 |
| |
|
 |
Tiềm năng phát triển |
|
|
1. Ngành công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm
Là ngành đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế của tỉnh, tác động mạnh vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Tạo ra sự phát triển mạnh của ngành nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và nâng cao giá trị của sản phẩm nông nghiệp qua chế biến. Tăng trưởng GTSXCN bình quân thời kỳ 1996-2005 là 16,4%, trong đó giai đoạn 1996-2000 là 12,3% và giai đoạn 2001-2005 là 20,6%. Cơ cấu của ngành giảm từ 32,9% năm 1995 xuống 23,3% năm 2000 và tăng lên 25,1% năm 2005, là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 9 ngành công nghiệp chủ yếu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Lao động của ngành đến năm 2005 có 34.393 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 8%/năm, trong đó giai đoạn 2001 – 2005 tăng nhanh, bình quân 8,2%/năm. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng giảm dần từ 20,3% năm 1995 xuống 15,5% năm 2000 và còn 10,6% năm 2005, do các ngành thu hút nhiều lao động trong thời gian qua tăng nhanh. Định hướng phát triển ngành công nghiệp CBNSTP đến 2010:
Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006–2010: 16,5%/năm, dự báo cơ cấu ngành công nghiệp chế biến sẽ giảm xuống 23,2% vào năm 2010. Định hướng phát triển công nghiệp chế biến NSTP đến 2010 có tính đến 2015 cần tập trung và một số lĩnh vực chính sau:
Sản xuất chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản. Sản xuất chế biến mía đường.
Sản xuất bột ngọt, tinh bột, sản phẩm sinh học. Sản xuất chế biến hạt điều. Sản xuất chế biến cà phê và thực phẩm bột.
Ngành chế biến thực phẩm, rau quả đóng hộp. Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010: Các dự án chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, thủy hải sản công nghiệp chất lượng cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, đảm bảo phát triển bền vững, tận dụng tiềm năng về nguyên liệu trong nước...
Đầu tư cải tạo, nâng công suất, chất lượng đường và các sản phẩm sau đường như rượu, cồn, ván ép, bánh kẹo, phân vi sinh... Đầu tư nâng công suất sản xuất bột ngọt, các dự án chế biến tinh bột cao cấp gắn với vùng nguyên liệu phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Dự án đầu tư nâng công suất sản xuất chế biến hạt điều, đầu tư các dự án chế biến thực thực phẩm cao cấp từ nhân điều như bánh kẹo nhân điều, điều rang muối, điều bọc Chocolate, chao dầu, bọc đường, dạng gia vị...
Các dự án sản xuất đồ hộp thực phẩm (chế biến thịt gia súc, gia cầm...), các dự án chế biến rau quả...Các dự án sản xuất thực phẩm dinh dưỡng dạng bột khác (gốc từ cà phê, sữa, đường, ngũ cốc...)... Các dự án sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học khác (men vi sinh, men thực phẩm...).
|
Về đầu
|
2. Ngành công nghiệp cơ khí:
Ngành công nghiệp cơ khí là ngành đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, là ngành phục vụ cho phát triển các ngành công nghiệp khác...
Tốc độ tăng trưởng GTSXCN bình quân thời kỳ 1996-2005 là 23,2%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 tăng bình quân 20,5% và giai đoạn 2001-2005 là 25,9%. Nhìn chung ngành công nghiệp cơ khí Đồng Nai tăng trưởng tương đối cao và ổn định, những năm gần đây, tình hình đầu tư vào ngành cơ khí có chiều hướng tăng rõ rệt, nhất là lĩnh vực sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy tăng nhanh (công nghiệp phụ trợ), do đó cơ cấu của ngành cũng có xu hướng tăng từ 7,6% năm 1995 lên 10,3% năm 2005. Lao động của ngành đến năm 2005 có 29.809 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 17,6%/năm. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng tăng từ 7,5% năm 1995 lên 7,6 năm 2000 và 9,2% năm 2005.
Định hướng phát triển ngành công nghiệp cơ khí đến năm 2010: Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 là: 24%/năm, dự báo cơ cấu ngành công nghiệp cơ khí đến năm 2010 chiếm tỷ trọng 13%. Định hướng phát triển ngành công nghiệp cơ khí Đồng Nai tập trung vào một số lĩnh vực chính như sau:
Phát triển các sản phẩm công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm.
Phát triển các sản phẩm công nghiệp cơ khí phục vụ các ngành công nghiệp chủ yếu. Phát triển công nghiệp cơ khí ô tô, xe máy.
Phát triển công nghiệp cơ khí gia công, chế tạo, sửa chữa máy móc thiết bị và cấu kiện trang thiết bị xây dựng.
Phát triển công nghiệp cơ khí tiêu dùng.
Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Các dự án sản xuất máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp (thiết bị cơ giới hóa khâu làm đất, chăm sóc, thu hoạch), máy móc thiết bị công nghiệp chế biến (chế biến gạo, tinh bột, thức ăn gia súc...)...
Các dự án sản xuất phụ tùng, linh kiện cho ô tô, xe máy (nhất là các phụ tùng yêu cầu kỹ thuật cao như hộp số, cầu, thân máy..,) và phục vụ các ngành công nghiệp khác....Các dự án sản xuất thiết bị phụ tùng cho cá ngành công nghiệp dệt may, giày dép, hoá chất, VLXD, sản xuất kết cấu kiện kim loại, trang thiết bị phục vụ thi công, xây dựng....
Các dự án công nghệ cao, vật liệu mới, cơ khí chính xác, đầu tư công nghệ đúc, rèn công nghệ cao để sản xuất các chi tiết phục vụ công nghiệp cơ khí chế tạo....Các dự án sản xuất thép chế tạo, thép tấm, hình lớn, kim loại màu... Các sản phẩm cơ khí cao cấp phục vụ tiêu dùng..... |
Về đầu
|
3. Ngành công nghiệp dệt may, giày dép
Là ngành công nghiệp mũi nhọn về xuất khẩu của Đồng Nai thời gian qua, sự phát triển của ngành góp phần giải quyết việc làm cho lao động, đây là ngành thu hút nhiều lao động nhất trong các ngành công nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996-2005 là 28,1%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 là 40,8% và giai đoạn 2001-2005 là 16,5%. Cơ cấu của ngành tăng từ 10,6% năm 1995 lên 23,2% năm 2000 và giảm xuống 21,1% năm 2005, là ngành chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 sau ngành công nghiệp chế biến NSTP của ngành công nghiệp Đồng Nai. Lao động của ngành đến năm 2005 có 148.278 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 17,7%/năm, trong đó giai đoạn 2001 – 2005 tăng nhanh, bình quân 18,8%/năm. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng tăng lên từ 37,2% năm 1995 lên 42% năm 2000 và 45,7% năm 2005, do thời gian qua ngành có nhiều nhà đầu tư. Đây là ngành thu hút nhiều lao động nhất trong các ngành công nghiệp, với tỷ lệ lao động như hiện nay thì việc giải quyết các vấn đề liên quan đến người lao động là hết sức khó khăn. Định hướng phát triển ngành công nghiệp dệt may, giày dép đến 2010:
Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010: 14,5%/năm, cơ cấu của ngành sẽ có xu hướng giảm dần xuống còn 17,8% năm 2010 và 11% năm 2020. Ngành dệt may và giày dép là một trong những ngành công nghiệp chủ lực và là ngành công nghiệp mũi nhọn về xuất khẩu của tỉnh, do đó tiếp tục phát triển ngành công nghiệp dệt may, giày dép nhưng phải có định hướng, phân kỳ thu hút đầu tư cho từng giai đoạn, phù hợp với xu thế phát triển chung.
Giai đoạn 2006 – 2010 song song với việc đầu tư về chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư các dự án về các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, các cụm công nghiệp....của Tỉnh, để giảm áp lực về nguồn lao động và môi trường xã hội đối với khu công nghiệp tập trung, các trung tâm công nghiệp lớn của Tỉnh, không thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp tập trung, các trung tâm đô thị.
Việc phát triển ngành dệt, may, giày dép cần phải được sự hỗ trợ, gắn với sự phát triển một số ngành công nghiệp phụ trợ như quy hoạch phát triển diện tích trồng bông xơ, phát triển sản xuất các sản phẩm phụ liệu cho ngành may như chỉ may, nhãn dệt, goòng trần, dây kéo, nút... Các loại hoá chất tẩy nhuộm để thay thế hàng nhập khẩu, thiết bị phụ tùng, dịch vụ sửa chữa, bao bì... Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp tập trung giai đoạn 2006 – 2010 như sản phẩm dệt (vải, sợi các loại...), ngành may xuất khẩu (quần áo, sản phẩm thời trang khác...), giày dép (giày thể thao, dép thời trang...).
Các dự án đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm dệt, may, giày dép.
Các dự án sản xuất các sản phẩm nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, giày dép (chế biến bông xơ, chỉ may, nhãn dệt, goòng trần, dây kéo, nút...), các dự án sản xuất các loại hoá chất tẩy nhuộm để thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất thiết bị phụ tùng, dịch vụ sửa chữa, bao bì....
Các dự án sản xuất sản phẩm phục vụ công nghiệp thời trang (sản phẩm biểu diễn thời trang, quảng cáo...).
|
Về đầu
|
4. Ngành công nghiệp hoá chất, cao su, plastic
Ngành công nghiệp hoá chất, cao su, plastic Đồng Nai là một trong những ngành có tỷ trọng tương đối lớn, với nhiều sản phẩm đa dạng phong phú phục vụ sản xuất và tiêu dùng như phân bón các loại, sản phẩm săm lốp xe, các sản phẩm từ cao su, hóa dược (cho người và động thực vật), hóa chất tiêu dùng như bột giặt, mỹ phẩm, sơn các loại, nhựa và các sản phẩm từ nhựa...
Tăng trưởng GTSXCN bình quân thời kỳ 1996-2005 là 23,4%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 tăng nhanh, bình quân 28,5% và giai đoạn 2001-2005 là 18,6%. Cơ cấu ngành tăng từ 8,6% năm 1995 lên 11,9% năm 2005.
Lao động của ngành đến năm 2005 có 19.885 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 22,3%/năm, là ngành có tốc độ tăng lao động cao trong các ngành công nghiệp, do có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất các loại sản phẩm hoá chất tiêu dùng. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng tăng từ 3,4% năm 1995 lên 6,1% năm 2005. Định hướng phát triển ngành công nghiệp hoá chất, cao su plastic đến 2010:
Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010: 18%/năm, cơ cấu của ngành tương đối ổn định mức 11,5 – 12% so với toàn ngành, dự báo tỷ trọng ngành đến năm 2010 là 11,7. Thời gian tới, tập trung phát triển một số nhóm sản phẩm chính như sau:
Phát triển các sản phẩm hoá chất phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Phát triển các sản phẩm phục vụ sản xuất công nghiệp.
Phát triển các sản phẩm tiêu dùng. Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Các dự án đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm phân bón các loại (phân lân, NPK...).
Các dự án đầu tư vào sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y...).
Kêu gọi đầu tư vào các dự án sản xuất các sản phẩm vi sinh, ứng dụng công nghệ sinh học (phân bón, men...). Đầu tư phát triển sản xuất các sản phẩm hoá chất cơ bản (các loại Axít vô cơ HCl, H2SO4, NaOH...) phục vụ sản xuất phân lân, giấy, xử lý nước...
Các dự án sản xuất các sản phẩm từ nguyên liệu cao su trong nước (săm lốp, cao su kỹ thuật, cao su tấm kỹ thuật, đệm sốp...), các dự án sản xuất cao su nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến cao su.
Thu hút đầu tư sản xuất các sản phẩm nhựa gia dụng cao cấp (dụng cụ gia đình...), dự án sản xuất nhựa kỹ thuật cao (bánh răng, chi tiết máy móc thiết bị điện tủ, khuôn mẫu...) và các dự án sản xuất các trang thiết bị bằng nhựa cho xây dựng (thùng hàng, balet, panel, coppha, ốp trần, tường...).
Khuyến khích đầu tư vào dự án công nghệ cao, vật liệu mới (composit, cao su tổng hợp, cao su chịu dầu, nhiệt, nhựa PVC, polyme nhũ tương...). |
Về đầu
|
5. Ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
Ngành công nghiệp khai thác và SXVLXD là ngành có thế mạnh của địa phương, các sản phẩm có ưu thế như khai thác, chế biến đá, cát, sét, cao lanh, vật liệu san lấp....làm nguyên vật liệu sản xuất vật liệu xây dựng như gạch ngói, gạch men, đá ốp lát, sứ vệ sinh, phụ gia xi măng, bê tông nhẹ, gốm mỹ nghệ....Tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996 - 2005 là 18,7%/năm, trong đó giai đoạn 1996 - 2000 là 12% và giai đoạn 2001 - 2005 là 25,8%. Cơ cấu trong toàn ngành giảm từ 9,6% năm 1995 xuống 6,7% năm 2000 và tăng lên 9,0% năm 2005.
Lao động của ngành đến năm 2005 có 19.653 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 4,3%/năm, trong đó giai đoạn 2001 – 2005 tăng nhanh, bình quân 8,2%/năm. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng giảm dần từ 16,6% năm 1995 xuống 8,9% năm 2000 và xuống còn 6,1% năm 2005, do các ngành thu hút nhiều lao động trong thời gian qua tăng nhanh. Định hướng phát triển ngành công nghiệp khai thác và SX VLXD đến năm 2010:
Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010: 20,0%/năm, dự báo cơ cấu của ngành những năm tới sẽ ổn định khoảng 9-10%.
Ngành công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản và sản xuất VLXD là ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh, khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, cũng là ngành thể hiện việc phát huy nội lực. Do đó định hướng phát triển của ngành tập trung vào sản xuất sản phẩm có ưu thế như khai thác, chế biến đá, cát, sét, cao lanh, vật liệu san lấp... làm nguyên vật liệu cho phát triển sản xuất vật liệu xây dựng có nhu cầu thị trường lớn như gạch xây, gạch men, đá ốp lát, gốm mỹ nghệ, sứ vệ sinh... Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy có hiệu quả các cơ sở sản xuất các sản phẩm truyền thống của địa phương như gạch, gốm mỹ nghệ....đảm bảo phát triển bền vững, đặc biệt quan tâm đến giảm thiểu tác động môi trường sinh thái. Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Các dự án sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp (gạch thạch anh, sứ vệ sinh cao cấp, gốm mỹ nghệ xuất khẩu, vật liệu chịu lửa...).
Đầu tư cải tạo, đổi mới công nghệ khai thác, chế biến đá (đá xây dựng, đá ốp lát, kỹ nghệ đá...).
Các dự án chế biến sâu và tinh đối với một số loại khoáng sản của tỉnh như sợi ba zan, keramzit làm bê tông nhẹ, làm giàu cao lanh phục vụ ngành gốm, sứ, vật liệu xây dựng không nung (gạch, ngói lợp...).
Các dự án sản xuất vật liệu mới (sứ kỹ thuật điện, điện tử, vật liệu thuỷ tinh cách điện, sứ polyme...).
|
Về đầu
|
6. Ngành công nghiệp điện và điện tử
Là một ngành mang tính công nghệ cao, gắn liền với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, sản phẩm của ngành bao gồm các sản phẩm kỹ thuật điện, thiết bị điện, điện tử, vật liệu điện, thiết bị truyền thông...
Tốc độ phát triển GTSXCN bình quân thời kỳ 1996-2005 là 20,3%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 tăng bình quân 28,4% và giai đoạn 2001-2005 là 12,7%. Trong ngành công nghiệp điện - điện tử, các sản phẩm thiết bị điện, vật liệu điện tăng trưởng tương đối ổn định, riêng sản phẩm thiết bị văn phòng, máy tính (đế, bảng mạnh điện tử) những năm gần đây, do tình hình phải cạnh tranh với hàng của Trung Quốc nên sản xuất giảm mạnh, làm ảnh hưởng đến tốc độ chung của ngành, do đó cơ cấu của ngành cũng giảm từ 14,9% năm 2000 xuống còn 11,5% năm 2005.
Lao động của ngành đến năm 2005 có 25.873 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 29,4%/năm, là ngành có tốc độ tăng lao động lớn nhất trong các ngành công nghiệp chủ yếu. Điều này cũng phần nào nói lên mặc dù công nghiệp điện, điện tử (nhất là lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử) của Đồng Nai tuy phát triển và là ngành mang tính công nghệ cao, nhưng nhìn chung vẫn còn mang nhiều tính thủ công trong sản xuất. Cơ cấu lao động tăng từ 2,5% năm 1995 lên 8,1% năm 2000 và giảm còn 8% năm 2005.
Định hướng phát triển ngành công nghiệp điện và điện tử đến 2010: Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010: 25%/năm, dự báo cơ cấu ngành công nghiệp điện - điện tử đến năm 2010 chiếm tỷ trọng 15,1% GTSXCN toàn ngành.
Định hướng phát triển ngành công nghiệp điện - điện tử tập trung vào một số lĩnh vực chính như sau: Phát triển sản xuất trang thiết bị kỹ thuật điện, vật liệu điện.
Phát triển sản xuất sản phẩm điện tử.
Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Các dự án sản xuất máy móc thiết bị điện (máy biến áp, thiết bị điện quay, điều khiển, đóng ngắt...). Các dự án sản xuất sản phẩm vật liệu điện (dây cáp, dây dẫn, dụng cụ điện chiếu sáng,...) phục vụ sản xuất, lắp ráp máy móc thiết bị công nông nghiệp, ô tô, xe máy và tiêu dùng.
Các dự án sản xuất sản linh kiện điện tử phục vụ lắp ráp các sản phẩm công nghiệp, gia dụng (thiết bị điều khiển điện tử trong các máy móc thiết bị, máy tính, ti vi, màn hình, thiết bị âm thanh, truyền thông...). Các dự án sản xuất sản phẩm điện tử hoàn chỉnh như các thiết bị tin học, thiết bị điện tử gia dụng kỹ thuật số (máy quay, chụp hình, thiết bị vô tuyến viễn thông...). Sản xuất chân tay giả bằng vi mạch điện tử phục vụ cộng đồng...
Các dự án sản xuất các sản phẩm vật liệu mới khác (vật liệu sản xuất cáp quang, cáp ngầm cao thế, vật liệu điện tử, quang tử trên cơ sở chất polyme....). |
Về đầu
|
7. Ngành công nghiệp chế biến và sản xuất gỗ
Chế biến lâm sản là một trong những ngành nghề truyền thống của Đồng Nai, thị trường xuất khẩu tương đối ổn định, nguồn lao động có kỹ thuật và giá nhân công rẻ, sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng cao, có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước. Với 80% sản phẩm sản xuất phục vụ xuất khẩu, chủ yếu xuất qua các thị trường Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật, Singapore, Malaysia... và các nước Châu Âu như Pháp, Đan Mạch, Hà Lan... Ngành công nghiệp chế biến gỗ, hàng mộc là một trong những ngành tăng nhanh trong thời gian qua, do có thị trường tiêu thụ và sự chuyển dịch từ một số quốc gia trong khu vực. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996-2005 là 26,4%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 là 9,9% và giai đoạn 2001-2005 là 45,3%. Cơ cấu của ngành tăng từ 2,1% năm 2000 lên 5,8% năm 2005.
Lao động của ngành đến năm 2005 có 38.275 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 21,1%/năm. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng tăng từ 7,2% năm 1995 lên 8,2% năm 2000 và 11,8% năm 2005. Đây cũng là ngành thu hút nhiều lao động. Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến và sản xuất gỗ đến năm 2010:
Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010: 19,5%/năm, cơ cấu của ngành ổn định mức khoảng 5%-6% so với toàn ngành. Định hướng phát triển ngành thời gian tới tập trung:
Phát huy năng lực chế biến của ngành, tiếp tục phát triển ngành chế biến hàng mộc và sản xuất đồ gỗ, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế, tận dụng nguồn nguyên liệu rừng trồng, đẩy mạnh xuất khẩu.
Khuyến khích phát triển mạnh các cơ sở sản xuất, chế biến hàng mộc ở các khu vực nông thôn, các làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất các sản phẩm bàn ghế xuất khẩu và các đồ dùng sinh hoạt khác (giường, tủ, kệ, dụng cụ nhà bếp...)
Sản xuất chế biến các sản phẩm gỗ mỹ nghệ xuất khẩu (tàu thuyền, máy bay, xe máy, giá đỡ sản phẩm...)
Các dự án sản xuất sản phẩm đồ mộc gia dụng phục vụ xuất khẩu (giường, tủ, bàn ghế, kệ, dụng cụ nhà bếp, đồ trang trí nội, ngoại thất...)
Các dự án sản xuất trang thiết bị văn phòng (bàn ghế, tủ...)
Đầu tư sản xuất các sản phẩm bằng gỗ khác phục vụ trong nước và xuất khẩu (dụng cụ âm nhạc, trang thiết bị trường học...)
Các dự án sản xuất sản phẩm từ nguyên liệu tre, nứa... (đũa, ván gép thanh, hàng đan lát thủ công mỹ nghệ...) |
Về đầu
|
8. Ngành công nghiệp giấy
Tuy là ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng không lớn, nhưng ngành công nghiệp giấy Đồng Nai có một vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp giấy cả nước, Đồng Nai cũng là một tỉnh có nhiều nhà máy SX giấy và các sản phẩm từ giấy. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996-2005 là 11,1%/năm, trong đó giai đoạn 1996-2000 là 8% và giai đoạn 2001-2005 là 14,4%. Cơ cấu của ngành có xu hướng giảm dần do các ngành công nghiệp khác phát triển mạnh hơn, tỷ trọng giảm từ 6,8% năm 1995 xuống 4% năm 2000 và 3,3% năm 2005. Lao động của ngành đến năm 2005 có 7.142 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1996 – 2005 là 7,5%/năm. Cơ cấu lao động so với toàn ngành có xu hướng giảm từ 4,5% năm 1995 xuống 2,2% năm 2005. Định hướng phát triển ngành công nghiệp giấy đến năm 2010:
Mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010: 13,4%/năm, dự báo cơ cấu của ngành sẽ có xu hướng giảm dần xuống còn 2,5% năm 2010.
Định hướng phát triển của ngành trong thời gian tới tiếp tục đầu tư chiều sâu, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, khai thác tiềm năng về nguyên liệu trong nước... để tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Các dự án thu hút đầu tư từ nay đến năm 2010:
Đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất các sản phẩm giấy các loại (giấy in báo, giấy viết, carton...)
Sản xuất chế biến các sản phẩm từ giấy (bao bì giấy, bao gói hàng, giấy vệ sinh, văn phòng phẩm giấy...) |
Về đầu
|
|  |
| |
Số 2 Nguyễn Văn Trị, Biên Hoà, Đồng Nai. ĐT: 061.3823317 Fax: 061.3823319 E-mail: scndnvn@hcm.vnn.vn
Cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Đồng Nai. Giấy phép số 26/GP-BVHTT cấp ngày 22/01/2003. Chịu trách nhiệm chính: Bà Phan Thị Mỹ Thanh - Giám đốc Sở Công Thương. |
|