![]() |
| Bác nghỉ chân bên gốc Thông - Thái Nguyên, 1955 |
|
GIỮ MĂI TẤM ẢNH BÁC Linh mục NGUYỄN KIM ĐOAN (*) Tôi c̣n nhớ ngày ấy vào tháng 8- 1974, thầy Ḥe từ Dốc Mơ đến gặp tôi - lúc ấy là phó giáo xứ Gia Kiệm, thầy nói: - Thưa cha, con có cái này cho cha coi. Thầy mở cặp lấy ra ba tấm ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh in trên giấy màu cỡ bằng cuốn tập 100 trang. - Ở đâu thầy có mấy tấm ảnh này? Tôi ngạc nhiên hỏi. - Thưa cha, viên trung tá Đăng ở chi khu Kiệm Tân đưa cho con. Hắn nói đêm qua bọn lính chi khu đi càn quét vùng Cây Gáo đă bắt được xấp h́nh của ông Hồ. Tôi thầm nghĩ. À ! Th́ ra đây là chân dung của một lănh tụ ở miền Bắc mà đài phương Tây vẫn thường nhắc đến và ca ngợi về tài, đức. Báo chí phương Tây đă từng nói, từng viết về Người, từng đăng trang trọng ảnh của Người. Thế th́ tại sao ḿnh lại không giữ một tấm để làm kỷ niệm. Tôi tự nhủ như vậy và xin thầy Ḥe một tấm ảnh của Người. Tôi cẩn thận đặt tấm ảnh vào giữa chiếc cặp giấy, lúc nào cũng để trên bàn làm việc. * * * Tôi rời miền Bắc vào Nam lúc mới 12- 13 tuổi, tuổi niên thiếu thật vô tư với thời cuộc, càng không hiểu về Hồ Chủ Tịch, về cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp mà Người đă lănh đạo. Tuổi thanh niên của tôi lớn lên ở miền Nam, trong các nhà trường, chủng viện học tập theo lư tưởng của Chúa Ki-Tô. Tháng 5 năm 1969, tôi thụ phong chức Linh mục về làm phụ tá cho cha xứ Phương Lâm (Định Quán). Xứ của tôi nằm ở trên quốc lộ 20 nối Sài G̣n- Đà Lạt, lúc này là nơi hoạt động thường xuyên của Đoàn hậu cần 814 (1) để vận chuyển, tiếp nhận, thu mua hàng hóa cho lực lượng cách mạng. Ở đây, việc tiếp xúc giữa giáo dân đi làm rẫy, làm rừng và quân giải phóng cũng không phải là việc lạ. Một đôi lần, t́nh cờ tôi đă gặp được anh em quân giải phóng (lúc đó cũng không biết là du kích hay quân chủ lực). Họ trẻ tuổi, nói năng nhỏ nhẹ, hiền lành khác hẳn những ǵ bộ máy tuyên truyền của chính quyền Sài G̣n vẫn ra rả về "Việt Cộng". Một đêm tháng 9-1969, tôi mở đài Hà Nội, chỉ nhằm nghe tin tức về miền Bắc, về quê hương mà với tôi lúc ấy đă là quá khứ không biết bao giờ mới có dịp về lại. Hơn nữa, một số giáo dân qua nghe đài phương Tây đă cho tôi biết tin: ông Hồ, vị lănh tụ ở miền Bắc đă mất. Tôi chợt nghe được bài điếu văn của cố Tổng bí thư Lê Duẩn trong buổi lễ truy điệu Hồ Chủ Tịch. Thế là Người đă đi xa! Một người suốt cuộc đời phấn đấu cho lư tưởng độc lập, tự do, thống nhất đất nước như tôi được nghe trong bài điếu văn) thật đáng khâm phục. Tiếng khóc rưng rức của đồng bào miền Bắc qua làn sóng điện, càng làm tôi cảm nhận được tấm ḷng của nhân dân với Người. Tôi nhớ măi ngày Hồ Chủ Tịch đi xa bởi một sự trùng hợp ngẫu nhiên: Năm tôi thụ chức Linh mục cũng là năm Người về cơi vĩnh hằng. Ngày tôi giữ tấm ảnh Hồ Chủ Tịch, Người mất đă 5 năm, cũng là ngày quân giải phóng miền Nam chuẩn bị vào chiến dịch mới. Rồi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất. Ngày 30-04-1975, tôi lấy tấm ảnh lưu giữ bấy lâu cho vào khung ảnh để đứng trước bàn làm việc. Ngày tôi có thể công khai chưng ảnh Bác là ngày miền Nam vui ngày giải phóng với nỗi niềm ray rứt: Không c̣n dịp để đón Người vào thăm miền Nam. Gần đây có dịp ra họp ngoài Bắc, tôi được vinh dự vào thăm Phủ Chủ Tịch- nơi Người làm việc lúc sinh thời, thăm Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Những di vật đời thường của Hồ Chủ Tịch trong viện bảo tàng càng làm nổi rơ một tâm hồn vĩ đại trong cuộc đời thường giản dị, đơn sơ. Viện bảo tàng c̣n rất nhiều kỷ vật về Người từ mọi miền đất nước đưa về. Tôi tự nhủ: Tấm ảnh tôi lưu giữ tuy không phải do Người tặng, nhưng đó là một kỷ vật măi măi quư với tôi. Nguyện vọng của tôi là tặng lại Bảo tàng tỉnh Đồng Nai, để tấm ảnh trở thành một kỷ vật, một tấm ḷng của nhân dân với Người. TRẦN QUANG TOẠI ghi. (*) Chánh xứ giáo xứ Bùi Thượng (1) Sau này khi miền Nam giải phóng tôi mới biết đoàn hậu cần đó mang phiên hiệu 814. |