|
1. Nguồn pháp luật
2. Những văn bản lập
pháp chủ yếu đánh dấu các giai đoạn hình thành ra các chính sách thương
mại quan trọng của Hoa Kỳ
Luật
chống bán phá giá 1916
Luật
thuế quan Hoa Kỳ 1930 và Smooth-Haley Act
Luật
về các cty xuất khẩu Hoa Kỳ 1982.
Luật
về thương mại và thuế quan 1984
Luật
về thương mại và cạnh tranh 1988
Luật
về các thoả thuận trong vòng đàm phán Uruguay
Luật
Helms-Burton 1996 (về bao vây/cấm vận kinh tế Cu ba)
3. Tóm tắt một số luật
thương mại quan trọng của Hoa Kỳ
Luật về Quy chế tối huệ
quốc
Luật
về nguồn gốc xuất xứ hàng hoá
Luật kinh doanh với kẻ
thù
Luật về quyền hạn trong các trường hợp kinh tế quốc tế khẩn cấp
Luật
cấm vận kinh tế
Luật
kiểm soát kinh doanh ma tuý
Luật thuế đối kháng
Luật
chống bán phá giá
Luật về Bảo vệ quyền lợi của HK
Luật
nhập khẩu từ một nước cộng sản làm rối loạn thị trường
Luật điều tiết thương
mại nông sản và dệt may.
Luật hạn chế nhập khẩu vì
cân bằng cán cân thanh toán
Luật
về tiêu chuẩn kỹ thuật
Luật
về mua sắm chính phủ.
Luật mua hàng Hoa Kỳ
4. Hiệp định thương
mại song và đa phương
5. Chức năng thương mại
của Chính phủ
Nghị viện
Các cơ quan về kinh tế và thương mại
của Nhà Trắng
Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Uỷ ban thương mại Liên Bang

1. NguỒn pháp luẬt
Hệ thống thương mại
Hoa Kỳ bị điều tiết bởi rất nhiều nguồn luật khác nhau bao gồm:
1.
Hiến pháp
2.
Hiệp ước quốc tế
3.
Pháp lệnh và pháp luật
4.
Nghị định và các văn bản dưới luật của ngành hành pháp
5.
Quy chế của các cơ quan cấp Liên bang ban hành
6.
Hiến pháp của Bang
7.
Luật của Bang
8.
Quy chế của Bang
9.
Quy chế của thành phố, quận và của các cấp địa phương khác

2.
NhỮng văn bẢn lẬp
pháp chỦ yẾu đánh dẤu các giai đoẠn hình thành ra các chính sách thương
mẠi quan trỌng cỦa Hoa KỲ
Luật chống bán phá giá 1916
Đây là luật đầu
tiên về vấn đề chống phá giá cho phép toà liên bang áp dụng trừng
phạt về các thiệt hại và tội phạm do phá gia gây ra. Các quyết định
này được phép áp dụng đối với các nhà nhập khẩu hoăc bất cứ ai hỗ
trợ cho nhập khẩu các mặt hangf bán với giá thấp hơn giá bán xỉ hay
thấp hơn giá thực tế trên thị trường trong nước và gây phương hại
hay triệt tiêu công nghiệp của Hoa Kỳ. Luật này gây nhiều tranh cãi
trong các vòng đàm phán của GATT/WTO. HĐây là các biện pháp chủ yếu
hiện nay mà Hoa Kỳ áp dụng để chống lại các hàng hoá nhập khẩu có
tính cạnh tranh cao với hàng của Hoa Kỳ.

Luật
thuế quan Hoa Kỳ 1930 và Smooth-Haley Act
(được đánh mã dưới tiêu đề bổ sung cho mục : V, XIII, XIX,XXVIII, PL
96-39)
Luật này cho phép áp dụng các Hiệp định thương mại đa phương mà Hoa
Kỳ đàm phán trong khuân khổ Vòng đàm phán Tokyo. Bằng luật này các
thoả thuận về chống phá giá, chống trợ cấp ,xác định trị giá tính
thuế, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn kỹ thuật và hàng không đã được
đưa vào áp dụng trong luật pháp Hoa Kỳ.
Ngoài ra luật này
còn thông qua cá thoả thuận của Hoa Kỳ về buôn bán thịt, sữa, rượu.
Luật này cũng
cho phép TTg Hoa Kỳ đàm phán về cắt giảm hàng rào phi thuế với nước
ngoài và tổ choc laị hệ thống tổ chức cá bộ ngành chức năng về
thương mại và quy định trách nhiệm của các cơ quan này. Việc thực
thi các nghĩa vụ vủa Hoa Kỳ trong Hiệp định về hàng rào kỹ thuật và
hiệp định NAFTA cũng đưọc đưa vào áp dung qua các Điều khoản số III
và IV của Luật này.

Luật
về các cty xuất khẩu Hoa Kỳ 1982.
(15
USC 4001 et seq.) ban hành năm 1982.
Luật này nhằm
vào mục tiêu tăng cường xuất khẩu các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
của Hoa Kỳ bằng cách khuyến khích và nâng cao hiệu quả xuất khẩu của
các nhà sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ vừa và nhỏ của Hoa Kỳ.

Luật
về thương mại và thuế quan 1984
(PL 98-573)
Luật nàylàm rõ và chi tiết hoá, cụ thể hoá các điều khoản về thuế
chống ph á giá và trợ cấp, đưa ra các điều kiện cho cá trường hợp
áp dung theo điều khoản 301 của Luật thương mại 1974 đói với các
trường hợp buôn bán không bình đẳng.
Ngoài ra luật này
còn đảm bảo các biện pháp để vận dụng quy chế tự hạn chế xuất khẩu
trong buôn bán sắt thép, cho phép đàm phán Hiệp định về mậu dịch tự
do với Israel
và quy định các thủ tục về thông qua hiệp định thương mại song
phương trong Quốc hội Hoa Kỳ.

Luật về thương mại và
cạnh tranh 1988
(được đánh mã dưới tiêu đề bổ sung cho mục : XIX, PL 100-418) Luật này nhằm tăng cường lợi ích kinh té của Mỹ trong
buôn bán và các chính sách kinh tế quốc tế của chính phủ. Luật cho
phép các nhà dàm phán Hoa Kỳ tìm kiếm các cơ hội để tháo gỡ hàng rào
thương mại, tăng quyền lực cho TTg áp dụng cá biện pháp hạn chế sản
phẩm nước ngoài nào mà TTG cho là họ có hành vi buôn bán không sòng
phẳng. Cho phép TTG xác định nước nào có hành vi buôn bán không sòng
phẳng và đàm phán để khắc phục nếu không được thì có quyền áp dụng
cácc biện pháp trả đũa. Ngoài ra luật này còn nhằm tăng sức cạnh
tranh của Mỹ thông qua việc nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Luật này đã điều
chỉnh một loạt các quy chế của luật thương mại Hoa Kỳ như : chống
trợ cấp, chống phá giá, luật về quản lý xuất khẩu 1979, Điều khoản
301 của Luật thương mại năm 1974.

Luật
về các thoả thuận trong vòng đàm phán Uruguay
(được đánh mã dưới tiêu đề bổ sung cho mục : XIX, PL 103-465)
Luật này ban hành
để áp dụng các thoả thuận trong vòng đàm phán Uruguay.
Điều khoản 201 (19 USC 2251 et seq.).
Đâu là điều khoản trong Luật Thương mại 1974 cho phép
Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (USITC) điềi tra các phương hại của
hàng nhập khẩu theo các khiếu nại của các ngành công nghiệp và công
nhân Hoa Kỳ. Nếu phát hiện có thương tổn thì phải áp dụng biện pháp
khắc phục. Việc áp dung Điều khoản 201 là tuân thủ theo Điều XIX của
GATT không cần phải chứng minh có hành động buôn bán không sòng
phẳng.
Điều khoản 232 ( USC 1862, 1864)
về an ninh quốc gia
trong thương mại) Xem Luật mở rộng về thương mại 1962.
Điều khoản 301.
Là điều khoản trong Luật thương mại Hoa Kỳ 1974 nhằm khắc phục tình trạng
buôn bán không sòng phẳng (ngoài trợ cấp ra) mà gây ảnh hưởng đến
thương mại hay môi trường của Hoa Kỳ. áp dụng cả trong thương mại và
dịch vụ. Điều luật này đã được sửa đổi trong Luật về thương
mại và cạnh tranh năm 1988 là USTR phải xác định là hành vi
này có tính chất nghi vấn hay không xác định, không hợp lý hay có
phân biệt đối xử, nó gây cản trở hay hạn chế thương mại Hoa Kỳ. USTR
phải áp dụng cácc biện pháp bảo vệ thích đáng trừ khi TTg trực tiếp
chỉ thị.
Xem mục Special
301 và Super 301.
Điều khoản 302
Đây là điều của Luật áp dụng NAFTA (19 USC 3352, PL 103-182) cho phép
USITC xác định xe nhập khẩu hàng hoá từ
Canada và Mehicô
với việc áp dụng NAFTA có gây phương hại cho công nghiệp Hoa Kỳ hay
không và kiến nghị lên TTg Hoa Kỳ biện pháp khắc phục. Các thủ tục
tiền hành như trong điều 201 của Luật Thương mại 1974 quy định.
Điều khoản 332 (19 USC 1332)
Điều khoản này nằm
trong Luật Thuế quan Hoa Kỳ 1930, cho phép USITC (trước đây là US
Tariff Commission) điều tra bất kể vụ nào liên quan đến thuế quan
bất kể do tự mình đề ra hay do đề nghị của TTg, USTR, UB tài chính
của Thượng viện hay UB Thường trực của Hạ viện. Biện pháp này áp
dụng cho cả chống trợ cấp, chống phá giá, chống hành vi buôn bán
không sòng phẳng hay theo Điều khoản 301 cho phép.
Điều khoản337 (USC 1337)
Đây là điều khoản trong Luật thuế quan Hoa Kỳ 1930 (PL
71-316) cho phép USITC theo chỉ thị của TTg áp dụng các biện pháp
cấm nhập khẩu hàng hoá liên quan đến hành vi buôn bán không sòng
phẳng. Phần lớn các trường hợp này liên quan đến bản quyền, nhãn mác
hàng hoá, đánh cắp bí quyết thương mại và vận dụng nhiều trong lĩnh
vực công nghệ.
Điều khoản 406 (19 USC 2436)
Đây là điều khoản trong Luật thương mại 1974 cho phép TTg Hoa
Kỳ hạn chế nhập khẩu hàng hoá từ các nước kinh tế phi thị trường (XHCN
cũ) nếu USITC phát hiện chúng gây hay đe doạ gây phương hại cho công
nghiệp Hoa Kỳ . Thủ tục điều tra giống như trong Điều khoản 201 quy
định. Nếu phát hiện thì trình TTg ra biện pháp khắc phục.

Luật
Helms-Burton 1996 (về bao vây/cấm vận kinh tế Cu ba)
Luật này còn gọi là luật đoàn kết
ủng hộ cho nền dân chủ ở Cuba ban hành năm 1996 chính thức hoá và mở
rộng áp dụng cấm vận kinh tế chống Cuba.
 |