra viên của FDA, đồng thời cũng là các nhà
khoa học, tiến hành các cuộc viếng thăm tới 15.000 cơ sở sản xuất
trong và ngoài nước để xem xét xem các sản phẩm có được làm theo
tiêu chuẩn vệ sinh không và nhãn mác hàng hoá có phù hợp không, nhằm
đảm bảo thực phẩm phải thật an toàn khi ăn, mỹ phẩm không được gây
hại, dược phẩm và dụng cụ y tế đảm bảo an toàn và có hiệu quả..
Thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc bệnh, thiết bị, dụng cụ y tế phải tuân
theo các quy định của luật “Federal Food, Drug, and Cosmetic Act –
FFD&C Act (FDCA), do FDA giám sát thi hành. Cấm nhập các dược phẩm
chưa được FDA duyệt. Các sản phẩm nhập khẩu thuôc FDA quản lý sẽ
phải qua giảm định tại thời điểm hàng tới cửa khẩu. Các chuyến hàng
bị phát hiện không phù hợp với luật và các quy định sẽ bị từ chối
nhập cảnh và bị buộc phải làm lại cho phù hợp, hủy hoặc tái xuất
khẩu. Với sự cho phép của FDA, người nhập khẩu có thể sửa lại lô
hàng chưa phù hợp thành phù hợp nếu xét thấy có thể làm được. Bất kỳ
sự tuyển lựa lạI, táI chế hoặc dán nhãn lạI nào phải có sự gián sát
của FDA với chi phí của người nhập khẩu.

Quy trình kiểm tra
chất lượng thực phẩm
(Hazarrd Analysis and Critical Control Point):
Đây là hệ thống
kiểm soát chất lượng sản phẩm dựa trên nguyên tắc phân tích và xác
định các nguy cơ và điểm kiểm soát tới hạn, nhằm đảm bảo an toàn vệ
sinh và ngăn chặn từ xa tất cả các mối nguy tiềm ẩn về sinh học, hoá
học và lý học trong tất cả các công đoạn sản xuất/chế biến thực phẩm
nói chung.
HACCP được ban hành
tháng 12/1995 và từ tháng 12/1997 được FDA đưa vào áp dụng bắt
buộc đối với thuỷ sản của Mỹ và thuỷ sản nhập khẩu từ nước ngoài.
HACCP hiện được đưa vào bộ Luật về Thực Phẩm (Food Code) của Mỹ, do
FDA giám sát việc thi hành và sẽ mở rộng ra áp dụng cho nhiều mặt
hàng thực phẩm khác, trước mắt là cho chế biến nước quả. Bộ Nông
Nghiệp Mỹ cũng thiết lập hệ thống HACCP cho các nhà máy chế biến
thịt và gia cầm (là những mặt hàng do Bộ này quản lý, các thực phẩm
khác do FDA quản lý) và đã áp dụng từ 1/1/1999).
HACCP được xây dựng
trên cơ sở các quy định về an toàn, vệ sinh áp dụng trên thế giới:
Goods Manufacturing Practice (GMP), Sanitation Standard Operating
Procedure (SSOP), v.v. Muốn xây dựng hệ thống HACCP cơ sở s/x phải
có đầy đủ các điều kiện s/x gồm nhà xưởng, kho, dây chuyền thiết bị
s/x, môi trường s/x, và con người theo các quy chuẩn của GMP, SSOP
trong đó đặc biệt chú trọng giám sát an toàn vệ sinh qua kiểm tra
các hồ sơ vận hành, kiểm tra việc sửa chữa/điều chỉnh khi các giới
hạn bị vi phạm, giám sát chặt chẽ vệ sinh sản xuất và vệ sinh cá
nhân của công nhân trong tất cả các khâu sản xuất, chế biến.
Cơ chế kiểm soát "từ
xa" của HACCP tập trung trên 7 nguyên tắc cơ bản:
-
Phân
tích mối nguy và các biện pháp phòng ngừa
-
Xác
định điểm kiểm soát tới hạn (critical control points)
-
Xây
dựng danh mục các công đoạn chế biến có thể xảy ra các mối nguy đáng
kể và mô tả các biện pháp phòng ngừa
-
Thiết
lập các điểm tới hạn và giới hạn tới hạn liên quan đến mỗi đIểm kiểm
soát tới hạn
-
Giám
sát các điểm kiểm soát tới hạn, thiết lập các thủ tục sử dụng kết
quả giám sát để hiệu chỉnh và duy trì quá trình kiểm soát.
-
Thực
hiện sửa chữa/điều chỉnh cần thiết khi thấy giới hạn tới hạn bị vi
phạm
-
Lưu
trữ hồ sơ để chứng thực việc thực hiện HACCP và các thủ tục thẩm tra
quá trình thực hiện HACCP.
Sử dụng hệ thống
HACCP có nhiều lợi ích:
-
Tập
trung vào việc xác định và ngăn ngừa các điểm tới hạn an toàn.
-
Hệ
thống dựa trên cơ sở khoa học.
-
Cho
phép kiểm tratừng giai đoạn trong quy trình sản xuất có tuân theo
các quy định về an toàn không, do các thông số, dữ liệu được lưu giữ
trong quá trình sản xuất.
-
Buộc
các cơ sở sản xuất và lưu thông phân phối phải có trách nhiệm trong
việc đảm bảo an toàn thực phẩm.
-
Giúp
cho các công ty thực phẩm có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn trên thị
trường quốc tế.
-
Giảm
các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế.
Để xây dựng được hệ
thống HACCP của mình theo yêu cầu của FDA, các cơ sở s/x phải cử
người tham gia các lớp tập huấn, đào tạo về xây dựng quy trình HACCP
do bộ Thuỷ Sản và các tổ chức quốc tê (UNDP, FAO, INFOFISH,..)
tổ chức.
Đối với Việt Nam,
trước mắt là các cơ sở chế biến mặt hàng hải sản muốn xuất khẩu sản
phẩm của mình vào Mỹ phải quan tâm xây dựng hệ thống HACCP tại cơ sở
của mình, sau đó phải đăng ký kiểm tra để được cấp chứng nhận của
Trung Tâm Kiểm Tra Chất Lượng và An toàn vệ sinh thuộc Bộ Thuỷ sản (NAFIQACEM),
là cơ quan nhà nước của ta được FDA uỷ quyền kiểm tra và chứng nhận
nếu đạt yêu cầu HACCP. Từ 1/1/2001, các quy chuẩn HACCP cũng sẽ được
áp dụng bắt buộc đối với các cơ sở chế biến thuỷ sản XK và tiêu dùng
nội địa.
*Thông tin về HACCP
có thể tìm trong Web-site:
-Center for Food
Safety and Applied Nutrition:
Under Program
areas "HACCP"
-USDA & FDA HACCP
Database:
*Thực phẩm axit
thấp đóng hộp (Low acid canned food): theo các quy đinh trong luật
sau:
Food Drug and
Cosmetic Act (FD&C Act):
-402(a)(1)/402
(a)(3),/402(a)(4),
-21CFR 108(25)(35)
*Mỹ Phẩm
(Cosmetic): các luật sau quy định việc kinh doanh mỹ phẩm
Food Drug and
Cosmetic Act (FDCA, 1938, as amended)
- 21CFR: +Cosmetic
parts 700 - 740
+Color additives: parts 70-74 color additives
parts 80 color addditive certification
parts 81-82 provisionally listed color additives
-
Federal Fair Packaging and Labeling Act (FFPLA, 1966)

3. QuyỀn sỞ hỮu trí tuỆ.
-
Nếu
hàng hoá thuộc quyền sở hữu của người khác thì người không có quyền
đó không được nhập khẩu sản phẩm đó vào Hoa Kỳ.
-
Hải
quan Hoa Kỳ có lưu giữ các thông tin về bản quyền tại các cửa khẩu
để kiểm soát việc nói trên.
Phần 602(a) thuộc
Copyright Revision Act năm 1976 quy định rằng việc nhập khẩu vào Mỹ
các bản sao chép từ nước ngoài mà không được phép của của người có
bản quyền là vi phạm luật bản quyền, và sẽ bịt bắt giữ và tịch thu.
Các bản sao sẽ bị hủy; tuy nhiên, các hàng hóa này có thể được trả
lại nước xuất khẩu nếu chứng minh thỏa đáng cho cơ quan Hải quan là
hàng không phải cố tình vi phạm. Các chủ sở hữu bản quyền muốn được
cơ quan hải quan Mỹ (US Custom Service) bảo vệ quyền lợi cần đăng ký
khiếu nại bản quyền với Văn phòng Bản Quyền (US Copyright
Ofice) và đăng ký với Hải quan theo các quy định hiện hành.
 |