Anh
hùng Trần Văn Danh (tức Ba Trần) sinh năm 1923, dân tộc Kinh, quê ở
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi được tuyên dương Anh hùng,
đồng chí là đảng viên, nguyên Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình
thủy điện Trị An.
Năm
1945, Trần Văn Danh tham gia cách mạng. Qua hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên nhiều cương vị công tác, đồng chí luôn
hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Trần Văn
Danh luôn trăn trở trước tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn. Đồng chí
đã đề ra phương án xây dựng nhà máy Thủy điện Trị An và được chấp nhận.
Sau đó, Trần Văn Danh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, kiêm
Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình Thủy điện Trị An. Đây là công
trình thủy diện có tác dụng to lớn trong việc phục vụ sự nghiệp phát
triển kinh tế văn hóa và phục vụ đời sống nhân dân nhiều địa phương
thuộc các tỉnh, thành phố phía Nam. Đồng chí đã dày công nghiên cứu, lặn
lội khắp nơi vận động, tập hợp sức người, sức của trong nhân dân, đồng
thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhất là Liên Xô cũ. Trần Văn
Danh luôn thể hiện phẩm chất của người đảng viên Cộng sản lão thành,
không quản ngại tuổi cao, sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt
tình công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình,
trở thành tấm gương cho mọi người học tập.
Đồng
chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Quân
công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Lao động
hạng nhất. Ngày 30 tháng 10 năm 1990, Trần Văn Danh được Nhà nước tặng
danh hiệu Anh hùng lao động.
MƯU LƯỢC TRONG CHIẾN TRANH -LỪNG DANH
TRONG XÂY DỰNG
BÙI THUẬN - QUỐC HOÀN
àm ra vẻ nghiêm chỉnh thực thi Hiệp định Pa-ri
vừa mới ký kết, Mỹ, ngụy buộc lòng phải đón “phái đoàn Việt cộng”
vào tận “thủ đô Sài Gòn” để tham gia vào Ban liên hiệp quân sự bốn bên.
Theo
như thỏa thuận, vào ngày 28 tháng 2 năm 1973, máy bay quân sự của Mỹ sẽ
đáp xuống sân bay Thiện Ngôn để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách
mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sân bay Thiện Ngôn nằm ở phía
bắc Tây Ninh vốn là căn cứ quân sự của một chiến đoàn Mỹ vừa chuyển giao
cho quân đội Sài Gòn đã bị bộ đội ta đánh chiếm vào năm 1972 trong chiến
dịch Nguyễn Huệ.
Đến giờ
hẹn, trực thăng Mỹ không tới đón mà thay vào đó là một phi đội chiến đấu
của không quân Sài Gòn lượn quanh rồi ném bom hù dọa. Ngay tức khắc
người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam lên tiếng phản đối mạnh mẽ hành động lật lọng phản trắc này của Mỹ –
ngụy. Đồng thời chúng ta quyết định chuyển sang một điểm hẹn khác đã
chuẩn bị trước và đòi Mỹ phải trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn
cho Đoàn đại biểu quân sự Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Điểm hẹn mới là Lộc Ninh, một thị trấn đông dân được mệnh danh là thủ
phủ của vùng giải phóng. Ngày 1 tháng 3 năm 1973, ba đợt trực thăng của
Mỹ đã đáp xuống sân bay Lộc Ninh để rước đoàn đại biểu ta về Sài Gòn.
Đồng bào Lộc Ninh đến đưa tiễn rất đông với cờ, hoa, biểu ngữ giăng đầy
và nồng nhiệt chúc mừng đoàn. Trưởng đoàn là trung tướng Trần Văn Trà,
các phó trưởng đoàn gồm đại tá Võ Đông Giang, đại tá Đặng Văn Thu (Đoàn
Huyện), đại tá Trần Quốc Minh cùng các ủy viên như Nguyễn Văn Sĩ, Nguyễn
Văn Hoàn, Dương Đình Thảo, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Tư...
Nhìn
chung theo danh sách thông báo cho phía Mỹ về thành phần của phái đoàn
ta, thì bộ phận tình báo quân sự Mỹ đều nhận ra hầu hết là... “người
quen”, duy chỉ có một người mà chúng hơi ngờ ngợ, đó là đại tá Trần Quốc
Minh – Phó trưởng đoàn kiêm Trưởng tiểu ban hai bên. Vì đại tá có dáng
người cao to, bề thế này đã gây ra một ấn tượng bất ngờ cho đám quân
cảnh Sài Gòn – vốn là những binh lính to, khỏe được chọn để đào tạo
thành cảnh sát của quân đội Sài Gòn với nhiệm vụ trấn áp binh lính trốn
tránh, đào ngũ hoặc có ý định làm loạn. Thấy phái đoàn đại biểu quân sự
của ta hùng hậu, mà vị đại tá, phó đoàn lại phương phi chững chạc, bọn
quân cảnh Sài Gòn phải kêu lên:
– Trời
ơi ! Việt cộng gì mà to cao mập mạnh và đỏ au như thế này !
Bị
tuyên truyền xuyên tạc bởi bọn tâm lý chiến là Việt cộng ở trong rừng ăn
bờ, ngủ bụi lại bị phi cơ Mỹ ném bom Napan, bắn rốc két chết hết rồi,
chỉ còn lại vài tên ốm yếu, xanh xao... đến nỗi bảy tên Việt cộng leo
lên lá đu đủ cũng không gãy... làm đám quân cảnh ra sân bay để “dàn chào”
Việt cộng đều không khỏi bất ngờ, sửng sốt. Chừng sực nhớ ra nhiệm vụ
được điều ra phi trường Tân Sơn Nhất là để thị uy và làm khó dễ “phái
đoàn Việt cộng”, bọn quân cảnh vội xông ra cản đường và la lối, chửi bới.
Điều này cũng không nằm ngoài dự kiến của ta, do đó với thái độ hết sức
bình tĩnh, đại tá Trần Quốc Minh hích nhẹ trung tá Nguyễn Hữu Trí:
– Đồng
chí bước ra hỏi coi bọn này muốn gì ?
Với
tướng tá “bặm trợn” và vốn là dân anh chị ở Sài Gòn với danh xưng “đại
ca Tư Bốn” trước khi hoạt động bí mật, nên khi Nguyễn Hữu Trí khệnh
khạng bước lại trước mặt tên thiếu tá – đại đội trưởng quân cảnh thì hắn
hoảng hốt kêu lên:
– Ủa,
anh Tư ! Sao anh ở đây ? Bộ anh là Việt... cộng hả ?
Nguyễn
Hữu Trí nghiêm giọng:
– Tao
là... trung tá tình báo Việt cộng đây !
Tên
thiếu tá chỉ huy quân cảnh tiu nghỉu quay lại phía đám lính:
– Thôi
tụi bay để cho anh Tư với mấy ổng đi !
ĐẠI TÁ
“VIỆT CỘNG” TRẦN QUỐC MINH
Khu
doanh trại David của không quân Mỹ nằm sát góc tây nam sân bay Tân Sơn
Nhất được thiết lập thành hình chữ V gồm ba dãy nhà gỗ quây lại thành
chữ U. Trong lòng có vài biệt thự với đường tráng nhựa chạy giữa các dãy
nhà cùng sân quần vợt, bóng rổ, bóng chuyền... Vừa tiếp quản trại David,
phái đoàn quân sự hai bên liền phân công nhau khẩn trương bắt tay vào
việc đào hầm trú ẩn, công sự chiến đấu và cuốc đất trồng rau, tăng gia
sản xuất... với quyết tâm bám giữ xem đây là “vùng giải phóng đầu tiên
của ta tại Sài Gòn như sau này đồng chí Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã nói.
Phía các cơ quan tình báo của Mỹ ở Sài Gòn cũng làm việc hết sức cật lực
để xác định cho thật đầy đủ lý lịch của “những vị khách” được mời đến
“vùng giải phóng của Việt cộng ngay giữa các căn cứ quân sự Mỹ ở Sài Gòn”.
Đặc biệt là hàng tuần đều có chuyến bay liên lạc giữa trại David với Bộ
Chỉ huy Miền ở Lộc Ninh, đòi hỏi sự theo dõi chặt chẽ và “chu đáo” của
bọn tình báo Mỹ. Không lâu sau đó, chúng đã xác định được lai lịch của
“Đại tá Việt cộng Trần Quốc Minh” – Phó trưởng đoàn quân sự Chính phủ
Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. “Nhân vật” này không xa
lạ gì với bọn tình báo, quân báo Mỹ, ngụy. Frank Snepp – chuyên gia cao
cấp phân tích tin tức tình báo về Cộng sản của chi nhánh CIA ở Việt Nam
đã đánh giá nhân vật này là một trong bốn nhà tình báo “gộc” của Việt
Nam. Đó là Trần Văn Danh (bí danh Ba Trần), Phó tham mưu trưởng Bộ chỉ
huy Quân sự Miền kiêm Trưởng ban tình báo chiến lược, phụ trách công tác
tình báo, đặc công, biệt động. Vào đầu tháng 1 năm 1973, tại Sở chỉ huy
Miền, chính Ba Trần đã nhận được chỉ thị của Trung ương là cùng với đồng
chí Trần Văn Trà bàn bạc chọn nhân sự, phân nhiệm, chuẩn bị tài liệu,
phương tiện thông tin liên lạc, dự kiến tình huống bất trắc... để về Sài
Gòn tham gia vào Ban liên lạc quân sự bốn bên thực thi Hiệp định Pa-ri.
Trong lúc trung tướng Trần Văn Trà túi bụi với những cuộc họp Bộ Chỉ huy
Miền để bàn cách phối hợp đấu tranh giữa chiến trường và bàn hội nghị,
thì Ba Trần cũng bận tối ngày để chỉ huy thực hiện mọi công việc cho
chuyến vào Sài Gòn chẳng biết đến bao giờ mới ra.
Vừa
triển khai phương án phòng thủ chiến lược ở trại David xong, linh cảm
của một cán bộ tình báo lão luyện mách cho Ba Trần biết là bọn CIA đang
ráo riết truy cứu lý lịch của ông và sớm muộn gì chúng cũng sẽ phát hiện
lai lịch ông cùng với gia đình. Do đó Ba Trần liền bí mật báo cho vợ là
bà Nguyễn Thị Hoa đang sống cùng bốn đứa con ở quê nhà Hốc Môn phải cấp
tốc đi vào Khu. Đúng như dự đoán, bà Hoa cùng các con vừa chuyển đi đêm
trước thì sáng hôm sau bọn mật vụ, cảnh sát chìm đã ập đến tận nhà.
Đối với
cơ quan trung ương tình báo ngụy đặt tại số 3 bến Bạch Đằng – Sài Gòn
hoặc chi nhánh CIA trong Tòa đại sứ Mỹ hay ngay cả ở phòng 7 bộ tổng
tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa do tên đại tá Lê Văn Lương được Mỹ
đào tạo thật bài bản về công tác tình báo trong quân đội... thì hồ sơ về
ông Trưởng ban tình báo Miền có bí danh Ba Trần không phải là ít. Chúng
biết khá rõ: Trần Văn Danh sinh năm 1923 tại Hốc Môn. Còn có tên là Trần
Văn Ba, bí danh Ba Trần. Hiện đang là Phó tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy các
lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam kiêm Trưởng ban tình báo chiến
lược, phụ trách đặc công, biệt động toàn miền Nam.
MẤT
NƯỚC MỚI LÀ NHỤC!
Năm nay
đã 80 tuổi và đang sống an nhàn trong ngôi biệt thự rộng ở cư xá Bắc Hải
nằm trên địa bàn quận 10 – thành phố Hồ Chí Minh, Anh hùng lao động Trần
Văn Danh vẫn giữ nguyên được dáng vẻ uy nghiêm và phong độ của một vị
tướng đã từng lăn lộn trên mặt trận tình báo, chiến trường và công
trường xây dựng nhà máy thủy điện Trị An có quy mô lớn nhất miền Nam
thuở nào. Vẫn giữ được phong độ, theo như nhà tình báo Ba Trần cho biết:
“Tôi được khen là người có thân hình khỏe đẹp. Tôi ghiền chơi thể thao
lắm, nhất là bóng đá. Chỉ khi ra trận thì thôi, chứ lúc ở chỉ huy sở,
tôi luôn tranh thủ tập luyện cơ thể và lao động chân tay”. Một nhân vật
lừng danh và phong độ như vậy, nhưng lại ít ai biết ông xuất thân từ một
hoàn cảnh và một tuổi thơ không phải là êm ả lắm. Anh hùng lao động Trần
Văn Danh nhớ lại: “Mẹ tôi (bà Trần Thị Thảnh) là người Bến Tre lên Sài
Gòn làm cô mụ và gặp cha tôi là con trai một ông Hương cả trong làng ở
Hốc Môn. Cha tôi đã có vợ lớn mà ông nội tôi lại là người sống rất
nghiêm khắc, nên mẹ con chúng tôi phải đến sống ở một nơi khác. Hàng
ngày mẹ tôi thức khuya dậy sớm trồng rau, nuôi heo rồi đi bán hàng rong
mới kiếm đủ tiền nuôi sáu đứa con nhỏ, trong đó chỉ có một mình tôi là
con trai. Chị em tôi sống khổ cực lắm, ngày nào cũng phải vào rừng mót
củi. Khi làm giấy khai sanh tôi phải lấy họ mẹ, nên có tên là Trần Văn
Ba. Hồi học lớp nhứt ở thị trấn Hốc Môn, thấy tôi tên Ba, thầy giáo tôi
nói: “Con tên Ba, mỗi lần kêu thầy phải nói “Ba ơi”, thôi, con đổi tên
thành Bá cho dễ kêu! Thế là từ đó tên đi học của tôi là Trần Văn Bá!
Do
chuyện lễ giáo mà mẹ con chúng tôi phải sống riêng nhưng cha tôi rất
thương chúng tôi và ông hay tìm cách đến thăm. Ông vốn là một cơ sở cách
mạng nên khi tôi được 12 – 13 tuổi cha tôi bắt đầu sai tôi bí mật đi rải
truyền đơn kêu gọi ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương. (1)
Ở Hốc
Môn thời bấy giờ phong trào cách mạng âm ỉ, sôi sục. Vừa 16 tuổi, Trần
Văn Bá thi đậu vào trường Bá Nghệ – Sài Gòn (nay là trường kỹ thuật Cao
Thắng). Thích nghề xây dựng, Bá mua sách Pháp về toán, lý, hóa tự học
thêm. Để có tiền đi học ở Sài Gòn, ban ngày Bá lãnh vẽ các mẫu thiết kế
xây dựng của các văn phòng kiến trúc sư, buổi tối lại làm thêm nghề cơ
khí.
Một
buổi chiều, vừa ăn cơm ở Chợ Quán đạp xe về nhà, ngang qua rạp hát Trần
Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân) cậu học trò trường Bá Nghệ Trần Văn Bá
nhìn thấy một cảnh hết sức chướng tai gai mắt: bọn lính Nhật trần truồng
như nhộng đang chen nhau tắm trước mặt bàn dân thiên hạ. Vừa bực mình vì
cảnh sỉ nhục vừa phải xuống xe dắt bộ để tránh bọn lính Nhật đang tắm,
Trần Văn Bá uất ức nói:
– Nghe
nói nước Nhật tự xưng là cường quốc, sao chẳng văn minh chút nào, tắm ở
truồng.
Không
ngờ một tên lính nghe được kêu Bá lại hỏi bằng một giọng tiếng Việt rất
sõi:
– Ê
thằng nhỏ! Mày vừa nói gì đó?
Trần
Văn Bá liền lặp lại cậu nói của mình. Nghe xong tên lính Nhật cười mỉa
mai:
– Tắm
truồng không có gì xấu. Mất nước mới là nhục!
Bá giận
đến tái mặt. Nhưng chính câu nói của tên lính Nhật đã làm cho cậu học
trò Hốc Môn hiểu ra một lẽ: mất nước đúng là nỗi nhục lớn nhất!
Nỗi căm
thù giặc còn đang âm ỉ trong lòng Trần Văn Bá thì lại thêm một “cú sốc”
nữa giáng xuống: Nhật đảo chánh Pháp, trường Bá Nghệ bị đóng cửa, Bá
đành phải quay về lại Hốc Môn. Năm 18 tuổi, chàng trai mang nỗi nhục mất
nước lại còn phải bị bắt đóng thuế thân. Lòng căm thù bọn cướp nước cứ
thế sôi sục trong huyết quản Trần Văn Bá. Vì vậy vào tháng 7 năm 1945,
Bá tham gia vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc đang còn hoạt động bí mật.
Hưởng ứng cuộc Cách mạng Tháng Tám, Bá cùng lực lượng Thanh niên Cứu
quốc đứng ra cướp chính quyền ở Hốc Môn rồi vận động quần chúng kéo về
trung tâm thành phố Sài Gòn để biểu dương lực lượng.
Sau đó
Pháp tái chiếm Nam Bộ. Hốc Môn là cái “ổ Cộng sản” mà chúng phải điều
động quân đến để dẹp. Trước sự tấn công ác liệt của giặc Pháp, lực lượng
cách mạng ở Hốc Môn được lệnh phải tạm thời phân tán. Trần Văn Bá liền
gia nhập vào Đội trinh sát của Khu 7, và bắt đầu cuộc chiến đấu với giặc
Pháp khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong đó có địa bàn Sài Gòn –
Chợ Lớn mà người chiến sĩ trinh sát vốn là cựu học sinh trường Bá Nghệ
rành rẽ từng con hẻm, từng con rạch... Để nhớ đến tên mình là Trần Văn
Ba và cũng là người con thứ ba trong gia đình, Bá lấy bí danh là Ba Trần.
Sau
những chiến công hết sức táo bạo và dũng cảm, chiến sĩ trinh sát Ba Trần
được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Ba Trần đề nghị được lấy tên Trần Văn
Danh để ghi vào hồ sơ đảng tịch. Ba Trần hay cùng nhóm quân báo đi về
Bửu Long một làng ven sông Đồng Nai sát thị xã Biên Hòa – là nơi đang bị
quân Pháp tạm chiếm và đặt các cơ quan hành chánh, quân sự của chính
quyền tay sai. Bọn Pháp phát hiện được, biết là khi trời tối thế nào đám
quân báo của Việt Minh cũng sẽ về liền đem lính phục kích. Một bác nông
dân là cơ sở cách mạng nhận ra được mối nguy hiểm chết người này đã chờ
cho đám quân báo sắp đến, xách cây đèn dầu giả bộ như đi soi ếch để bước
vào ổ phục kích của giặc. Bọn lính Pháp đang nằm dưới ruộng bị một ông
già đi soi ếch đạp lên đầu, giận quá đứng bật dậy chửi bới om sòm. Thế
là đằng xa, nhóm quân báo Việt Minh thoát êm. Một lần nọ ở ngay thị xã
Biên Hòa, nhóm quân báo cùng với Ba Trần sắp bị địch bao vây mà không
biết. Thấy vậy một bà mẹ bán hàng bảo đứa con chạy trước, còn bà cầm roi
chạy theo, cùng chạy về phía nhóm quân báo đang trú quân. Lúc chạy qua,
bà không chửi bới đứa con nữa mà la lên:
– Các
chú đi mau lên! Bọn hiến binh, biệt kích sắp đi tới bao vây rồi đó!
Nhờ gan
dạ xông xáo khắp nơi và cũng được sự chở che, đùm bọc của đồng bào, năm
1949 Ba Trần được đề bạt làm Tham mưu phó kiêm Trưởng ban quân báo liên
tỉnh Thủ – Biên. Ở cương vị này, Ba Trần lại càng phát huy khả năng đặc
biệt của mình trong nhiệm vụ. Và vì vậy đến năm 1954, Ba Trần đã trở
thành Phó Chính ủy kiêm Bí thư Trung đoàn ủy của một đơn vị bộ đội lừng
lẫy những chiến công đánh Pháp ở miền Đông Nam Bộ: Trung đoàn 556. Nhưng
cũng vào thời điểm này thì có lệnh “đình chiến” và Phó chính ủy Ba Trần
được lệnh tập kết ra Bắc. Sau đó, Ba Trần được phong quân hàm thiếu tá.
Từ một anh thanh niên cứu quốc đánh giặc bằng tầm vông vạt nhọn, nay trở
thành sĩ quan “Bộ đội Cụ Hồ”, thiếu tá Trần Văn Danh cảm thấy vô cùng
vinh dự. Nhưng một nhiệm vụ cũng hết sức nặng nề được giao cho người đã
từng chín năm xông pha trong đạn lửa, đó là phải nỗ lực học tập thật tốt
để về giải phóng miền Nam.
Trần
Văn Danh được học văn hóa trở lại. Và sau đó được chọn vào học trường An
ninh. Đặc biệt là được đào tạo bài bản về công tác tình báo, mà người sĩ
quan miền Nam này có khá nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Hết sức chuyên cần
trong học tập, nhưng cũng vô cùng nghiêm túc trong lối sống. Là “đứa con
miền Nam ruột thịt” được nhân dân miền Bắc hết sức chăm sóc, đùm bọc,
một thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam trẻ tuổi, đẹp trai, cao ráo,
sống xa nhà, Trần Văn Danh được nhiều cô gái Hà Thành (1) đem lòng
thương mến sẵn sàng sẻ gối chia chăn. Nhất là những cô em gái của các
bạn học viên mà những ngày nghỉ cuối tuần anh có dịp đến nhà chơi rồi
gặp gỡ, tiếp xúc. Thế nhưng Trần Văn Danh vẫn sắt son, chung thủy, hướng
về quê nhà nơi có người phụ nữ tên Nguyễn Thị Hoa vừa phải nuôi dạy con
vừa tham gia công tác cách mạng. Nguyễn Thị Hoa là một cán bộ binh vận
có nhiều thành tích xuất sắc. Năm 1946 chị được cử vào chiến khu để báo
cáo công tác. Hai người vừa gặp nhau đã quyến luyến thương yêu và quyết
định báo cáo với cơ quan hai bên. Một lễ tuyên hôn đơn sơ nhưng đằm thắm
giữa Trần Văn Danh với Nguyễn Thị Hoa được tổ chức trong sự mừng vui
tràn ngập tình cảm đồng chí, đồng đội.
“Ngày
Bắc đêm Nam” như thế, thấm thoát đến sáu năm. Vào cuối năm 1960 Trần Văn
Danh được lệnh vượt Trường Sơn để về miền Nam chiến đấu. Những ngày cuối
cùng trước khi rời miền Nam, Trần Văn Danh cứ như bị thôi thúc bởi lời
dặn dò của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi đồng chí thăm đoàn cán bộ đang
chuẩn bị về Nam: các đồng chí ra Bắc đã học tập tốt, nay nhanh chóng về
Nam cùng các đồng chí trước đây ở lại tổ chức quần chúng nổi dậy, lôi
kéo binh lính địch, chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Hiện nay chúng ta vẫn còn một cái nhục, là “nhục mất nước”.
Trần
Văn Danh nhủ thầm là phải trở về miền Nam càng sớm càng tốt để cùng
chiến sĩ, đồng bào hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam. Con đường
trở lại chiến trường miền Nam cực khổ muôn vàn vì đây là đoàn tiền trạm,
có lúc người chiến sĩ to lớn, vạm vỡ như Ba Trần còn bị viêm phổi nặng
đến nỗi anh nghĩ mình khó lòng mà qua khỏi. Khi đến được vùng sông Re (thuộc
tỉnh Quảng Nam bây giờ) đoàn cán bộ về Nam gần như chới với vì sốt rét,
bệnh tật và... cái đói cứ đe dọa từng ngày. Đói quá, Ba Trần bèn lấy một
bộ bà đen của mình để đổi cho bà con người dân tộc lấy một con chó làm
thịt. Vừa lúc đó, anh em trạm giao liên mang đến cho Ba Trần một lon
thịt heo. Cầm trên tay lon thịt heo đã có mùi hôi do không có muối ướp,
Ba Trần thấy “để thì vương, mà quăng thì tiếc” nên nảy ra sáng kiến là
đem thịt chó còn lại trộn chung với thịt heo rồi cùng để dành. Hôm sau,
Ba Trần mở hộp thịt ra thì phát hiện được một chuyện thú vị là thịt heo
không còn mùi hôi nữa! Cả đoàn đều nức nở khen sáng kiến: “dùng một chất
đạm đặc biệt trong thịt chó để khử mùi hôi của thịt heo” của Ba Trần đã
làm cho anh em trong đoàn nhiều ngày liền sau đó có được “thức ăn tươi”
để cải thiện.
Đoàn
cán bộ quân sự đầu tiên từ miền Bắc về Nam tìm được đường vào căn cứ
Trung ương Cục đều đã đói rách bệnh tật đến thảm hại. Thế nhưng ngay sau
đó lại trở thành cái vốn quý để thành lập Ban Quân sự Miền do đồng chí
Trần Văn Quang được cử làm Trưởng ban. Ba Trần được phân công làm Trưởng
ban tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền. Nhận nhiệm vụ, việc
đầu tiên Ba Trần phải làm là bắt tay xây dựng lại ngành tình báo cách
mạng bằng cách tuyển chọn cán bộ từ ban địch tình. Vì sau bảy năm từ khi
Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với chính sách tố Cộng vô cùng dã man,
chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt giết, bỏ tù hàng loạt cán bộ làm cho
lực lượng tình báo cách mạng gần như tan rã, tê liệt hoàn toàn. Mưu trí
hơn, Ba Trần cho tổ chức điều nghiên và lợi dụng sự sơ hở của địch do
mâu thuẫn nội bộ để giải cứu các cán bộ tình báo đang bị giam cầm rồi bố
trí hoạt động trở lại. Sau đó, Ba Trần đã từng bước “cài” được các chiến
sĩ tình báo vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy như: dinh Độc Lập (Phủ
tổng thống ngụy), Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, bộ tổng tham mưu quân lực
Việt Nam Cộng hòa, cơ quan đặc ủy trung ương tình báo, bộ tư lệnh hải
quân ngụy, bộ tư lệnh Đệ nhất Hạm đội Hoa Kỳ... Qua đó, Ban tình báo
chiếm lược đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của địch
kịp thời cung cấp, phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Quân ủy và
Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vai trò
chỉ đạo tình báo chiến lược của Ba Trần rất quan trọng. Căn cứ vào tình
hình quân sự, từng thời kỳ, nhiều đồng chí thay đổi nhiệm vụ công tác,
nhưng cương vị Trưởng ban tình báo chiến lược vẫn do Ba Trần đảm trách.
Có lúc Ba Trần được đề bạt làm Phó tham mưu trưởng Ban Quân sự Miền,
nhưng ông vẫn phải trực tiếp phụ trách tình báo, đặc công, biệt động.
“BA ÔNG
GIẢI PHÓNG HAI BÀ”
Không
phải chỉ lừng danh trong hoạt động chỉ huy tình báo, Ba Trần còn là
người trực tiếp chỉ huy trận mạc rất kiên cường, táo bạo. Trong chiến
dịch Phước Long chuẩn bị mở màn cuộc Tổng tiến công mùa xuân đại thắng
1975 đã xuất hiện một giai thoại khá thú vị là: “Ba ông giải phóng hai
bà”. Trong chiến dịch này Ba Trần được giao trực tiếp chỉ huy trận đánh
chiếm núi Bà Đen, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin
mã thám và là đài không lưu thông báo cho B52 cùng các loại chiến đấu cơ
của địch bay đi oanh tạc ở miền Bắc và hai nước Cam-pu-chia, Lào trên
bán đảo Đông Dương; cùng lúc thực hiện nhiệm vụ thứ hai là thu hút hỏa
lực của lữ đoàn 81 biệt kích dù, các phi đội chiến đấu F5E của quân đoàn
3 ở Biên Hòa, sư đoàn 25 bộ binh ngụy...
Trước
khi bước vào đợt hai mùa khô năm 1975 theo nhận định chung của Bộ tổng
tư lệnh, tình hình quân địch ở chiến trường B2 đã có một số thay đổi.
Cái đau nhất của Mỹ, ngụy là công việc bình định, mà chúng đã bỏ ra công
sức và tiền của, đến lúc ấy đã bị thất bại nặng nề. Thất bại rõ nét nhất
lại là ở đồng bằng sông Cửu Long nơi đông dân và giàu có mà chúng mong
làm chỗ dựa cuối cùng. Sau khi đã cố sức mở các cuộc hành quân tái chiếm
và giải tỏa trong tháng Giêng ở biên giới Kiếân Tường - Chợ Gạo - Mỹ Tho,
Thầy Phó - Trà Vinh, Thới Bình - Cà Mau, khu vực Rạch Giá đi Hà Tiên mà
không có kết quả, còn bị thiệt hại. Ở đồng bằng địch phải chuyển qua
chuẩn bị để chống lại đợt tấn công mới của ta mà chúng dự đoán là vào
trước dịp Tết âm lịch (khoảng 10 tháng 2). Ở miền Đông Nam Bộ chúng định
tập trung quân cố đánh chiếm trở lại thị xã Phước Long bằng “Chiến dịch
271” nhưng không thành vì bị đánh khắp nơi, không tập trung được lực
lượng đủ sức. Trước tình thế ấy, chúng xoay sang với nỗ lực rất cao để
chiếm lại núi Bà Đen - một vị trí thiết yếu, không những phục vụ cho
việc phòng thủ miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn mà còn để bảo vệ cho Cam-pu-chia
– Phnôm-pênh của chính quyền ngụy Lon-non nữa. Từ ngày 20 đến ngày 26
tháng Giêng, quân đoàn 3 ngụy có đại biểu của bộ tổng tham mưu tham dự
đã sử dụng lực lượng của tiểu khu Tây Ninh và sư đoàn 25 với sự yểm trợ
cao của pháo binh (bình quân bắn trên 6.000 quả/ngày) và phi cơ (84 lần
chiếc/ngày), đánh phá vào khu vực núi hết sức ác liệt. Chúng đã dùng 29
trực thăng đổ quân nhiều đợt cố chiếm lại cứ điểm trên đỉnh núi nhưng
đều bị ta đánh trả quyết liệt, bị thiệt hại nhiều sinh lực, mất nhiều
phi cơ và trực thăng. Không những thế, qua theo dõi tin tình báo và lực
lượng trinh sát mặt đất nắm được: để chuẩn bị đánh chiếm núi Bà Đen,
Mỹ-ngụy còn tập kết một số máy bay trực thăng cùng với xung lực ở Bản
Kéo cách đó không xa để chở quân đổ bộ. Chớp thời cơ, đêm 25 tháng Giêng
năm 1975 (nghĩa là trước chưa tới một ngày địch khởi sự), Trần Văn Danh
đã kịp thời chỉ đạo tập trung hai khẩu pháo 105 ly và sáu khẩu cối 61ly.
Vào lúc 03 giờ sáng dồn dập nã đạn vào bãi để máy bay của đối phương. Bị
giáng trả bất ngờ, địch không kịp trở tay đối phó. Phần lớn máy bay bị
phá hủy và nhiều quân lính bị đền tội. Qua hai đợt tấn công cả phía sau
và phía trước của ta, kết cục địch đành nhận thất bại cay đắng, lui về
phòng thủ Tây Ninh.
Đồng
chí Trần Văn Trà (Tư Chi) Tư lệnh Miền đã đánh giá như sau : Thắng lợi
rất có ý nghĩa của mặt trận tấn công chiếm vị trí núi Bà Đen và giữ vững
vị trí trước sự phản kích quyết liệt của địch là một chiến công hết sức
rực rỡ của một đơn vị nhỏ mà tinh nhuệ của ta. Đó là tiểu đoàn trinh sát
47 trực thuộc Bộ Tham mưu Miền, được tăng cường hai đại đội đặc công của
Trung đoàn 429, một đơn vị súng máy cao xạ và một đơn vị cối, tất cả chỉ
vỏn vẹn 300 cán bộ và chiến sĩ. Hiểu rõ vị trí của trận đánh, Bộ Tư lệnh
Miền đã chỉ định đồng chí Ba Trần, Tham mưu phó Miền trực tiếp chỉ huy,
các đồng chí Huỳnh Ninh và Chín Lộc, trưởng và chính trị viên Phòng 2,
phải thông qua phương án tác chiến và các đồng chí Huỳnh Ninh, Phó phòng
1, đồng chí Hải trưởng ban trinh sát trực tiếp chỉ huy trận đánh. Đêm 3
tháng 12, đơn vị tấn công từ 3 hướng. Hướng tây nam là mũi chính do đồng
chí Tô làm mũi trưởng, đồng chí Thăng làm mũi phó cùng 5 chiến sĩ đã
thọc thẳng vào trung tâm cứ điểm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Nhưng
quân địch được phi cơ và trực thăng chi viện đã phản kích và giữ được vị
trí. Toàn tổ hy sinh anh dũng. Được chỉ đạo của trên, đơn vị chuyển qua
bao vây đánh lấn, chặt đứt mọi nguồn tiếp tế, không cho một trực thăng
nào đổ bộ được. Quân địch nguy khốn buộc phải rút chạy vào cuối tháng 12
nhưng bị diệt và bị bắt sống gần hết. Vì là một cứ điểm quan trọng, được
trang thiết bị hiện đại để quan sát từ xa khắp vùng rộng lớn và chuyển
tiếp truyền tin cho cả hai chiến trường Việt Nam và Cam-pu-chia nên cả
bộ tổng tham mưu và quân đoàn 3 ngụy quyết tâm chiếm lại cho kỳ được căn
cứ núi Bà Đen bằng những trận đánh phá vô cùng ác liệt. Nhưng đơn vị
trinh sát đặc công nhỏ của ta đã thắng một lực lượng binh chủng hợp
thành của địch, lớn hơn ta gấp cả hàng chục lần. Sự thắng lợi ở đây là
của cả thế và lực, của cả sự khôn khéo và trí thông minh, lòng dũng cảm
và kỹ năng chiến đấu, của ý chí và quyết tâm, của sự chịu đựng khó khăn,
gian khổ và sự hy sinh quên mình vì nghĩa lớn của dân, của nước. Phải
chăng trên ý nghĩa này, trận đánh là một hình ảnh thu nhỏ của toàn bộ
cuộc chiến tranh giải phóng của ta chống lại đế quốc Mỹ : ít đã thắng
nhiều, nhỏ đã thắng lớn, tài trí và nghĩa nhân đã thắng vũ phu và cường
bạo, chính đã thắng tà, trận đánh càng có giá trị vì nó diễn ra vào giai
đoạn cuối của cuộc chiến tranh, bịt tai mắt của địch cho ta chuẩn bị tấn
công vào sào huyệt của chúng” (1)
Toàn bộ
những hoạt động này nhằm phối hợp với cánh quân của đồng chí Năm Ngà (Nguyễn
Minh Châu) đang đánh Tánh Linh – Võ Đắc kềm chế sư đoàn 18 bộ binh ngụy
và ngăn chặn không cho các lực lượng của địch yểm trợ Phước Long. Phước
Long chính là trận địa của Quân đoàn 4 do đồng chí Năm Thạch (Hoàng Cầm)
chỉ huy. Nhờ hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa “ba ông” Hoàng Cầm –
Nguyễn Minh Châu – Trần Văn Danh giải phóng nhanh gọn hai cứ điểm “hai
bà” là Bà Đen – Bà Rá ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Phước Long
có ý nghĩa rất quan trọng là lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một
tỉnh. Đặc biệt chiến thắng Phước Long là cơ sở giúp Bộ Chính trị, Quân
ủy Trung ương khẳng định Mỹ không dám đưa quân tham chiến nữa để từ đó
có kế hoạch tác chiến giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn
miền Nam.
Đứng về
phía địch, việc mất tỉnh Phước Long đã trở thành bi kịch. Đại tá Phạm Bá
Hoa – tham mưu trưởng tổng cục tiếp vận ngụy đã phải cay đắng cho rằng:
cái chính là thất bại Phước Long đã nói lên thế và lực của quân đội Việt
Nam Cộng hòa chỉ mới bị đánh một điểm mà đã không còn lực lượng đối phó,
hỏi bị đánh nhiều nơi thì sẽ ra sao? Phước Long là sự kiện nói lên khá
rõ hiệu quả chiến lược “Việt Nam hóa” đã thực hiện trong sáu năm qua.
Trước đây quân đội Việt Nam Cộng hòa qua được nhiều hiểm nghèo là nhờ
vào cứu viện của Hoa Kỳ. Họ đã cung cấp đầy đủ mọi trang bị bù đắp tổn
thất, đã chi viện hỏa lực hùng hậu, mạnh mẽ thậm chí cả xung lực mới đủ
sức chống đỡ. Nay trước thất bại đau đớn, mất cả một tỉnh mà Mỹ vẫn làm
ngơ, mặc dầu ông Thiệu đã nhiều lần gặp Martin yêu cầu Mỹ can thiệp. Bộ
Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa cũng đã chính thức gửi công hàm, rồi khuyến
cáo điện đàm trực tiếp với Smith (Trưởng cơ quan D.A.O) tất cả đều là
con số không...
Trong
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với kế hoạch giải phóng Sài Gòn được Bộ
Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua ngày 24 tháng 4 năm 1975, Ba
Trần có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đặc công và biệt động bí mật chiếm
giữ trước và bảo vệ an toàn 16 cây cầu dẫn vào Sài Gòn để mở đường cho
các cánh đại quân. Bên cạnh đó lực lượng đặc công và biệt động do Ba
Trần chỉ huy còn phải đảm nhận việc “lót ổ” đánh chiếm trước hoặc ngăn
chặn không để cho địch phá hoại trước khi chúng hoàn toàn thất thủ các
mục tiêu hết sức quan trọng là: kho xăng, nhà máy điện, nước, kho quân
lương, khu vực lưu trữ hồ sơ mật của đặc ủy trung ương tình báo ngụy...
Và Ba Trần đã cùng với chiến sĩ, đồng đội hoàn thành nhiệm vụ một cách
xuất sắc. Ngay vào lúc gần 1 giờ khuya đêm 30 tháng 4 năm 1975, giữa Sài
Gòn vừa được giải phóng, trước sự có mặt của đồng chí Trần Văn Trà – Tư
lệnh Miền, đồng chí Phạm Hùng – Bí thư Trung ương Cục đã trịnh trọng
tuyên bố:
– Bây
giờ thắng lợi rồi, anh Trần Văn Danh đã hoàn thành nhiệm vụ. Thay mặt Bộ
Chính trị, tôi công bố : thăng đồng chí Trần Văn Danh hàm thiếu tướng,
nhận nhiệm vụ Phó chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố về an ninh và quốc
phòng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn – Gia Định (1).
ĐÁNH
THỨC CHIẾN KHU Đ KHƠI NGUỒN ĐIỆN SÁNG
Năm
1978, sau khi thôi giữ chức Tư lệnh lực lượng vũ trang thành phố đồng
chí sang làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Là một
nhà tình báo, ông luôn coi trọng mọi hồ sơ tài liệu. Trên cương vị của
mình, nhân lúc phân loại các hồ sơ mật của chính quyền Sài Gòn để lại.
Qua nghiên cứu phân tích nhiều loại, nào là quân sự, kinh tế, chiến
tranh tâm lý, may mắn thay, trong số đó ông bắt gặp sơ đồ thiết kế công
trình thủy điện Trị An. Chưa biết trong ấy họ nói những gì chi tiết
nhưng chắc chắn đó là điều mà xã hội đòi hỏi cấp thiết.
Tình
hình đất nước vào thời điểm ấy nói chung, các tỉnh phía Nam nói riêng,
trong đó có thành phố mang tên Bác thiếu điện trầm trọng. Điện ưu tiên
cho sản xuất cũng hẫng hụt, nhiều hoạt động khác phải ngưng trễ. Còn
điện sinh hoạt cho dân thì cực kỳ khó khăn.
Đồng
chí Ba Trần kể lại : thế rồi trong lúc phân loại các tài liệu, gặp được
bản đồ án thiết kế ấy tôi mừng không sao tả xiết. Mừng, nhưng chưa dám
nói với ai, bởi quy mô công trình nó lớn quá, nếu đầu tư công, của không
đơn giản chút nào. Trong khi đó tình hình đất nước còn cực kỳ khó khăn,
vả lại mình vốn là một người lính chủ yếu quen với trận mạc. Khả năng
kiến thức về xây dựng công trình tầm cỡ quốc gia như thế đòi hỏi kỹ năng
khoa học cao mới đủ lý luận và thực tiễn để thuyết phục... Vì vậy, liệu
mình trình bày có được sự đồng tình ủng hộ hay lại trở thành hài hước,
đàm tiếu cho thiên hạ thì... chua lắm ! “Chua” ở đây không phải số đồng
tình nhiều hay ít, tỷ lệ cao hay thấp, điều đó cũng là chuyện bình
thường. Song cái quan trọng hơn ở chỗ bản lĩnh, trí tuệ được thể hiện
trách nhiệm công dân với đất nước, quê hương. Mỗi lần đi sâu nghiên cứu
bản đồ án như có sức ma lực thu hút tâm trí ông.
– Phải
đề xuất chính kiến của mình với tập thể càng sớm càng hay. Nếu được,
càng ích lợi cho xã hội - có sao đâu ? - Ông nghĩ thế. Hơn nữa, chế độ
cũ trước đây họ cũng đã có ý đồ làm hệ thống công trình thủy điện thượng
nguồn sông Đồng Nai rồi kia mà. Họ còn chia làm nhiều hạng mục : thủy
điện Đồng Nai 1, thủy điện Đồng Nai 2 rồi thủy điện Đồng Nai 3 và cả đập
thủy điện Sông Hinh ở ngoài Bình Thuận. Tuy nhiên, thủy điện Đồng Nai 1
- tức là khu vực công trình Trị An bây giờ có tính khả thi hơn cả. Song
vì chiến tranh, mà đập lại nằm sâu trong chiến khu Đ do ta kiểm soát gắt
gao, nên họ còn lo ngại chưa triển khai được.
Thế rồi,
trong một hội nghị Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 4 khóa 3 năm
1984, ông trình bày luận điểm của mình với cơ quan lãnh đạo cao nhất của
thành phố. Tuy nhiên cũng có những ý kiến tranh luận qua lại, phân tích
để thêm sáng tỏ. Song, cơ bản nhất trí rất cao. Đặc biệt đồng chí Võ Văn
Kiệt, trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy tỏ vẻ rất
phấn chấn. Đồng chí Bí thư Thành ủy còn nói trước cuộc họp :
– Để
tôi ra Hà Nội báo cáo với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Chính phủ.
Nếu được cấp trên chấp thuận thì đưa anh đi nghiên cứu có được không ?
Tôi trả
lời anh Sáu :
– Cái
đó thì tùy trên định liệu, nếu được tôi cũng sẵn sàng vào trận mới.
Tất cả
cử tọa vang lên một tràng pháo tay rất sôi nổi, thêm cả tiếng cười rộn
ràng. Có người còn nói vui :
– Chất
lính của vị tướng còn đậm đà lắm, hừng hực như đang giữa trận tiền vậy.
Sau
chuyến ra Hà Nội của đồng chí Bí thư Thành ủy, Trung ương và Chính phủ
đã đồng ý căn bản đề nghị của thành phố Hồ Chí Minh. Thế là, bước đầu về
mặt pháp lý đã có cơ sở. Điều quan trọng là tìm người chỉ đạo, điều hành.
Có lần
anh Sáu Dân (1) gặp tôi, gợi ý :
– Thành
ủy và Ủy ban nhân dân thành phố rà soát để cử người chủ trì công trình
mà chưa tìm được ai. Ngoài Trung ương cũng thế chưa chọn được ai cả. Mấy
ổng còn nói trong này nhắm người rồi báo cáo cho họ biết. Anh Sáu khêu
gợi :
– Anh
nên làm anh Ba à. Anh nói vậy chắc anh làm được và làm tốt là đằng khác
– tôi tin tưởng sẽ là như vậy. Anh trực tiếp chỉ đạo luôn – tụi này sẽ
cùng sát cánh và nhờ cả Trung ương, Chính phủ hỗ trợ tối đa, anh cứ yên
tâm đi. Nói rồi, anh bắt tay tôi rất chặt, tỏ vẻ hớn hở và hết sức cởi
mở thân tình như những ngày gian khổ trước đây.
Tính
ổng mình biết, đã nói là làm, mà làm phải tới nơi, tới chốn, không lơ mơ
được đâu. Trên đã gửi gắm niềm tin thì người lính già này cũng phải dốc
lòng dốc sức còn lại để phụng sự đất nước chớ sao. Ba Trần này nghĩ vậy
và như thấy mình phấn chấn, rạo rực chờ ngày bắt tay vào công việc mà
chưa thể lường hết chồng chất từng khó khăn. Và sau đó ít lâu, ông được
Trung ương, Chính phủ điều động sang làm Thứ trưởng Bộ Năng lượng kiêm
Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình thủy điện Trị An.
Một
buổi chiều sau ngày làm việc căng thẳng, dưới bóng cây xanh trong khuôn
viên nhà riêng của vị lão tướng. Bên chiếc bàn trà, hai người bạn tâm
giao mái đầu đều đã điểm màu thời gian. Trông họ nền nã, nho nhã thanh
cao và đều cùng chung lo cho dân cho nước. Họ đã cùng toàn quân, toàn
dân làm nên lịch sử và giờ đây đang nặng lòng vì tương lai dân tộc, đất
nước vậy. Hai con người đang hiện hữu ấy chính là hai lão đồng chí Võ
Văn Kiệt và Ba Trần.
Tôi
thấy công việc sắp tới nặng nề dữ dằn đó anh Ba ! Mở đầu câu chuyện của
Bí thư Thành ủy như vậy. Với phong thái ung dung đầy tin tưởng, Trần Văn
Danh đáp lại :
- Vâng,
tôi cũng nghĩ như thế ! Mà tôi hình dung cả công trường là một tập đoàn
cứ điểm anh Sáu à, lần lượt trước sau rồi cũng phải giải quyết. Có điều,
mục tiêu nào thì dùng quân chủ lực mạnh, mục tiêu nào thì dùng quân địa
phương và chỗ nào thì sử dụng dân quân du kích và chỗ nào nữa thì dùng
lực lượng quần chúng nổi dậy bức hàng, bức rút… Cuối cùng là tổng công
kích giải phóng cho kỳ được theo ý đồ cấp trên. Vị tướng Ba Trần đang
dẫn dụ, Bí thư Thành ủy xen vào : Anh làm như cánh tụi mình đang ở tại
đại bản doanh của Sở Chỉ huy chiến dịch năm 1975 đại thắng mùa xuân vậy.
Cả hai cùng cười sảng khoái làm đôi chim cu trên cành cây đang gáy cũng
dừng lại, xoay xoay trong chiếc lồng nhỏ bé xinh xinh rồi nghiêng cái mỏ
đỏ như quả ớt ngơ ngác nhìn. Qua cuộc trao đổi ngắn cả hai chia tay nhau
khi trời vừa xẩm tối, thành phố đã lên đèn tự lúc nào. Chiếc xe con đưa
vị lãnh đạo cao nhất thành phố chạy vòng trong cái không gian náo nhiệt
người xe qua lại nhưng cũng hết sức bức bối. Đó là cảnh đàn ông, đàn bà,
trẻ con, người lớn đua nhau chồi ra đứng, ngồi, đi lại bên hè phố để
hưởng cơn gió trời. Ai có nhà lầu thì kéo nhau lên sân thượng bởi không
thể chịu nổi cái ngột ngạt vì thiếu điện. Những cảnh ấy đập vào mắt, làm
ông không thể không lấy làm ái ngại, động lòng.
Bà
Nguyễn Thị Hoa, người vợ hiền thục của ông Ba Trần đã sắp sẵn bữa tối
chờ chồng để cùng ăn và vừa để có những giây phút chuyện trò. Theo bà,
đó là giờ phút đầm ấm, hạnh phúc của cuộc đời làm vợ khi tuổi tác đã về
chiều. Những năm trẻ trung ông ấy dành cho đất nước, trận mạc, một mình
vò võ chờ chồng với bao nỗi âu lo và chăm sóc phụng dưỡng mẹ già nuôi
con khôn lớn. Không ít lần bà liên tưởng đến mấy câu thơ của một chiến
sĩ Hồng quân Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại gửi cho người
thiếu phụ mà lòng như se lại :
Nếu
chiến thắng về không thấy bóng anh
Em hãy
nhìn lên sắc cờ kiêu hãnh !
Ôi !
Nếu hoàn cảnh ấy rơi vào mình liệu có đủ can đảm đứng vững thờ chồng,
nuôi con hay gục ngã trước số phận ? Nhiều khi bà muốn gạt ra khỏi tâm
trí những suy nghĩ vẩn vơ đó của mình. Rồi chồng bà, người bạn đời chung
thủy trải qua binh đao trận mạc còn mạnh khỏe bình an trở về. Giờ đây dù
bữa cơm còn đạm bạc, rau dưa như cái thuở hàn vi. Nhưng với bà, đó là
niềm vui bất tận không có gì sánh nổi. Thấy vợ ăn có phần uể oải, ông Ba
Trần động viên :
– Ăn đi
chớ bà, hay là để nhường phần cho tôi vậy? Nghe nhắc mình, bà Hoa như
sực tỉnh. Hóa ra bà đang liên tưởng về những chuyện thuở nào.
– À, à,
mời ông cứ dùng đi, hôm nay thấy mình dùng ngon miệng, tôi mừng lắm.
– Thì
tôi cũng đang ăn đây nè. Tôi ăn được, bà vui ha ! Mà bà ăn được, tôi còn
mừng hơn đó nghen, bà biết không ?
Cả hai
cùng cười rất vui. Cũng nhân dịp này, bà Hoa cũng thổ lộ điều từ lâu bà
ấp ủ trong lòng :
– Mình
à, tôi muốn nói với mình điều này. Bà nhấp ly nước trên tay còn vương
khói, nhẹ nhàng lên tiếng :
– Đất
nước mình đã yên bình, mình cũng nên dành thời gian để nghỉ ngơi với chớ.
Thấy mình tối ngày cứ vùi đầu vào công việc, chủ nhật cũng chẳng ngơi
nghỉ thì… e rằng… E rằng bỏ bà một mình chớ gì ? Hừm, cái ông quỷ này,
tôi thương mình nói thực lòng mà mình lại cứ giỡn hoài. Trẻ trung gì nữa,
con cái nó cười cho.
– Ừa,
bà nói tôi cũng chịu nhưng mà mình còn khỏe, phục vụ nhân dân đến đâu
thì đưa hết khả năng. Đến một lúc nào đó không còn sức lực thì lớp con
cháu nó đảm nhiệm chớ sao bà – ông Ba giảng giải cho vợ vậy.
– Nhưng
tôi thương mình mới nói chuyện vậy, ông nên giữ gìn sức khỏe cho tôi
được nhờ. Chớ ông có mệnh hệ gì thì… tội nghiệp lắm đó !
Nghe vợ
nói ông càng cảm kích, bao năm giặc dã cứ lo canh cánh bên lòng, giờ đất
nước hòa bình vẫn chưa hết nỗi lo cho chồng, ông cảm thấy mình tốt phúc
mới gặp được người bạn đời chu đáo đến như vậy.
Theo Thiếu tướng Trần Văn Danh : thành công nhất trước hết là được các
đồng chí Trung ương đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ. Ở phía Nam này, lúc ấy
không những đồng chí Võ Văn Kiệt – Bí thư Thành ủy mà còn có các đồng
chí Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh… cổ vũ rất nhiệt tình. Tiếp đó tôi đề
nghị cấp trên cho tiếp xúc làm việc với các đồng chí Liên Xô giúp ta
nghiên cứu thực địa. Với tình cảm giữa hai dân tộc đã cùng chia ngọt, xẻ
bùi sẵn sàng giúp đỡ to lớn về vật chất, tinh thần để góp phần cùng Việt
Nam hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đuổi giặc
ngoại xâm. Nay bước vào thời kỳ xây dựng mới, tinh thần ấy, bạn vẫn giữ
vững và hăng hái như xưa. Chính vì vậy bạn đã kịp thời cử một đoàn cán
bộ khoa học từ đất nước của Lê-nin sang cùng với ta tiếp tục nghiên cứu
khảo sát. Điều lý thú là trong thời gian các cán bộ khoa học của hai
nước làm việc rất tận tình không quản nắng mưa. Mặc dầu bận rộn, các
đồng chí Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh cùng một số đồng chí
khác đã có mặt tại hiện trường để động viên, thăm hỏi và khích lệ làm
cho ai nấy hết sức cảm động. Riêng bản thân, tôi càng thấy mình có trách
nhiệm nặng nề hơn bất cứ lúc nào trước giai đoạn cách mạng mới. Qua
những lần khảo sát, bạn với ta đều thống nhất là đủ yếu tố để xây dựng
được. Nhưng bạn ấn định phải tới năm 1985 mới có thể khởi công.
Những
thông tin ban đầu ấy làm cho các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền các
tỉnh, thành phía Nam rất vui. Còn bản thân mình niềm vui tràn ngập xen
lẫn thắc thỏm âu lo. Bởi vào thời điểm này thêm mỗi ngày, mỗi tháng đã
thấy lâu. Còn kéo sang đến năm 1985 thì sự chờ đợi dài như lê thê vậy.
Trong lúc đó ta còn thiếu điện hết sức bức bối. Nhân dịp ra Hà Nội công
tác, tôi đến tiếp xúc với anh em Liên Xô, trình bày. Tôi nói rất chân
tình, rằng :
– Thưa
các bạn, nhân dân miền Nam chúng tôi đang rất cần nguồn điện. Điện là sự
sống, là văn minh, là phát triển kinh tế, xã hội đưa cuộc sống đi lên…
Vậy mà hiện tại chúng tôi còn thiếu điện gay gắt mà cũng chỉ biết dựa
vào Chính phủ và nhân dân Liên Xô, đề nghị các đồng chí có thể tiến hành
sớm hơn được chăng ? Thế rồi họ thấy mình hết sức chân thành và tôn
trọng bạn. Sau đó ít lâu, bạn cử một đoàn cán bộ chuyên gia công trình
sang giúp ta triển khai sớm hơn dự định. Đó là vào đầu quý 4 năm 1984,
không phải năm 1985 như phương án ban đầu.
Khi
sang ta, bạn có kèm theo bản thiết kế công trình thủy điện từ bên nước
Nga với công suất 400 mêga oát, kết hợp với bản đồ án của chế độ Sài Gòn
để lại, công suất 200 mêga oát nhằm bổ cứu cho nhau. Tuy nhiên, đội ngũ
cán bộ khoa học mình cũng phải nghiên cứu thêm. Một điều đáng nói là khi
công trình chuẩn bị triển khai thi công, có ý kiến cho rằng : tại khu
vực chính và phụ của công trình ở dạng đất đá vôi, dễ bị rò rỉ, đập khó
an toàn đến mức độ bền vững. Ý kiến này làm cho một số người không khỏi
giật mình. Bởi vì, tính bền vững của toàn bộ công trình liên quan đến
hàng chục vạn sinh mạng của nhân dân hạ lưu thuộc tỉnh Đồng Nai và một
phần tỉnh Bình Dương cũng như thành phố Hồ Chí Minh. Chưa kể đến nhiều
công trình kinh tế xã hội khác. Là người chỉ đạo trực tiếp, ông không bỏ
qua một chi tiết nào. Và ngay sau đó, ông cử sáu kỹ sư địa chất cùng một
số thợ kỹ thuật đặt những mũi khoan bổ sung, lấy mẫu đất, đá để xét
nghiệm phân chất đánh giá địa tầng đúng quy trình. Kết quả cho thấy :
địa tầng đúng là có chất vôi nhưng cách đây hàng triệu năm đã phong hóa
hết rồi. Nay độ kết dính khá cao, đủ yếu tố để xây dựng công trình. Thế
là đã có đủ cơ sở khoa học, không còn phải phân vân gì nữa.
Nếu như
trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, tỉnh Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai)
thay mặt cho nhân dân Nam Bộ thành đồng Tổ quốc tiêu diệt hai tên cố vấn
quân sự Mỹ đầu tiên ở Nhà Xanh tại trung tâm thị xã Biên Hòa vào lúc 19
giờ ngày 07 tháng 7 năm 1959. Hai tên Mỹ ấy hiện đứng đầu trong danh
sách 58.198 quân nhân Mỹ chết do dính lứu vào cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam thì trong sự nghiệp xây dựng và kiến thất đất nước, quân và dân
tỉnh Đồng Nai lại có vinh dự thay mặt cho các tỉnh, thành phố phía Nam
xung kích vào khai phá lòng hồ công trình thủy điện Trị An.
Vào
giữa năm 1984, khi Nhà nước mới có quyết định làm công trình lịch sử này,
trong lúc chờ các đoàn chuyên gia Liên Xô và các nhà khoa học Việt Nam
phối hợp khảo sát để có bản luận chứng kinh tế kỹ thuật toàn bộ công
trình đồ sộ này. Và cả trước đó, ngay từ năm 1983, quân dân Đồng Nai,
dưới sự lãnh đạo, điều hành của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, hàng
vạn lượt người đã vào cuộc, vào khai thác củi, gỗ tận dụng để dọn sạch
với một diện tích trên 32.000 héc-ta lòng hồ. Nếu số ngày công bỏ ra ấy
tính chi trả phải tốn trên một chục triệu đô la chớ đâu có nhỏ. Song qua
hai năm miệt mài lao động công ích, Nhà nước không phải tổn phí khoản
tiền đáng kể ấy mà hoàn toàn do các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ
trang đóng góp ngày công.
Để thực
hiện bài viết này, một số lần tôi có dịp gặp gỡ tiếp xúc để tìm hiểu vị
lão tướng – Thứ trưởng kiêm Trưởng ban chỉ đạo, về nghệ thuật điều hành
công trình thủy điện mang tầm thế kỷ này – sao mà tài tình đến thế ?
Nghe xong, ông cười nói :
– Thì ở
ngoài nhìn vào thấy khối lượng công việc nó đồ sộ như thế, không khéo dễ
bị choáng ngợp.
Nhưng
người trong cuộc cứ bình tĩnh tự tin rồi sẽ tìm ra đối sách để tháo gỡ.
Ông còn nói rõ:
– Cha
ông mình từng dạy : “Có thực mới vực được đạo”. Trong đánh giặc, ngoài ý
chí quyết tâm, tình yêu quê hương đất nước và lòng căm thù còn phải có
súng đạn, vũ khí. Nói chuyện với kẻ thù không chỉ bằng lời mà bằng sức
mạnh, dùng sức mạnh để đè bẹp cái ngạo mạn của chúng. Còn trong xây dựng,
bạn thử xem cũng phải cần thực lực lắm chớ. Mà thực lực khi bắt tay xây
dựng công trình thủy điện Trị An đang ở… muôn phương. Đúng vậy ! Lúc ấy
trong tay mình còn một khoảng trống đáng sợ. Thế rồi, được phép của
chính phủ ta, tôi trực tiếp gặp gỡ bạn Nga đồng ý cho ta vay 150 triệu
USD nhưng chủ yếu bằng vật tư kỹ thuật. Yêu cầu bạn đáp ứng cái mình
đang cần. Đó là nguồn thứ nhất. Nhưng chỉ dựa vào chừng ấy, chưa đủ.
Nguồn thứ hai là khai thác tiềm lực trong dân.
Vào
thời điểm 1984, đời sống cán bộ, bộ đội và nhân dân ta còn rất khó khăn,
lương thực thực phẩm là vấn đề chiến lược. Suy nghĩ sao đây để có một
khối lượng lương thực cực kỳ lớn để cung cấp cho hàng vạn lượt lao động
? Đây là một bài toán để tìm được lời giải và có đáp số chính xác không
đơn gian chút nào. Qua nhiều đêm suy nghĩ, tôi nhớ lại lời dạy giản dị
nhưng vô cùng sâu sắc của Bác ngày nào : “Dễ trăm lần không dân cũng
chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Lời dạy bảo ấy đã trở thành chân
lý cho chúng ta vận dụng không phải trong đấu tranh gian khổ trước đây,
mà trong xây dựng hòa bình cũng còn nguyên giá trị.
Thế rồi
tôi lên kế hoạch hết sức cụ thể, cùng với một số đồng chí trực tiếp đi
vận động khắp 13 tỉnh miền Đông Nam Bộ, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
và thành phố Hồ Chí Minh để làm việc với lãnh đạo Đảng, chính quyền,
đoàn thể. Đi tới đâu đều được sự đồng tình hưởng ứng rất cao. Họ còn cổ
vũ tôi : Hội đồng Bộ trưởng đã có văn bản chỉ đạo, đây là công trình
trọng điểm phía Nam thời kỳ công nghiệp hóa nước nhà, nên chúng tôi đã
sẵn sàng. Thế là ý Đảng, lòng dân gặp nhau. Thật cảm kích, mặc dầu cuộc
sống vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh còn trăm bề thiếu thốn. Thế mà
tin yêu Đảng, theo lời Đảng gọi, dân ủng hộ hết mình, với khẩu hiệu “Tất
cả cho Trị An”; “Tất cả vì dòng điện sáng ngày mai của Tổ quốc thân yêu”.
Và cũng từ đây tôi nghĩ ra như là một phương châm “Nhà nước và nhân dân
cùng làm” hoặc “ăn no, đánh mạnh” hay “chất lượng, chất lượng và chất
lượng”… Thế là khi đã khơi dậy được lòng dân trên cơ sở tổ chức, lãnh
đạo chặt chẽ của các địa phương, nguồn lương thực, thực phẩm, nhu yếu
phẩm thiết yếu khác dần dần được điều động phục vụ đắc lực cho đội ngũ
cán bộ, công nhân trên công trình. Những ai đã từng có mặt vào thời điểm
hết sức sôi động đó, mới thấy sức mạnh của nhân dân ta. Đúng là vui như
ngày hội. Không hiểu sao công việc ngập đầu, phải làm việc tới 12 giờ/ngày
kéo dài nhiều đợt như vậy mà tôi vẫn thấy khỏe như khi còn trai tráng.
Thế mới hay chớ ! Ngay khoản lương thực, thực phẩm huy động trong dân và
mua với giá chỉ đạo để phục vụ công trình từ ngày khởi công đến khi kết
thúc tới 8 năm liên tục lên tới gần 50 tỷ đồng tiền Việt Nam. Chưa kể số
lượng các địa phương tổ chức. Quá trình xây dựng, các thế lực thù địch
và bọn phản động trong nước chưa chịu cải tạo nào có để cho ta yên, mà
chúng rắp tâm phá hoại. Hai lần chúng ra tay, nhưng đều bại lộ do ta đề
cao cảnh giác. Một lực lượng quân đội, công an, trinh sát, tình báo được
bố trí chặt chẽ, vì vậy mọi mưu đồ của chúng đều bị ta chặn đứng. Thế
mới thấy sản xuất gắn liền với bảo vệ vừa là phương châm trở thành
nguyên tắc không thể coi thường trong bất cứ lúc nào.
Để có
một công trình mang tầm thế kỷ, đánh thức vùng Chiến khu Đ rộng lớn như
thủy điện Trị An, phải huy động tới ba chục triệu ca công, trong đó có
tới hai mươi ngàn thợ làm 3 ca liên tục để điều khiển những cơ giới máy
móc hiện đại, ngoan ngoãn phục vụ con người, thực hiện trong khoảng 8
năm từ 1983-1990, khi các tổ máy đã bắt đầu vận hành. Tổng chi phí đầu
tư cho toàn bộ công trình lên đến 200 triệu USD.
Qua gần
12 năm công trình đi vào hoạt động, đã tạo ra một hiệu quả vô cùng to
lớn cả về kinh tế, xã hội… cho hàng chục triệu con người. Đặc biệt, tăng
sản lượng điện đáp ứng cho các khu công nghiệp ở các tỉnh thành phố miền
Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long tăng thêm hấp dẫn mời gọi đầu tư
nước ngoài vào làm ăn với ta, thu hút hàng triệu lao động có công ăn
việc làm ổn định cuộc sống. Ánh điện đã về tới những bản làng hẻo lánh
xa xôi, làm cho bộ mặt nông thôn vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
và căn cứ kháng chiến thay đổi rõ. Do giám sát chặt chẽ công trình, phát
huy ý thức làm chủ của người lao động, hạn chế tối đa nạn lấy cắp vật tư
nên đã tiết kiệm được một khoản tiền, hàng đáng kể. Dôi ra được 10 triệu
USD và 3.000 tấn thép trả lại cho Liên Xô. Đội ngũ chuyên gia làm việc
hàng ngày giúp ta xây dựng luôn luôn tỏ lòng cảm phục tinh thần lao động
cần cù, sáng tạo của cán bộ, công nhân Việt Nam. Và họ càng hết sức trân
trọng kính phục người chỉ huy công trường lại xuất thân từ một vị tướng
tình báo tài ba mới bước chân ra khỏi khói lửa chiến tranh kéo dài mấy
chục năm ra làm kinh tế. Đến nay ta đã hoàn trả nợ vay của bạn Nga, còn
“lãi” nguyên vẹn công trình thủy điện, vẫn đảm bảo cho công trình hoạt
động khá ổn định. Nguồn lợi ấy còn hết sức dồi dào góp phần xây dựng quê
hương, đất nước cả hiện tại và tương lai.
Để có
dòng điện sáng khởi nguồn từ chinh phục dòng thác Trị An, nơi rừng xanh
nước biếc, một thời đầy bom đạn ấy, không chỉ đổ mồ hôi, công sức của
triệu triệu con người, thắm đượm nghĩa tình bè bạn mà còn đổ cả máu.
Trên một trăm nhân công cùng một số cán bộ đã vĩnh viễn nằm xuống vì sốt
rét ác tính, tai nạn rủi ro và vì cả những quả mìn còn sót lại phát nổ.
Kể đến đây giọng ông như lắng lại, mắt ngấn lệ chực trào ra, tôi hiểu
ông đang nghĩ gì. Ông còn chân thành khuyên rằng: tất cả chúng ta, dù
cuộc sống có chút may mắn được khá giả hoặc tạm thời khó khăn, túng
thiếu, cũng không cho phép được quên họ - những người đã ngã xuống vì
nguồn điện, vì cuộc sống tốt đẹp hôm nay.
Sự ra
đời của công trình thủy điện Trị An đó là thành quả lao động tập thể,
xuất phát từ chủ trương đúng đắn của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, sự
hỗ trợ đắc lực của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quân, dân các
tỉnh thành Nam Bộ, sự giúp đỡ tận tình vô tư của bạn bè quốc tế mà chủ
yếu là Chính phủ – nhân dân Liên Xô, đồng bào Việt Nam sống xa Tổ quốc…
Nhưng trong đó cũng phải ghi nhận vai trò trách nhiệm tài năng và trí
tuệ của Trưởng ban chỉ đạo xây dựng công trình – lão tướng Trần Văn Danh.
Với thành tích đặc biệt xuất sắc ấy, năm 1990, Viện thi đua khen thưởng
Nhà nước đề nghị Chủ tịch Hội đồng Nhà nước phong tặng đồng chí danh
hiệu cao quý Anh hùng Lao động.
Trong
bản tuyên dương Anh hùng của Đảng và Nhà nước có đoạn viết : Đồng chí
Trần Văn Danh luôn nêu cao phẩm chất của người đảng viên cộng sản, không
quản tuổi cao sức yếu, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình hăng say
công tác, gần gũi và cảm thông với mọi thành viên trên công trình, trở
thành tấm gương sáng cho mọi người học tập.
Nhân
dịp đón danh hiệu cao quý này, ông được đồng chí Võ Văn Kiệt – Phó chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng ngợi khen là “người chỉ huy cương nghị, tổ chức
và xây dựng thắng lợi công trình thủy điện Trị An lịch sử”.
Còn Đại
tướng Lê Đức Anh – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trong thư chúc mừng và khen
ngợi ghi : Đồng chí Ba Danh là người bạn tận tình phục vụ Tổ quốc, có
tài năng trong đánh giặc và có tài năng trong xây dựng Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý : Anh hùng Lao động.
Đại tướng còn ý nhị tặng người anh hùng cặp bình gốm nho nhỏ xinh xinh
in dòng chữ : “Thân tặng anh Ba Danh cặp bình để cắm hoa cho đời ta luôn
tươi như hoa”.
Trước
khi được tuyên dương danh hiệu anh hùng, ngày 10 tháng 7 năm 1989, ông
được Chủ tịch nước Võ Chí Công tặng thưởng Huân chương Lao động hạng
nhất.
Trong
cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của mình, Trần Văn Danh
còn được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý. Huân chương
Quân công hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Độc
lập hạng nhất. Khi ông được đón nhận Huân chương Độc lập, một đồng chí
lãnh đạo cao cấp của Đảng nói vui : “Huân chương Độc lập hạng nhất là
Nhà nước tặng anh trong nghề làm tình báo đấy”. Ông cười vui, dù rất
khiêm tốn song vẫn cảm thấy mình thật hạnh phúc.
Đồng
Nai không phải là nơi chôn rau cắt rún, song Biên Hòa – Đồng Nai với ông
xiết bao gắn bó nghĩa tình. Theo ông, Đồng Nai đằm thắm tình đất, tình
người lắm. Các cụ xưa nói : một ngày nên duyên kia mà, huống chi bản
thân ông qua hai thời kỳ gắn bó với mảnh đất này không đằm thắm, tri ân
sao đặng. Ông Ba Trần nhớ lại :
Vào năm
1947, mình là một đội trưởng quân báo. Có những lần về Bửu Long để nắm
tình hình địch. Khi qua cánh đồng lúa Tân Phong (giờ là sân bay Biên Hòa)
khi quân Pháp phục kích. Rất may nhờ một ông nông dân đi soi ếch, soi cá
gì đó phát hiện nơi mật phục của chúng. Giả vờ như đi “nhầm” đường, cả
gan dẫm lên người chúng. Đương nhiên là tên Tây to như hổ pháp lồm cồm
đứng dậy, chửi bới om xòm, đánh động để tụi này luồn tránh qua nơi khác.
Một lần nữa, cũng là giặc phục nhưng không phải bọn Tây mà Việt gian kia.
Một phụ nữ đi bán hàng rong nhận ra mưu đồ ác hiểm của chúng, bà liền
nghĩ ra cách đuổi đánh và la đứa con “hư”. Khi đi qua tìm cách nói nhỏ
với anh em đàng mình : kích, kích đó ! Thế là cả bọn này thoát hiểm. Đấy
! Dân thông minh, dũng cảm không ? Không có những nghĩa cử cao đẹp ấy
thì tụi mình toi mạng rồi còn gì ? Rồi từ năm 1948, mình được đề bạt làm
Tham mưu phó Tỉnh đội Thủ Biên (bao gồm hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một–
chưa chia tách) phụ trách cả quân báo và tình báo. Trên cương vị của
mình, tôi đi sâu nghiên cứu tình hình, chỉ đạo tổ chức, xây dựng và phát
triển lực lượng rộng khắp và hoạt động ráo riết, có hiệu quả. Làm cho cả
quân Pháp và ngụy quân, ngụy quyền bao phen phải điên đầu. Để hoạt động
được như vậy đều có dân che chở, đùm bọc. Dân tin yêu, quý mến là vấn đề
sống còn của cách mạng. Cho đến năm 1954 lên đường ra miền Bắc tập kết,
những hình ảnh đó của người dân Biên Hòa vẫn đọng mãi trong tôi.
Thế rồi
năm 1961, tôi được trở về miền Nam chiến đấu, giữ trọng trách Phó tham
mưu trưởng Miền, chỉ đạo hệ thống lực lượng đặc công, tình báo. Dĩ nhiên,
do địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng như tỉnh Biên Hòa, có nhiều
căn cứ quân sự, hậu cần kỹ thuật của đối phương nằm sát thủ phủ Sài Gòn.
Chính vì vậy mạng lưới đặc công, tình báo của ta lại được xây dựng, phát
triển rất mạnh làm nên những chiến công cực kỳ vang dội cả trong nước và
thế giới, Mỹ-ngụy phải run sợ.
Đất
nước được giải phóng, Nam – Bắc sum họp một nhà nhưng do vừa thoát ra
khỏi cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt nên thiếu thốn mọi bề, đặc
biệt là nguồn điện phục vụ cho sản xuất và đời sống. Cấp trên điều động
tôi làm Thứ trưởng Bộ Điện lực, trực tiếp làm Trưởng ban Xây dựng công
trình thủy điện Trị An, nằm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Trước công việc
mới tuy có nhiều khó khăn nhưng được Đảng tin yêu, nhân dân giao phó,
lại mang trong mình bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” tôi dồn hết tâm
trí để làm. Bên cạnh đó lại được tập thể đoàn kết giúp đỡ, trong đó có
Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai nên tôi cũng đã hoàn thành trọng trách của
mình. Lão tướng tâm sự : chỉ vài tháng nữa là tôi làm thượng thọ “Bát
tuần” – tám mươi tuổi. Tôi đã làm tròn nghĩa vụ một công dân, một đảng
viên theo lời Bác dạy. Ngưng giây lát, vị lão tướng ngước lên bàn thờ
nơi có tấm di ảnh của người bạn đời chung thủy. Giọng ông như lắng lại...
Qua cơn
xúc động ông còn cho hay : dạo này sức yếu lại dao động huyết áp, các
bác sĩ khuyên ít đi xa. Song mỗi lần có dịp trở về thăm Đồng Nai làm tôi
phấn chấn đến ngỡ ngàng khi thấy tỉnh nhà có những thay đổi lớn lao. Các
khu công nghiệp mọc lên san sát, thu hút đông đảo lực lượng con em lao
động có công ăn, việc làm… một đội ngũ cán bộ lãnh đạo cán bộ quản lý
được đào tạo, năng động, trẻ trung. Nhìn họ, tôi đặt niềm tin vào tương
lai của tỉnh nhà sẽ có bước tiến dài hơn, xa hơn và vững chắc hơn trên
con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Hôm nay tuy tuổi cao, sức yếu nhưng Thiếu
tướng – Anh hùng Lao động Trần Văn Danh chưa nghỉ ngơi, ông vẫn tham gia
hoạt động xã hội và công tác tại Ban chỉ đạo An ninh quốc gia – Thành ủy
thành phố Hồ Chí Minh.
BT - QH