Anh hùng Trịnh Xuân Thiều sinh năm 1947, dân
tộc Kinh, quê ở xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi được
tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chính trị viên đại đội đặc
công, đại đội 11, tiểu đoàn 3, trung đoàn 316, Quân khu 7.
Từ tháng 3 năm 1968 đến cuối năm 1974, Trịnh
Xuân Thiều làm nhiệm vụ đánh tàu địch ở Trị Thiên, Nam Bộ và giúp cách
mạng Cam-pu-chia. Đồng chí đã chỉ huy tổ đánh chìm 7 tàu, có 1 tàu trọng
tải 8.000 tấn. Đêm 18 tháng 5 năm 1972, Trịnh Xuân Thiều và 1 đồng chí
nữa đánh tàu tại cảng Phnôm Pênh (Cam-pu-chia). Ở đây địch phòng thủ rất
chặt chẽ, tuần tiễu, bắn pháo sáng liên tục, anh vẫn động viên đồng đội
cùng mình tìm cách lọt vào cảng, lựa thế đặt khối thuốc nổ đánh chìm 2
tàu địch (1 tàu vận tải, 1 tàu tuần tiễu). Ngày 4 tháng 8 năm 1972,
Trịnh Xuân Thiều đánh cảng Phnôm Pênh lần thứ hai, tuy gặp khó khăn hơn
lần trước vì địch tăng cường phòng thủ, phải bơi xa 20 km mới tới mục
tiêu. Anh đã đưa cả tổ vào đúng như phương án, riêng Thiều cùng 1 đồng
đội đánh chìm chiếc tàu 8.000 tấn. Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng đến năm 1978, Trịnh Xuân Thiều là chính trị viên đại đội 11, anh
đã góp phần tích cực xây dựng đơn vị làm tốt công tác truy quét tàn binh
địch, bảo vệ trị an, tuyên truyền vận động quần chúng chấp hành nghiêm
túc các chính sách, kỷ luật được nhân dân tín nhiệm.
Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng
ba, nhiều bằng và giấy khen. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Trịnh Xuân Thiều
được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
SÓNG DẬY MÊ-KÔNG
LÂM YÊN
Vào
thế kỷ XII – XIII vó ngựa kỵ binh Mông Cổ đã từng dày xéo tan tành hàng
trăm kinh thành các nước từ Á sang Âu. Ba lần chúng thảm bại. Hai dũng
tướng Yết Kiêu, Dã Tượng của Đức Trần Hưng Đạo với tài bơi lặn xuất
chúng, đã đục thủng nhiều chiến thuyền Nguyên Mông, diệt nhiều sinh lực
địch, lập công lớn. Có thể coi hai vị tướng này là người khai sinh lối
đánh đặc công thủy của cha ông ta cách nay bảy, tám thế kỷ.
Năm 1967, Trịnh Xuân Thiều 21 tuổi, đang học
trường Trung cấp Thủy lợi Thanh Hóa sơ tán ở huyện Thiệu Hóa. Lớp anh đi
thực tập trong chiến dịch làm bờ vùng bờ thửa, đảm bảo chủ động tưới
tiêu cho xã Thiệu Sơn trong huyện. Nhớ mãi ngày cuối tháng 12 năm đó,
anh cùng mấy bạn được cử về trường lấy gạo cho lớp đang thực tập dưới xã,
cả nhóm vừa chân ướt chân ráo về tới nơi, thầy hiệu trưởng cho mời vào
văn phòng:
– Mấy em về lấy gạo vào đây. Thế có thích đi
bộ đội không?
– Dạ, thích.
Hồi ấy, cả miền Bắc cao trào chống Mỹ, cứu
nước. Các phong trào “ba sẵn sàng”, “ba đảm đang” biểu lộ khí thế sục
sôi hăng hái yêu nước của thanh niên nam nữ từ vùng xuôi đến miền núi.
Các chàng trai, cô gái đều cảm thấy vinh dự khi được gia nhập bộ đội,
chí ít là thanh niên xung phong hỏa tuyến. Hiện tượng thanh niên thiếu
tuổi (mới 16, 17) vẫn nằn nì xã đội huyện đội vào ban khám tuyển xin
được nhập ngũ khá phổ biến. Có cậu mặt toàn lông măng, thiếu cân lén dằn
cục đá trong túi quần cho đủ trọng lượng; nhiều người viết quyết tâm thư
bằng máu... Giá như từng địa phương giữ gìn tốt những lá đơn này, hẳn đó
là những vật chứng vô giá một thời, có tác dụng giáo dục tư tưởng sâu
sắc, sinh động hơn nhiều trang sách.
Ty Thủy lợi Thanh Hóa còn thiếu sáu chỉ tiêu
nghĩa vụ quân sự, một tổ gồm mấy y bác sĩ và cán bộ tỉnh đội được cử
xuống trường khám tuyển học sinh lựa cho đủ số quân giao nộp. 3 giờ
chiều, Thiều và các bạn được cân đo, xem xét kỹ lưỡng thể trạng. Qua mỗi
bàn khám, thấy mấy anh y sĩ, bác sĩ mặc áo choàng trắng ghi chữ A vào
phiếu, Thiều thấy rộn niềm vui: mình sắp trở thành anh bộ đội Cụ Hồ như
lớp cha anh đi trước. Sáu giờ tối, cả nhóm được thầy hiệu trưởng báo:
mấy em đã trúng tuyển. Nhà trường mời cơm thân mật 6 tân binh rồi bàn
giao luôn cho đơn vị. Các chàng trai không có thời giờ về thăm gia đình,
cũng không kịp chia tay với bạn bè cùng lớp thì được lệnh lên đường.
Thiều và các chiến sĩ mới trúng tuyển gia nhập Sư đoàn 338. Đơn vị hành
quân đêm từ Thiệu Hóa lên Ngọc Lạc. Vai đeo chiếc ba lô ngụy trang cành
lá chất mấy viên gạch, lần đầu tiên họ hiểu thế nào là rèn luyện chuẩn
bị đi chiến đấu. Tại đây, mọi người học điều lệnh trong một tuần rồi
nhằm thẳng phương Nam vào chiến trường.
Hành trang của người lính hồi đó rất đơn
giản: chiếc mũ cối, hai bộ kaki Tô Châu, tăng, võng, một khẩu AK và vài
băng đạn, một ruột tượng gạo... Dọc đường hành quân, cảnh núi sông hùng
vĩ tươi đẹp trải ra trước mắt. Xen vào đó chứng kiến những xóm làng tan
hoang với những hố bom Mỹ sâu hoắm, bờ tre, bụi chuối xát xơ phơ phất
tán lá rách tướp úa vàng hoặc sạm đen, những cây cầu nhỏ gục đổ... Chính
trị viên là thủ trưởng đơn vị lấy những thực tế bày ra trước mắt để giáo
dục chiến sĩ khiến mọi người thấy rõ: hễ đất nước ta còn một tên xâm
lược thì chúng ta phải quyết sạch chúng nó đi! Ngày nghỉ, đêm đi để
tránh máy bay địch trên đoạn đầu đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại,
Thiều và đồng đội lần lượt đặt chân qua các địa danh nổi tiếng: ngã ba
Đồng Lộc (Hà Tĩnh), phà Long Đại (Quảng Bình), Bến Hải... Càng đi về
phía Nam, mức độ ác liệt của chiến tranh càng phơi bày rõ. Không xóm
làng nào nguyên vẹn, không cánh đồng nào không có vết tích hố đạn bom.
Nhiều địa điểm hố bom chồng lên nhau ken dày như mắt sàng. Máy bay địch
đêm ngày vần vũ quần đảo khống chế hòng làm chủ bầu trời.
Các anh ăn Tết Mậu Thân trên dọc đường khi
chưa tới sông Bến Hải. Lúc đặt chân đến bờ sông lịch sử tạm thời là ranh
giới chia cắt hai miền đất nước, Thiều hơi lạ. Tưởng sông Bến Hải lớn
thế nào, chứ lại là dòng nước nhỏ cạn thế này sao? Anh nhớ đến tuổi thơ
gắn bó với dòng sông Mã quê hương, mùa lạnh này nước cũng chảy liu riu
như sông này, song mùa lũ nước lồng lên quá ngựa phi nước đại! Anh nhớ
đến cha mẹ, các em, các thầy và bạn... không kịp chia tay trước một
chuyến đi xa chưa biết bao giờ mới gặp lại.
Tháng giêng âm lịch Mậu Thân 1968, đơn vị
Thiều vào tới căn cứ của Sư đoàn Quyết Thắng ở bờ Nam sông Bến Hải. Hàng
rào điện tử Mac-Namara mà Mỹ tốn công quảng cáo đầy hù dọa hóa ra bị bộ
đội ta chọc thủng không mấy khó khăn. Khi đi ngang cửa mở, Thiều thấy
nhiều lớp rào kẽm gai dày từ vài chục mét trở lên, anh được thông báo
dưới lòng đất ẩn chứa hàng triệu trái mìn đe dọa gây chết bất ngờ. Đơn
vị Thiều phân ra từng đại đội, trung đội thay nhau đi chiến đấu. Anh nhớ
lần ra trận đầu tiên trong đời: nhận nhiệm vụ diệt một tên ác ôn trong
thị xã Đông Hà (Quảng Trị). Tổ ba người áp sát nhà tên đó thì lũ chó
becgiê trong nhà sủa vang báo động. Tên ác ôn chuồn mất bằng cửa sau.
Đơn vị Thiều nằm trong lòng địch thường đánh
phục kích, chống càn... ít tổn thất do bom đạn của xe tăng, máy bay địch.
Anh nghe nói một tiểu đoàn khác cùng trung đoàn được phái xuống tác
chiến ở vùng cát (ven biển) liên tục bị địch tập trung lực lượng càn bố,
cuối cùng chỉ còn vài đồng chí. Anh tham gia đánh nhiều trận lớn nhỏ ở
Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cù Dinh, Ba De... ven hàng rào điện tử Mac Namana,
bắn cháy một xe tăng Mỹ, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt tăng. Cuối năm 1968,
anh được kết nạp Đảng.
Tiểu đoàn anh được lệnh rút ra xã Vĩnh Chấp
ở bờ Bắc sông Bến Hải; ăn cơm miền Bắc, đánh giặc miền Nam, thỉnh thoảng
phái một đơn vị nhỏ thọc qua bờ bên kia. Tuy chúng dùng bom pháo bắn
không kể giờ giấc hòng ngăn ta qua lại giới tuyến không tồn tại trên
thực tế, song đơn vị Thiều tổn thất không đáng kể trong những lần xuất
kích, nhưng lại thiệt hại đáng kể về quân số xảy ra lúc anh em đi lấy
lương thực, thực phẩm ở nông trường Quyết Thắng ở vùng đồi phía tây Vĩnh
Linh. Một lần anh chứng kiến có khoảng bốn chục anh em đơn vị khác đi
làm nhiệm vụ này trúng bom rải thảm, hy sinh gần một nửa. Vĩnh Linh từng
được mệnh danh là tuyến lửa thật không sai. Ban ngày, trên mặt đất hầu
như không có vật gì chuyển động mà lọt qua mắt cú vọ của máy bay, tàu
chiến và bọn Mỹ ở bờ Nam nhìn qua. Thế là những cơn mưa bom pháo từ máy
bay, tàu chiến ở ngoài khơi và các dàn pháo bờ Nam sẵn sàng dập tới tấp
bóp chết mọi biểu hiện của cái sống trên vùng đất nham nhở hố chồng lên
hố giống như Mặt Trăng. Bộ đội nhân dân vùng tuyến lửa chủ yếu sống
trong lòng vùng địa đạo dài nhiều cây số, nối từ xã nọ tới xã kia... Kỳ
diệu thay, người ta vẫn sống, công tác, chiến đấu, yêu đương, sinh con
đẻ cái trong lòng đất mẹ. Thiều và đồng đội vẫn có lúc chuyện tếu, vui
đùa sôi nổi mặc cho bom pháo lộng óc, tiếng máy bay Mỹ quần đảo gầm rú
nhức tai.
Tháng 9 năm 1969, Sư đoàn Quyết Thắng được
lệnh chọn ra 190 đồng chí đảng viên đã kinh qua chiến đấu theo yêu cầu
đặc biệt của Bộ Tư lệnh hải quân. Trịnh Xuân Thiều nằm trong danh sách
này. Các anh đi bộ theo đường số 1 ngược ra Bắc. Dọc đường đi, nguy hiểm
không ít: pháo tàu chiến từ biển nã vào bờ, máy bay ném bom xuống những
nơi chúng nghi vấn... Tới Vinh, đoàn lên xe lửa ra Hà Nội rồi xuống Hải
Phòng. Để tránh máy bay địch, tàu toàn chạy đêm mà cũng không đỗ các ga
nên khi đi ngang Thanh Hóa, Thiều không nhận ra quê hương mình.
Các anh biên chế vào Lữ đoàn 126 được huấn
luyện làm bộ độ đặc công thủy. Sách báo nhiều nước gọi đây là binh chủng
người nhái vì lính được huấn luyện để chuyên chiến đấu dưới nước. Người
nhái của các nước được tuyển lựa khe khắt về sức khỏe, trải qua đợt huấn
luyện dài, sử dụng thành thạo mọi khí tài trang bị: mặt nạ, bình ôxy,
các loại vũ khí... họ được trả lương rất cao để sẵn sàng chết, khi đi
làm nhiệm vụ được hưởng những khoản phụ cấp lớn, tiền là động lực thúc
đẩy người nhái hành động. Bộ đội đặc công thủy của ta lấy tiêu chuẩn
chính trị là hàng đầu. Khi vào Đảng, mỗi đồng chí đã tuyên thệ suốt đời
hy sinh phấn đấu vì sự nghiệp của Đảng, nên tỷ lệ Đảng viên của khóa
Thiều rất cao.
Trong số anh em được chọn để trở thành Yết
Kiêu, Dã Tượng thời đại Hồ Chí Minh, có một số chưa biết bơi. Anh em nói
vui đó là mấy đồng đội lặn nổi, bơi chìm, phải tập từ cơ bản trở đi. Đắp
ụ cát ở ven sông, mấy anh đó tập động tác quơ chân tay phối hợp như con
nhái mấy ngày liền cho thuần thục. Xuống nước ở chỗ cạn, một người đỡ
bụng cho bạn nằm thăng bằng để tập bơi quãng ngắn. Đang trẻ tuổi rất
sung sức, các anh tiến bộ rất nhanh, bơi vài trăm mét dễ dàng.
Tháng 11 năm 1969, đơn vị ra Tiên Yên (Quảng
Ninh) huấn luyện tiếp. Các anh bơi qua con sông này không chút khó khăn.
Ngày nào cũng ra thao trường, dù gió mùa đông bắc tràn về, bài tập vẫn
tiến hành bình thường. Để bồi dưỡng sức khỏe cho lính, các anh hưởng chế
độ tiểu táo ngày ăn 2 đồng 7 hào (trong khi bộ binh chỉ ăn 7 hào rưỡi).
Ở dưới nước lên bờ là có bánh kẹo, sữa... bồi dưỡng ngay nên Thiều vượt
qua con số 45 kilô ngày mới nhập ngũ: da đen giòn, sắc diện hồng hào, cơ
bắp nở nang... Tháng 1 năm 1970 có khi trời lạnh 12oC mà toàn đơn vị sau
khi khởi động cho nóng người vẫn bình thản nhảy ùm xuống nước vẫy vùng
hàng chục cây số dọc con sông nhỏ nước lợ ra tới cửa biển nước trong
xanh mặn chát – ở ngoài này nước ấm hơn một chút. Đánh nhái là khoa mục
khó, học viên nằm ngửa không được khua khắng chân tay khi cảm thấy sắp
chìm lỉm. Mới đầu các anh chỉ gượng được một phút, sau nâng dần lên năm
phút, mười phút... rồi mấy giờ liền tới cả buổi là cả một quá trình khổ
luyện. Bơi cho trúng mục tiêu (cọc hoặc đèn hiệu) mất hàng tháng, tiếp
đó tập mang theo trái mìn hàng chục ki-lô-gam trở lên....
Tập thuần thục ở Tiên Yên mấy tháng, đơn vị
Thiều chuyển về Núi Đèo (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng). Các anh tiếp tục
rèn luyện trên sông Giá, sông Đá Bạc cho tới sông Chanh, trên vùng sông
nước hồi thế kỷ 13 quân dân nhà Trần lập chiến công Bạch Đằng lừng lẫy.
Rồi bơi đoạn bến Bính, bến Kiều xuôi ra tận cửa Nam Triệu... Tiếp đó,
các anh hai lần tập bơi từ Cát Bà tới Đồ Sơn trên quãng đường biển mấy
chục cây số, trong đội hình hành tiến chiến đấu. Với sức lực hoàn toàn
sung mãn của tuổi trẻ chưa ai quá tuổi ba mươi, lại được lãnh đạo Lữ
đoàn 126 hải quân quan tâm bồi dưỡng thích đáng, các anh đã vượt qua thử
thách không mấy khó khăn. Bơi trên biển khác bơi ở sông vì có sóng lớn,
biết nương chiều sóng gió và như thể vượt quãng đường dài hơn thế.
Sau đúng một năm tập luyện, gần hai trăm
“Yết Kiêu” có thể sống dưới nước, bơi và chiến đấu nhiều giờ liền trong
nhiều tình huống khác nhau. Tháng 10 năm 1970, Thiều được tranh thủ về
thăm nhà 15 ngày. Gia đình, làng xóm vui mừng đón anh. Anh thấy quê anh
nổi lên điều khác lạ: thôn làng chủ yếu là đàn bà trẻ em; số đàn ông
đứng tuổi không nhiều. Phụ nữ đảm đang mọi việc đồng áng, có những tổ
phụ lão trực chiến bắn máy bay tầm thấp bằng súng bộ binh...
15 ngày ở quê trôi rất nhanh, nhiều chuyện
chưa kịp nói, chưa kịp hỏi thì Thiều phải trở về đơn vị mang phiên hiệu
mới 2202. Anh lại lên xe lửa vào Vinh rồi theo đường Hồ Chí Minh thẳng
tiến về Nam. Đường rộng hơn song máy bay địch hoạt động ráo riết hơn. Vô
số các xe ô tô của ta ngổn ngang bên đường. Những vạt núi trơ đá xám,
những dòng suối không còn bụi lá... Các anh cứ đi ba ngày thì nghỉ một
ngày, ăn uống trên đường dây giao liên không như hồi còn huấn luyện.
Bệnh sốt rét không buông tha bất cứ cán bộ, chiến sĩ nào hành quân trên
đường Hồ Chí Minh. Một số đồng đội sốt nặng không theo kịp đơn vị, phải
gửi lại các trạm dọc đường. Hễ cắt cơn sốt, anh em lại lò dò chống gậy
đi từng bước trên con đường ngàn dặm. Tháng 6 năm 1971, Thiều vào tới
C40 ở biên giới Lộc Ninh; chờ thêm một tháng, những người rớt dọc đường
mới vào đủ. Cũng may. tổn thất vì bệnh tật, bom pháo địch dọc đường
không đáng kể (trong khi đó có những đơn vị gần như bị xóa sổ vì bệnh,
vì bom pháo đánh trúng đội hình...)
Quân số của Đoàn 2202 vào đủ, chia làm ba
đội. Đội 22 của Thiều có gần 30 chiến sĩ, đội trưởng là đồng chí Thu,
đội phó chính trị là đồng chí Khanh được lệnh qua tỉnh Kông pông Chàm,
phiên chế vào Lữ đoàn 367 của đồng chí Tống Viết Dương (sau này được
phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân). Căn cứ của đội
đặc công nước 22 ở vùng căn cứ an toàn. Đó là nơi có Việt kiều cư ngụ
thành xóm nhỏ, cuộc sống không nghèo nhưng cũng không giàu. Một số làm
ruộng, song ít ruộng một số đánh cá trên sông MêKông. Từ thời Xi-ha-núc,
nhà cầm quyền Cam-pu-chia cấm người nước ngoài làm nhiều nghề, vì thế số
Việt kiều mà Thiều sống gần chỉ đủ ăn. Cũng có lúc chiến sĩ ta sống với
dân Khơme, cuộc sống của họ khá giả hơn. Quân với dân như cá với nước,
đó không phải là khẩu hiệu chính trị mà là phương châm chiến lược của bộ
đội ta. Huyền thoại Hi-la cổ kể: thần Ăngtê đánh nhau với dũng sĩ
Hécquyn khi bị chết, vừa ngã xuống đất là được thần Đất Mẹ làm hồi sinh,
tiếp tục chiến đấu bình thường. Sống chung với nhân dân, dù là dân Việt
hay Khơme, bộ đội ta giống như thần Ăngtê đứng chân trên Đất Mẹ.
Thiều được đề bạt lên trung đội phó sau khi
tới căn cứ của đơn vị đặt ở đất bạn. Ngày 5 tháng 8 năm 1971, theo chỉ
đạo của cấp trên, anh Khanh nói:
– Thiều là đảng viên, khi huấn luyện ở ngoài
Bắc đạt loại giỏi, hãy đi đánh trận đầu thử sức để kỷ niệm ngày truyền
thống của bộ đội hải quân...
Mục tiêu là chiếc xà lan chở lính Lon – non
đậu ở cạnh bót địch. Cơ sở từ bên trong báo ra, lại gởi kèm sơ đồ khá tỉ
mỉ. Một tổ trinh sát dẫn đường cho Thiều và Long ra tới bờ sông Mê Kông,
phía thượng nguồn, cách bót giặc hơn một cây số. Các anh ôm trái mìn rùa
18 kg, (mìn nam châm mang từ miền Bắc vào) gắn phao (để trái mìn nổi lập
lờ dưới mặt nước chừng bốn tấc), miệng ngậm ống thở, bơi xuôi theo dòng
nước chảy mạnh. Các anh đi đánh đầy khí thế, tin tưởng ở kỹ thuật đã học.
Đèn trong bót sáng trưng, bờ sông đoạn đó thoai thoải nên mép nước ra
tới chiếc xà lan khá xa, bóng xà lan đổ ra phía giữa sông. Khác với sông
Mã quê hương, sông MêKông có vô số đám lục bình to nhỏ trôi theo dòng
nước. Vì thế, lính địch càng khó quan sát đầu ống thở chỉ nhô khỏi mặt
nước hơn gang tay. Thiều bơi trước giong trái mìn, Long bơi sau cầm cuối
sợi dây buộc mìn; cả hai chẳng mất sức mấy vì nước đẩy các anh cùng trái
mìn tiến dần về phía mục tiêu. Khi áp mạnh xà lan, Thiều đặt trái mìn
giữa hông tàu rồi điểm hỏa ngòi nổ hẹn 2 tiếng. Hai người rời mục tiêu,
tiếp tục thả trôi theo dòng khoảng vài cây số thì tấp vào điểm cơ sở hẹn
đón. Rồi một tổ khác dẫn về căn cứ. Hôm sau, cơ sở mật trong lòng địch
báo: chiếc xà lan bị đánh chìm. Đài phát thanh Phnôm-pênh cũng loan tin:
Việt cộng đánh chìm một xà lan quân sự của quân đội Cộng hòa Cam-pu-chia.
Thiều được tặng giấy khen của chỉ huy Lữ đoàn 367. Trận này giống như
một lần tập dượt bình thường trước kia, không có gì nguy hiểm. Rồi anh
lại nằm chờ để các đồng đội lần lượt ra trận thử lửa.
Sau đó mấy tháng, đến lượt Thiều được cử đi
đánh một trận ở cảng sông Kông-pông-chàm. Cơ sở mật báo tin ra đồng thời
kèm sơ đồ vị trí chiếc tàu địch ở khúc sông đó. Hai anh ôm mìn, bơi theo
dòng nước âm ấm, chảy chậm hơn vì đã vào mùa khô. Bầu trời đêm quang mây,
hàng trăm ngôi sao lấp lánh, ánh điện từ trên cảng chiếu sáng dọc chiều
dài mấy trăm mét. Trên sông, ca nô tuần tra của lính chạy một vòng ngắn
rồi tấp bến nghỉ. Thiều và Long căng mắt quan sát, song không có chiếc
tàu nào. Không thấy mục tiêu, các anh tiếp tục thả trôi dòng rồi đến
điểm hẹn của cơ sở thì lên bờ về căn cứ. Trận đánh hụt này làm các Yết
Kiêu của chúng ta buồn cười, đó cũng là dịp để anh tập dượt thêm.
Phối hợp với chiến dịch Chenla, lập thành
tích kỷ niệm ngày sinh của Bác (19 tháng 5 năm 1972), nhóm ba chiến sĩ
đặc công thủy: Thiều, Thoan, Long được lệnh đánh một chiếc tàu chở hàng
quân sự hai ngàn tấn đậu ở giữa sông MêKông thuộc cảng Phnompênh. Cơ sở
tình báo cho biết địa điểm tàu đậu, gửi cả sơ đồ ra. Đội hình: Long bơi
đầu cầm một đầu sợi dây nilông chịu trách nhiệm cột đầu dây đó vào neo
mũi tàu. Thiều là tổ trưởng, ôm trái mìn 12 ki-lô-gam C.4 (loại thuốc nổ
cực mạnh) bơi giữa, Thoan bơi cuối cầm cuối đoạn dây. 1 giờ đêm, ba anh
xuống nước, bơi đội hình hàng dọc. Thực ra dòng nước đầu mùa mưa chảy
với vận tốc 2 mét/giây đẩy cả nhóm trôi xuôi. Miệng các anh đều ngậm ống
thở, lúc mới xuất phát thì bơi nhái nổi trên mặt nước. Nghe tiếng xuồng
cao tốc (gọi là Bo – bo) chở lính tuần tra trên sông hoặc ánh đèn pha
quét gần tới, các anh mới lặn xuống thở bằng ống. Cứ thế nhóm ba người
tiếp cận tàu giặc êm ru. Lính gác trên tàu tuy vẫn thức, đèn tàu sáng
trưng, nhưng chỉ canh ra xa chứ không nhìn thẳng theo sườn tàu vát được.
Long thành thạo buộc đầu sợi dây nilông vào dây neo mũi, rồi giật giật
làm hiệu đã hoàn thành công việc. Thiều bơi sát sườn tàu, đoán định đã ở
đúng khoang máy thì dừng lại. Do nước chảy đẩy Thiều và mìn ép sát vỏ
tàu, Thoan nhanh chóng cột đoạn cuối dây vào chân vịt rồi giật dây báo
hiệu làm xong. Thiều điểm hỏa hẹn kíp 1 giờ sau sẽ kích nổ. Cả ba ngậm
ống thở, thả trôi ngầm một quãng xa, ngoài tầm quan sát của địch mới
trồi lên. Các anh bơi xuôi chừng 4 cây số thì gặp đồng đội đón ở một địa
điểm định trước. Đúng 3 giờ khuya, một quầng lửa đỏ rực sáng rồi một
tiếng nổ phá tan bầu không khí yên tĩnh trên sông... Sau trận này, Thiều
được thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, hai đồng đội được
bằng khen của thủ trưởng Lữ đoàn 367.
Đêm 5 tháng 8 năm 1972, chỉ huy đội 22 cử
Thiều và Long đi đánh một tàu Nam Hàn cỡ lớn đầy súng đạn, bột mì và
quân trang quân dụng tiếp tế cho quân Lon-non, nghe nói tàu có sức chở
tới 8000 tấn. Tin tình báo và sơ đồ cho biết tàu neo đậu ở gần cầu lộ 6
(cầu Chui Chàng Hoa). Địch canh gác rất cẩn mật: xuồng Bo bo lượn lờ
tuần tra liên tục trên sông MêKông, đèn pha trên bờ quét qua quét lại
sáng trưng tưởng chừng có thể thấy rõ từng con muỗi. Hai anh bơi dưới
sông, thành phố rực sáng đèn, nhìn rõ cả nóc hoàng cung với những đầu
mái cong vút như mũi ghe ngo. Nước lũ đục ngầu, bèo lục bình trôi từng
cụm làm tầm nhìn của địch kém. Tàu đậu ở gần ngã ba sông MêKông chảy từ
Bắc xuống Nam, ở đây chảy cuộn xoáy khiến hai anh tiếp cận tàu khó khăn.
Long cột được đầu dây vào xích neo mũi thì do hiệu ứng của nước đẩy,
nước dìm Thiều và trái mìn 18 ki-lô-gam C.4 xuống. Nước lọt vào ống thở
khiến Thiều suýt ngộp. Long vội trườn tới, nâng Thiều lên rồi nhanh
chóng cột cuối đoạn dây vào bánh lái chân vịt tàu. Thiều điểm hỏa kíp
hẹn nổ sau một giờ nữa. Theo cái giật làm hiệu lệnh, hai anh rời xa con
tàu, bơi xuôi theo dòng Tônglê Xáp khoảng 5, 6 cây số ngang qua một số
đồn bót địch thì đồng đội đón. 4 giờ sáng, trái mìn phát nổ... Đài
Phnômpênh la lối om sòm, xác nhận thành tích của cặp Yết Kiêu – Dã Tượng
hiện đại phá hỏng nặng tàu địch.
Người chiến sĩ quân đội cách mạng hàng ngày
chạm trán với cái chết do kẻ địch gieo rắc, không ai không có lúc nghĩ
đến. Nhưng nếu cần hy sinh, anh quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Tháng 2 năm 1973, đội 22 được lệnh đánh sập
cầu lộ 6 (cầu Chui Chàng Hoa). Lính Lon – non bảo vệ cầu này rất kỹ sau
vụ chiếc tàu Nam Hàn bị đánh hỏng nặng, phải kéo ra nước ngoài sửa chữa
tốn kém. Phương án đề ra: muốn chắc ăn, đội sẽ dùng hai chiếc ghe, mỗi
chiếc chở 600 ki-lô-gam thuốc nổ (một người lái, một người điểm hỏa)
chạy song song tới chân cầu giữa sông thì cho mìn nổ. Anh Khanh – chính
trị viên gợi ý Thiều:
– Trận này để lữ đoàn quyết định làm thành
tích đề nghị phong tặng em danh hiệu Anh hùng, ý em thế nào?
– Nếu tiểu đoàn giao nhiệm vụ thì em làm chứ
em không sợ gì. Vấn đề là đơn vị lập chiến công lớn, cái hy sinh xảy ra
trong khoảnh khắc có gì đáng kể!
Thiều nghĩ tới vô số trường hợp hy sinh khác:
có trận ta chết không phải chỉ vài người. Gương các anh hùng chiến sĩ
cách mạng mà anh đã đọc hoặc nghe nói thoáng hiện rất nhanh. Con người
ta chỉ sống có một lần, phải sống sao cho ra sống để khỏi có lúc ân hận,
xót xa... Nhưng phương án này không được lữ đoàn thông qua vì tổn thất
quá lớn. (sau đó, một tổ ba người: Long, Thoan, Khuê đánh kiểu người
nhái thắng lợi mà không hy sinh ai).
Năm 1972, Lữ đoàn 367 chỉ đạo Trịnh Xuân
Thiều viết bản thành tích cá nhân. Tổng cộng Trịnh Xuân Thiều đánh 15
trận lớn nhỏ trên đất bạn Cam-pu-chia, gây nhiều tổn thất cho địch. Với
những thành tích đã lập trong quá trình chiến đấu, anh đã được Chủ tịch
nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân tháng 6 năm 1978.
L.Y