Bác làm việc trong hang núi Việt Bắc, 1951

NHỮNG KỶ NIỆM VỀ BÁC HỒ

PHƯƠNG NAM (*)

"Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha"

Đó là hai câu thơ trong bài "Bác ơi !" của nhà thơ Tố Hữu viết trong những ngày cả nước để tang Bác. Nhà thơ đă khắc họa được t́nh cảm sâu nặng của Bác Hồ đối với đồng bào miền Nam và ḷng kính yêu vô hạn của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ miền Nam đối với Bác. Không một ai trong chúng ta lại không xúc động trước câu nói của Bác "Miền Nam trong trái tim tôi". Cho dù cha bao giờ được gặp Bác, nhưng quân và dân miền Nam vẫn ngày đêm hướng về phương Bắc, hướng về thủ đô Hà Nội và đặt trọn niềm tin vào sự lănh đạo sáng suốt của Bác Hồ.

Tại Đại hội chiến sĩ thi đua của quân và dân miền Đông Nam Bộ họp tại chiến khu Đ năm 1967, chiến sĩ thi đua Bùi Văn Ḥa là người có thành tích cao nhất toàn quân về số lượng tiêu diệt sinh lực địch và phá hủy nhiều bom đạn cùng phương tiện chiến tranh của chúng. Theo lời một đồng chí trong Quân khu miền Đông kể lại, hỏi bấy giờ cuộc đấu tranh "một tấc không đi, một ly không rời" chống âm mưu dồn dân vào ấp chiến lược của đỏng bào ta đang gặp khó khăn, v́ kẻ địch vô cùng tàn bạo, đêm đêm chúng bắn hàng ngàn trái pháo vào những xóm ấp của dân ở vùng tranh chấp. Đồng bào ta không thể dùng lư lẽ ǵ mà đấu với trái pháo nổ, đành lặng lẽ bỏ nhà, bỏ vườn vào ở trong các ấp chiến lược. T́nh h́nh trên được báo ra Trung ương, báo lên Bác Hồ. Bác đă chỉ đạo các lực lượng vơ trang phải t́m cách đánh vào kho bom đạn - dạ dày của địch, hạn chế việc dùng đạn pháo để gom dân của chúng. Chiến sĩ Bùi Văn Ḥa là một trong những chiến sĩ đặc công dũng cảm tuyệt vời đă liên tiếp đánh trúng vào các kho bom đạn của Mỹ ngụy tại Long B́nh. Mỗi ư chỉ đạo của Bác Hồ đều được quân và dân miền Nam quyết tâm thực hiện.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, có biết bao nhiêu lần cán bộ chiến sĩ chúng tôi quây quần bên chiếc rađio lắng nghe những lời dạy của Bác. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trường  hợp có anh chị em sa cơ bị giặc bắt, bị chúng giam cầm tra tấn rất tàn bạo vậy mà anh chị em tù chính trị vẫn gia được chiếc rađio ngay trong nhà tù, để theo dơi tin tức, giữ vững ḷng tin, tăng thêm nghị lực để đấu tranh trong trận tuyến đặc biệt này.

Càng gẳn thắng lợi, càng nhiều gian nan. Lực lượng cách mạng ngày một lớn mạnh, chúng tôi vui mừng mỗi năm thắng lợi lại to lớn hơn năm trước, và cũng có bao xót xa trước những hy sinh mất mát của bạn bè đồng đội. ở mỗi người với cương vị khác nhau chúng tôi tự xem xét lại ḿnh, chuẩn bị tốt những hành trang để bước vào năm mới. Quên sao được mỗi lần đón nghe thơ chúc Tết của Bác.

Ở cơ quan Tuyên huấn chúng tôi không khí làm việc những ngày cuối năm thật là bận rộn, cả một dây chuyền đang hối hả làm việc để tờ Giải phóng số Xuân của miền Đông kịp phát hành xuống các địa phương vào dịp Tết. Các đội chiếu phim, đoàn văn công cũng chuẩn bị chương tŕnh, tiết mục sẵn sàng có lệnh là đi phục vụ. Tại pḥng hội họa, không khí làm việc yên tĩnh hơn. Họa sĩ Hoàng Ngọc Anh đang say sưa vẽ ảnh Bác và viết thật đẹp " Bài thơ chúc Tết " của Bác. Dù tuổi cao sức yếu, họa sĩ vẫn dồn hết tâm huyết và sự kính trọng Bác vào nét vẽ của ḿnh. Từ bản vẽ chính này được chuyển sang bộ phận điện ảnh, chụp lại và in thành nhiều tấm thiệp chúc Tết trong đó có h́nh Bác và "Bài thơ chúc Tết" của Bác. Những tấm thiệp chúc Tết khổ 9x12cm này không chỉ đến với đồng bào vùng giải phóng mà c̣n đến cả vùng đô thị tạm chiếm bằng một đường dây đặc biệt mà kẻ thù không tài nào phát hiện ra được. Một sức mạnh vô h́nh từ những bài thơ chúc Tết của Bác đă biến thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân 1968 đă làm cho ư chí xâm lược của các thế lực hiếu chiến Mỹ phải lung lay. Ḷng tin vào thắng lợi chủ quan của chúng phai mờ dần và cuối cùng chỉ c̣n là giấc mộng ảo tưởng. Bài thơ Chúc Tết cuối cùng của Bác đă dừng lại trong năm 1969: ". . . V́ độc lập, v́ tự do. Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào... " Nội dung chỉ đạo trong bài thơ Xuân cuối cùng của Bác đă trở thành phương châm chiến lược cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện trong những năm cuối của chiến tranh. Và mùa xuân 1975, bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đă thực hiện trọn vẹn những lời dặn của Bác về giải phóng đất nước.

Hai mươi mốt năm qua kể từ ngày vắng Bác. Cuộc kháng chiến đă đi vào lịch sử. Trong những ngày vui lớn trong năm 1990, được xem đầy đủ những trang Di chúc của Bác, được xem những thước phim mới về Bác, ḷng chúng ta bồi hồi thương nhớ Bác không nguôi. Quên làm sao được nhang kỷ niệm hồi ấy, tại vùng căn cứ Phân Khu 4 lúc bấy giờ (bao gồm một phần của Biên Ḥa với Dĩ An, Duyên Hải, Thủ Đức và cả quận 1 trong nội ô thành phố Sài G̣n), ai c̣n lạ ǵ phản ứng của Mỹ - ngụy sau một nám bị thua đau v́ đ̣n Mậu Thân 1968. Bằng tất cả những cố gắng và tiềm lực hiện có, chúng điên cuỏng mở các trận càn quét lấn chiếm ḥng đẩy lực lượng cánh mạng ra khỏi vùng ven đô. Chúng dùng B52 dội bom hủy diệt những vùng mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng trú quân, đe dọa sự an toàn các hậu cứ của chúng. Chúng dùng xe cơ giới ủi trống các địa h́nh vùng ven, nhiều nơi lực lượng địa phương không c̣n nơi xây căn cứ đành phải sống dưới các hầm bí mật. Ven các đường giao thông bị ủi trống hàng trăm mét, địch mở các cuộc càn quét liên miền vào vùng căn cứ kể cả mùa khô lẫn mùa mưa. Các cơ quan dân-chính-đảng phân khu 4 phải di chuyển nhiều nơi: Cẩm Đường, B́nh Sơn, Sông Cả, Phước Thái, Hấc Dịch. Để đối phó với cuộc càn vào vùng căn cứ cuối tháng 8- 1969, toàn khối quyết định tạm thời rút sang vùng lộ 2 Bà Rịa. Bộ phận chúng tôi ở lại có 7 người (Tuyên huấn: 2, Thanh niên: 3, dân y: 2) vừa nuôi bệnh vừa giữ căn cứ. Tiễn đơn vị hành quân về phía đông mà tâm trạng âu lo, chúng tôi cụm lại bên căn cứ thanh niên, bàn phương án đối phó khi địch càn tới. Địch hiện đă đổ quân xuống vùng căn cứ Suối Đá Vàng (Phước Thái) cách vùng cứ Hắc Dịch chúng tôi chừng hơn chục cây số đường chim bay. T́nh h́nh như thế, thời tiết lại vào cuối mùa mưa nên quang cảnh vừa vắng vừa buồn. Đây không phải lần đâu đối phó với địch càn, nhưng các lần trước dù có phải chạy càn cũng vẫn chạy trong địa phương ḿnh, c̣n lần này đành phải lánh sang Bà Rịa :địa bàn mới, ăn ở, liên lạc và hoạt động không biết sẽ ra sao. Nằm ngủ dưới hầm cầu để tránh pháo đạn đă ba đêm trong t́nh h́nh căng thẳng như vậy, sáng nay từ lúc c̣n rất sớm, mở rađio nghe bản tin của đài Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi được tin Bác Hồ đang bệnh, giọng thông báo của xướng ngôn viên cố vẻ không b́nh thường, sáng đó tôi không nhớ rơ ngày 31- 8 hay 1- 9. Hôm sau nghe tường thuật lễ quốc khánh 2- 9, đài báo Bác bệnh không ra dự lễ được, nỗi lo về Bác mỗi lúc một tăng, một nỗi lo chung mà không ai dám nói. Thế rồi một tin không vui ập đến: Bác rồi mất thật rồi ! Một sự đau buồn, thương nhớ lớn lao bao trùm lên tất cả chúng tôi.

T́nh h́nh chiến sự tạm lắng trong tuần lễ cả nước để tang Bác, các cơ quan tạm lánh sang Bà Rịa đă trở về. Chúng tôi phối hợp tổ chức lễ truy điệu Bác tại căn cứ Bàu Lùng - Hắc Dịch. Nhiều người đă không cầm được nước mắt. Một nỗi đau buồn vô hạn bao trùm lên hết thẩy mọi người, phần th́ thương tiếc Bác, phần th́ lo lắng cho cuộc kháng chiến này, thiếu Bác Hồ là thiếu một nhà chỉ đạo chiến lược lỗi lạc. Đành rằng Bác đă rất chu đáo để lại cho toàn Đảng , toàn dân ta một bản Di chúc - Đây là tài sản vô giá, là tư tưởng chỉ đạo cách mạng Việt Nam vững bước đi lên đánh thắng Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Được sinh ra và lớn lên tại Thủ đô, có dịp may được nh́n thấy Bác, tôi nghĩ đây không chỉ là t́nh cảm riêng tư, mà c̣n là nỗi niềm chung của chúng tôi hồi đó.

Tôi nhớ rất rơ vào đầu năm 1961 hồi c̣n ở bộ đội có một lần về phép tôi được gặp Bác đi trồng cây tại công viên Thanh Niên, tôi đă ḥa ḿnh vào đoàn người xem Bác trồng cây đến nỗi bị lơ xe không về được nhà trong ngày phép Tết. Một lần khác vào dịp tháng 9- 1964, tôi được cử là đại biểu cho Đoàn Thanh niên Lao động của Trường Mỹ thuật Việt Nam về dự Đại hội thanh niên Thủ đô làm theo lời Bác. Đại hội được tổ chức tại trường Đại học ngoại ngữ. Niềm vui đă đến với chúng tôi, ban tổ chức Đại hội báo tin đồng chí Bí thư Thành đoàn đă đi đón Bác. Cả hội trường chúng tôi hồi hộp chờ đợi, là thanh niên hỏi ấy ai mà chẳng mong ước có dịp được gặp Bác. Bác Hồ đến ! Chúng tôi đứng dậy mừng vui, tiếng vỗ tay vang lên liên hỏi, tất cả đều chăm chú nh́n về phía Bác, Bác hiện ra trong bộ đồ lụa màu gụ quen thuộc và gần gũi, vẫn đôi dép cao su giản  dị. Bác tươi cười vẫy chào chúng tôi và bước lên hàng ghế Đoàn chủ tịch Đại hội . Bác lướt nh́n chúng tôi khắp lượt rồi ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Bác biểu dương phong trào thanh niên Thủ đô, Bác hỏi đồng chí Bí thư Thành đoàn đă có bao nhiêu đoàn viên thanh niên tham gia phong trào "Ba sẵn sàng". Đổng chí Bí thư Thành đoàn c̣n lúng túng chưa trả lời được, th́ Bác đă nói tiếp sang chuyện khác. Tôi nhớ đại ư Bác khen các cháu thiếu nhi thật giỏi, nhiều cháu đă được Bác tặng huy hiệu về thành tích học giỏi. Bác lại hỏi ở đây có ai là thầy cô giáo không, có tiếng đáp lên: "Thưa Bác có ạ !". Bác muốn biết học sinh cấp 2 học bao nhiêu môn ?. Lại một sự lúng túng chưa ai trả lời được. Bác lại tiếp tục nói những học sinh học giỏi được nhận phần thưởng của Bác, các cháu thiệt là giỏi. Đoàn thanh niên cần quan tâm đến công tác thiếu nhi.... Cuộc nói chuyện diễn ra chỉ trong ṿng 15 đến 20 phút, không khí rất thân thiết, gần gũi không có ǵ ngăn cách. Nói chuyện xong Bác ra về, chúng tôi ùa ra tiễn Bác. Mặc dù tôi ngồi ở ghế số 2 hàng 1, không gần lối ra, nhường tôi đă nhanh chân và len được vào ṿng trong gần Bác, lần đầu tiên và cũng là lần cuối tôi được gần Bác và được ngắm nh́n Bác thỏa thích . Cho đến nay tấm thẻ đại biểu màu vàng chữ đỏ của tôi hỏi ấy vẫn được giữ cẩn thận, đây là vật kỷ niệm đáng ghi nhớ trong tuổi thanh niên của ḿnh. Tôi vừa kể vừa thương Bác và không kèm được tiếng khóc làm nhiều người cũng xúc động khóc theo.

Từ năm 1970 về sau, cứ mỗi lần gặp khó khăn chúng tôi lại nghĩ đến Bác, nhắc nhở nhau quyết tâm thực hiện cho bằng được những ước mơ trong Di chúc của Người. Vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác. Nhớ Bác chúng cháu thầm thưa với Bác : Khó khăn vẫn c̣n nhiều, nhưng dù sao đất nước ta đă sạch bóng quân thù, với 15 năm xây dựng, trên mảnh đất miền Đông bây giờ đă có nhà máy thủy điện Trị An, ngoài khơi biển Đông đă có dầu khí. T́nh h́nh dù phức tạp đến đâu chúng cháu vẫn dứt khoát đi theo con đường của Bác Hồ đă chọn.

Biên Ḥa. 1990

P. N

(*) Tên thật là Nguyễn Nam Ngữ, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Đồng Nai. Hiện là Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai.