Anh dùng Tống Viết
Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Lạc, huyện Trần Văn
Thời, tỉnh Cà Mau. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên,
trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 367, đặc công, Quân khu 7.
Từ tháng 2 năm 1962
đến Xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông Nam Bộ và Cam-pu-chia.
Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường huấn
luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), diệt và làm bị thương 500 tên
địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Cam-pu-chia)
ngày 22 tháng 1 năm 1971, đồng chí trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra,
lập phương án tác chiến. Đơn vị của anh đã phá hủy nhiều máy bay, diệt
nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 1.000 tấn bom đạn.
Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4 năm 1973, khi sắp nổ súng thì
địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ binh
thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo, kết quả đã
phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26 tháng 6 năm 1974,
trong trận đánh căn cứ biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu
đoàn diệt 200 tên, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22 tháng 8 năm
1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tập kích căn cứ 1 chiến đoàn
ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh,
anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ. Từ tháng 8 năm 1976 đến tháng 11 năm 1978, Tống Viết Dương là
chủ tịch quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng chí đã được
tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. Ngày 6 tháng
11 năm 1978, Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân.
CHUYỆN
VỀ MỘT ANH HÙNG
XUÂN BẢO
1.Thật
không sao hình dung nổi, ngay đầu thế kỷ 20, khi người ta đồn rằng ở mạn
Lục tỉnh lúa mạ cũng đủ nuôi sống con người. Còn cá tôm thì con nào
thiệt bự mới xài, loại nhỏ chỉ làm phân bón. Thế mà gia đình ông Rỏ và
bà Ngọ phải rời quê cha đất tổ từ mảnh đất Ba Tri (Bến Tre) vốn giàu có
xưa nay, nhưng do chế độ khắc nghiệt của thực dân Pháp nên phải đùm túm
nhau xuống tận Vĩnh Thuận (Rạch Giá) làm ăn. Mảnh đất gần như tận cùng
phía biển Tây Nam cũng chẳng phải là nơi nương thân của một gia đình hơn
mười miệng ăn. Họ lại một phen nữa tha hương. Ấp Bàu Phong, xã Phong Lạc,
huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu lúc này mới thật sự là đất sống của gia đình
ông Rỏ. Vài năm sau khi trụ lại đây, làm ăn có bề dễ chịu, cậu bé Ngọc
Ngà, người con thứ 11 trong gia đình ông Rỏ bà Ngọ ra đời vào một ngày
đầu thu năm 1925.
Khi cậu vừa tròn 7
tuổi thì người mẹ thân yêu qua đời vì một cơn bạo bệnh do làm lụng vất
vả sớm khuya và cũng do một chuyện bất trắc xảy ra cho người thầy thuốc
được gia đình mời về chữa bệnh cho bà. Chuyện là thế này: Ở Rạch Mũi có
tên địa chủ Trần Văn Hữu, hắn vừa là điền chủ vừa là tay anh chị trong
làng, có biết võ nghệ và nghề thuốc. Anh Sáu (tức Tống Viết Sẻ) của cậu
bé trước đó có học võ với tên Hữu, sau anh theo học với một thầy võ
người Miên. Ông này rất giỏi về thuốc dân tộc. Gia đình anh mời thầy
Miên về chữa bệnh cho bà mẹ. Thầy vừa mới thăm bệnh xong, thì bọn tên
Hữu cùng với em rể là Tư Mẫn và Bảy Lồng (em ruột Mẫn) xông vào nhà
khiêu khích. Hữu thách nếu thầy Miên đánh thắng hắn thì hắn cho ở lại
chữa bệnh. Nếu thua thì phải cuốn gói đi ngay. Bất đắc dĩ, thầy Miên
nhận lời. Bắt đầu vào trận đấu, hai bên vừa bái tổ xong thì trớ qua trớ
lại hai bộ, tên Hữu đánh thầy Miên trúng ngực. Một cú đấm trời giáng
nhưng chẳng nhằm nhò gì. Thầy Miên vẫn trụ tấn vững vàng và các cú sau,
thầy Miên chỉ tránh. Người vợ thầy đứng ngoài nói: sao để người ta đánh
mình hoài vậy? Thầy Miên vừa xoay bộ vừa nói: “Anh Sáu (tức Hữu) đánh
tui hai cái, bây giờ tui đánh anh Sáu một cái”. Nói xong, thầy Miên đánh
một cái trúng giữa trán tên Hữu, cái khăn rằn đội đầu bay xa đến hai mét.
Một cục u ngày càng phình to ra trên trán hắn. Thầy Miên mời Sáu Hữu
xuống ghe lấy ngải ngâm rượu chữa, nhưng Hữu hổ thẹn không dám đi và
trong buổi chiều hôm đó thầy Miên rời Bàu Phong đi ngay vì sợ bọn ác bá
trả thù. Bà Ngọc lặng lẽ qua đời sau đó mấy hôm, hưởng dương 49 tuổi.
Cả gia đình chưa
nguôi cái tang mẹ thì hai năm sau, anh thứ tám của cậu bé đi phát cỏ
ngoài đồng bị sét đánh chết. Ông Rỏ thương vợ, thương con đành ở vậy “gà
trống nuôi con”, nhưng nỗi buồn thì không sao dứt được nên thường uống
rượu và đánh bài để giải buồn. Gia cảnh ngày càng lâm vào nợ nần, túng
thiếu. Tống Ngọc Ngà lúc này đã gần 10 tuổi mà chưa được một con chữ nào
vô bụng. Mà không riêng gì cậu bé, cả một vùng quê hẻo lánh này không có
một trường học nào nên trẻ em bị thất học. Gia đình cậu bé gần như mọi
người đều không biết chữ, chỉ có anh Năm, anh Sáu, anh Bảy tự mày mò học
lóm, đọc được chữ in để đánh vần, nói thơ Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu.
Cũng may cho cậu, năm 1934 có anh Năm Mạn là bà con bên ngoại ở Tân Hưng,
Ba Tri (quê bà Ngọ) vào thăm. Anh có bằng Tiểu học nên bà con mời anh ở
lại dạy học cho đám trẻ con. Họ cất một mái trường lợp bằng lá dừa nước.
Gần 20 con cháu trong xã đến lớp. Cậu bé Ngọc Ngà được học chữ, làm
thông thạo 4 phép toán. Thầy Năm Mạnh dạy luôn cả tiếng Tây (Pháp) cho
bọn trẻ, nhưng chỉ mới dạy vần và tiếng một (vocabulaire). Thầy Năm
thường khen và động viên cậu bé học giỏi, sáng dạ.
Hai năm sau, câu bé
này lại chứng kiến một cảnh hãi hùng của gia đình. Đám bạc có anh Năm
của cậu và tên Tư Mẫn (em rể Sáu Hữu). Hai người cãi cọ và xô xát. Sau
đó Mẫn chạy về tâu với Hữu. Chúng viết một trát giả (như công văn ngày
nay) đòi ông Rỏ, anh Tư, anh Năm của cậu sang xã để xử. Nghe có trát là
cả nhà vội đi ngay.
Anh Sáu Sẻ vừa đi
Rạch Rập về nghe chuyện vội đuổi theo, thì ra không có trát gì mà chỉ là
trò gạt. Anh Năm của cậu vừa gặp tên Hữu, chưa kịp phân trần thì tên Hữu
đã đánh anh gục ngay tại chỗ. Anh Tư nói: “Thưa anh Sáu (Hữu) chuyện đâu
còn có đó, sao anh lại đánh em tôi như vậy?”. Sáu Hữu xông thẳng tới
định đánh nhưng anh Tư đã bỏ chạy. Thực ra hai anh có biết võ nghệ gì
đâu. Vừa đúng lúc đó anh Sáu Sẻ chạy tới chứng kiến toàn bộ sự việc và
cũng thưa gởi với Sáu Hữu đàng hoàng. Tên Hữu vừa trông thấy anh Sáu Sẻ
đã quát lên: “Hôm nay tao đã gặp mày rồi, tao sẽ giết mày để trả món nợ
với thằng Miên xưa. Mày là đồ phản thầy”. Vừa nói xong, tên Hữu nhảy vào
cặp cổ anh Sáu. Nhưng anh Sáu đã né xuống tránh được. Vờn đến lần ba,
anh Sáu vẫn tránh được. Anh Sáu lùi ra xa và nói: “anh Sáu (Hữu), anh đã
từng là thầy của tui, anh định giết tui. Tui đã ba lần nhường anh là vì
tui còn kính nể thầy. Nếu anh tiếp tục đánh tui thì buộc lòng tui phải
đánh lại”. Tên Hữu không chịu, nhảy vô định bẻ cổ anh Sáu Sẻ. Sẵn có con
dao hiệu Con chó, gọt xoài bỏ trong túi, anh rút ra và nói với Sáu Hữu:
“Nếu anh còn đánh tui, tui sẽ đâm anh”. Tên Hữu không trả lời mà hắn
nhào vô ôm Sáu Sẻ, con dao đâm lút cán vô bụng Sáu Hữu và kéo xiết tận
hông, lòi ruột ra. Sáu Hữu bị bồi thêm một nhát trúng tim, máu phọt ra
và chết ngay tại chỗ. Tên Tư Hai, anh ruột Sáu Hữu, cầm cây búa bổ thẳng
vào anh Sáu Sẻ, anh tránh được và đâm thẳng con dao đang dính máu tên
Hữu vào người tên Tư Hai. Tên này chỉ bị thương, sau chữa chạy thì lành.
Sau vụ này, Tòa Đại
hình Cần Thơ kết án anh Sáu (tức Tống Viết Sẻ) 10 năm tù khổ sai, anh
Tống Viết Trới tám năm tù khổ sai. Còn Tống Viết Rỏ, anh Tống Viết Huệ (thứ
5), trắng án, nhưng cũng đã bị ngồi nhà tù hơn hai năm rồi. Ấn tượng in
sâu vào ký ức cậu bé Tống Ngọc Ngà là các anh bị còng tay dẫn lên nhà tù
Bạc Liêu. Tía và các anh nước da xanh lét, còng chung một dây mỗi khi bị
dẫn qua Tòa Bố. Năm sau nữa, Tòa Đại hình Cần Thơ mới xử lại. Và quang
cảnh phiên tòa thực dân Pháp đã để lại nỗi hãi hùng cho cậu bé. Chánh án
là một tên Pháp đầu hói, mặc áo màu đỏ, có bốn tên Việt Nam áo đen, khăn
đóng là hội đồng quản hạt. Tòa còn có đủ lệ bộ chưởng lý, thầy kiện, lục
sự, mã tà, pô-lít. Nhưng điều bất công dễ nhận ra là công lý thuộc về kẻ
mạnh.
Thế mà mới 14 tuổi,
cậu bé Tống Ngọc Ngà đã phải bỏ học, vào rừng đốn củi, phát rẫy, quăng
câu, bắt cá, làm lụng như một lực điền thực thụ. Cậu còn phải đi làm
mướn kiếm cơm ăn. Xã hội Nam Bộ lúc bấy giờ vẫn một cổ hai tròng cho
người nô lệ. Tá điền và người nông dân bị áp bức bóc lột tàn tệ. Một số
nơi đã có những cuộc nổi dậy, người dân phải tự trang bị cho mình vũ khí
để tự vệ. Phong trào học võ để phòng thân xuất hiện. Cậu bé Ngọc Ngà đã
có sức vóc của một thanh niên. Cậu cũng học võ và cáp độ nhiều trận,
thắng có mà thua cũng có.
Cũng trên quê hương
này của ông Sáu Lầu, người đã đặt nền móng sáu câu vọng cổ nổi tiếng,
Tống Ngọc Ngà cùng với một số bạn bè yêu văn nghệ học đờn ca cổ. Cậu say
mê học và được tía mua cho một cây đờn kìm. Lúc đầu vào nhịp 4, sau lên
nhịp 8 lái 16 và nhịp 16 lái 32. Các bài ca không có tên tác giả, chỉ
biết nói về ông Nguyễn An Ninh, ông Nguyễn Thái Học... Nội dung các bài
ca này gợi ý thức cho người dân đang bị mất nước, càng ca càng lắng sâu
vào tâm hồn, thương thương, nhớ nhớ. Tại sao lại là nước An Nam? Ca cứ
ca, đờn cứ đờn chứ không sợ nguy hiểm gì hết, ý thức còn mù mờ lắm. Chỉ
đến khi có một lá truyền đơn gài vào đầu cây sậy, cắm ngay trước nhà mới
hiểu ra: Họ (những người Cộng sản) kêu gọi lòng yêu nước, chống thực dân
Pháp. Tống Ngọc Ngà liên tưởng tới mấy thằng Tây Ba-rết-ty Giắc và mấy
tên Việt vô dân Tây làm chủ các đồn điền, ruộng thẳng cánh cò bay, tới
mùa thu lúa ruộng không biết để đâu cho hết, trong khi người nông dân
đầu tắt mặt tối thì cơm không đủ no, áo không đủ mặc. Thuế thân là kiểu
bóc lột quá tàn nhẫn của bọn thực dân; không có thẻ thuế thân thì chỉ
còn cách sống chui nhủi, trốn tránh. một người dân đến tuổi 16, 17 thì
đóng thuế tiểu, 18 tuổi đóng thuế thân chính thức 4,5 đồng/năm. Trong
khi đó lúa chỉ 3 cắc (hào) một giạ.
Năm 1940, Tống Ngọc
Ngà tận mắt chứng kiến bọn Pháp bắt 10 chiến sĩ Cộng sản về nhốt ở Đề-pô
rượu Cà Mau và sau đó đem ra sân banh hành hình. Trong đó có anh Phan
Ngọc Hiển. Riêng anh Trần Văn Thời chúng giết ngoài Côn Đảo. Sau này tên
các anh được đặt thành tên huyện.
Lần đầu tiên Tống
Ngọc Ngà được tiếp xúc với các anh Ba Cưu, Tám Mao là khi đang ở ngoài
chòi tại Lung Trường. Chòi của Ngà được các anh dùng làm nơi in truyền
đơn, in bằng giấy xu-sa (in thạch). Bọn Pháp và việt gian lùng bắt được,
trói liệng các anh xuống xuồng chở đi. Ngà chỉ biết thương nhưng cũng sợ.
Từ đó bọn làng cứ rình rập nhà Ngà, hạch hỏi hoài làm cho cả nhà phải lo
sợ. Tía của Ngà ngày càng già sọm đi vì buồn, vì nghèo. Lúa vừa chín thì
bọn điền chủ đã cho người tới đòi nợ hăm he. Mùa xong trong nhà không
còn một hột lúa.
Tống Ngọc Ngà quyết
chí ra đi, nhưng đi đâu bây giờ? Lại tìm về quê nội Ba Tri. Hành trang
chỉ có hai bộ áo bà ba, một cái nón nỉ bọc trong giấy nhật trình và 5
đồng bạc (Đông Dương) dành dụm bấy lâu nay làm lộ phí, Về Mỹ Chánh Hòa
gặp lại anh Sáu Sẻ, lúc này đã thay tên đổi họ để ẩn náu và giấu tung
tích của tên “tù vượt ngục Côn Lôn”. Anh Tư cũng đã trở về. Anh cũng là
“tù vượt ngục”, cũng giấu hành tung của mình. Được bà con dòng họ bảo
bọc cưu mang, khi về đến nơi, anh em gặp nhau cũng chỉ dám nhìn nhau để
thương trong bụng. Thậm chí nhìn thấy các cháu mà không dám nói ra mình
là chú ruột của chúng. Đang bơ vơ, lưu lạc thì may mắn Ngà được gia đình
anh chị Tám Kèo (Tống Viết Kèo) là bà con chú bác cho ở nhờ, mặc dù anh
chị rất nghèo. Tấm lòng anh chị Tám, nhất là chị đúng là tấm lòng vàng.
Sau đó đón tía từ Cà Mau về. Anh chị Tám còn lo việc hỏi vợ cho Ngà.
Tháng 6 năm 1945 là ngày hỏi vợ và tháng mười năm đó thì làm lễ cưới. Kể
cũng lạ, một con người tứ cố vô thân, không nhà cửa, không ruộng vườn,
nghèo đến tận cùng xã hội lại được con gái cùng làng thương yêu nhất mực.
Cả cha mẹ vợ cũng đều nhất trí. Chị Huỳnh Thị Sáu kém chồng 3 tuổi, ở
vào cái tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu, bước vào cuộc đời làm vợ, làm mẹ cho
tới tận ngày hôm nay vẫn một dạ một lòng chung thủy sắt son. Mặc dù trải
qua muôn ngàn sóng gió trong thời chín năm, chồng đi đánh giặc cứu nước
biền biệt, rồi xa chồng vò võ trong những năm chồng đi tập kết và suốt
gần 20 năm chống Mỹ, chị Sáu vẫn trung trinh nuôi con chờ chồng, chờ
ngày đoàn tụ.
Một tin vui lan
nhanh từ ấp này đến xã khác. Tin Tổng khởi nghĩa. Ngà đang đi đóng thuế
thân ở thị xã vừa về tới Giồng Trôm thì nghe tin Nhật đầu hàng, Việt
Minh đã nổi dậy cướp chính quyền. Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ đã khởi nghĩa
thành công. Có vui sướng nào bằng? Về đến làng thì bọn ác ôn, tề xã,
hương quản Triêm và địa chủ như mụ Tưởng đã trốn sạch. Có một số cũng đi
theo Cách mạng, nhưng là bọn cơ hội, gió chiều nào che chiều đó.
Các chiến sĩ Cách
mạng năm 30, 40 của Nam kỳ khởi nghĩa đã phá tung ngục tù thực dân về
với nhân dân. Các cơ quan Việt Minh ra đời, lấy lực lượng thanh niên làm
rường cột nước nhà. Tổ chức các đoàn thể, thành lập Thanh niên Tiền
Phong, sau này lấy tên là Du kích quân. Tống Ngọc Ngà ngày đêm say mê
công tác, Và Ngà đã được cấp trên đưa đi học trường võ bị ở Giồng Trung
một tháng. Thực chất là học quân sự. Học đi đếm một, hai, học bắn súng
mút-cờ-tông, học đâm dao găm và đoản đao. Đi học về, Ngà được phân công
dạy lại cho hàng trăm thanh niên trong xã và được chỉ định làm đội
trưởng Tự vệ chiến đấu xã Mỹ Chánh Hòa.
Chưa đầy tháng sau,
đùng một cái, đội du kích quân của xã Mỹ Chánh Hòa được lệnh đi chi viện
cho Sài Gòn. Bọn Anh, Ấn núp dưới chiêu bài đồng minh tước khí giới Nhật
nhưng thực chất là giúp thực dân Pháp gây hấn trở lại, muốn xâm chiếm
nước ta lần nữa. Đội quân của Ngà tập hợp được 40 anh em thanh niên hăng
hái nhất lên đường. Cuộc đời binh nghiệp của Ngà bắt đầu từ đó, từ cái
đêm đầu tiên thoát ly gia đình cùng đồng đội ngủ lại ở trường Phan Thanh
Giản để ngày mai tiến về Sài Gòn.
Với sức lực của tuổi
hai mươi mốt, dáng người tầm thước, nụ cười tươi tắn luôn nở trên môi,
đặc biệt đôi mắt sáng nhìn cuộc sống mới đầy niềm tin, Tống Ngọc Ngà lúc
này mang cái tên mới Tống Viết Dương, để rồi sau này, trong suốt 30 năm
chiến tranh giữ nước, Tống Viết Dương đã lập nhiều chiến công hiển hách.
Bến tre có 135 ngày
tự do dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kể từ ngày khởi nghĩa thắng
lợi đêm 23 rạng ngày 24 tháng 8 năm 1945. Bến Tre là tỉnh sau cùng bọn
Pháp đặt chân tới vì ba bề bốn bên đều là sông nước. Ngày 8 tháng 2 năm
1946, quân Pháp tập trung lực lượng gồm bộ binh, pháo binh và có máy
bay, tàu chiến yểm trợ hình thành ba cánh quân đánh chiếm Bến Tre. Mũi
chính từ sông Hàm Luông theo sông Bến Tre vào thị xã; mũi thứ hai theo
hướng lộ 6 và Ba Lai; mũi thứ ba từ sông Mê Kông (giờ đây gọi là sông
Tiền) tiến theo kênh Giao Hòa. Các đơn vị vũ trang của ta chặn đánh địch
rất quyết liệt. Ai có thứ vũ khí gì thì dùng thứ đó, trong lúc bọn Pháp
vũ trang đến tận răng. Máu của các chiến sĩ, của những người yêu nước,
của đồng bào đã chảy trên vùng đất của ba giải Cù lao này. Kỷ niệm chiến
tranh đầu tiên của Dương là trận đánh Nhà việc (như trụ sở xã) Châu Bình.
Lần đầu tiên đánh đồn, Dương vui sướng nhưng cũng rất hồi hộp. Lúc bò
vào đồn người cứ run lên, nhưng khi đã nổ súng thì mọi sự sợ hãi đều tan
biến. Trang bị của ta quá thô sơ, trong lúc bọn Pháp thì có cả máy bay,
tàu bò, nhưng chí căm thù giặc đã thắng tất cả. Tống Viết Dương nhớ mãi
chuyện tổ chức phân công vào chợ Bến Bàu trong đêm tìm mua cho được một
chiếc quan tài để chôn cất anh Dương Văn Dương, tư lệnh Bình Xuyên, hy
sinh khi máy bay Pháp oanh tạc trả thù trận Châu Bình chúng thua đau (trận
Châu Bình (ngày 16 tháng 1 năm 1946), ta diệt 150 tên giặc).
Căm thù dồn lên căm
thù, anh Sáu Sẻ của Dương tham gia trừ gian diệt tề cùng với một số đồng
chí khác đã bị Pháp bắn chết do bọn việt gian chỉ điểm. Sự kiện đau lòng
này thôi thúc Tống Viết Dương tìm ông Đồng Văn Cống để nhập ngũ, giã từ
người vợ trẻ mới cưới nhau được mấy tháng và đang có bầu đứa con đầu
lòng cũng không biết là gái hay trai? Sau đó nghe nói lại vì chạy giặc
càn nên hư thai (con đầu). Người con thứ hai sinh năm 1948. Dương rất
thương tía vì bây giờ ông đã già yếu quá rồi, không có người con ruột
nào trực tiếp giúp đỡ sớm hôm. Lại càng thương cha mẹ vợ có người con
trai thứ năm cũng đi đâu không rõ, bao nỗi tơ vò rối rắm như mớ bòng
bong, Dương quyết gạt sang một bên và lên đường. Cả hai anh em Tống Viết
Mười và Tống Viết Dương cùng vào bộ đội một ngày. Đó là ngày 1 tháng 3
năm 1946. Đơn vị đầu tiên là phân đội Nam Tiến, phân nửa là các đồng chí
miền Bắc, sau thành Chi đội 19. Đến tháng 6 năm 1947 thành Trung đoàn 99
của Bến Tre anh hùng.
Vệ quốc đoàn là bộ
đội chủ lực. Khắp cả nước, tỉnh nào cũng tổ chức lực lượng vũ trang này.
Mỗi tỉnh có một chi đội. Nam bộ thì gọi theo một số hiệu như Biên Hòa có
Chi đội 10 của Huỳnh Văn Nghệ, ở Quảng Trị có Chi đội Nguyễn Thiện Thuật,
ở Thừa Thiên – Huế có Chi đội Trần Cao Vân... Bến tre có Chi đội 19 của
Đồng Văn Cống. Sau khi lực lượng đủ mạnh thì chuyển chi đội thành trung
đoàn chính quy của tỉnh. Phạm vi hoạt động của Chi đội 19 rất rộng,
ngoài Bến Tre, chi đội còn hoạt động cả trên địa bàn tỉnh Gò Công và
toàn bộ cù lao An Hóa của tỉnh Mỹ Tho, Chi đội 19 trực thuộc Khu 8. Bộ
Tư lệnh Quân khu 8, nơi sanh ra Tiểu đoàn 307 lừng danh. Tống Viết Dương
cùng đồng đội của mình đã đặt chân lên hầu hết các địa phương trong tỉnh.
Những trận chống càn, đánh giao thông chiến, công đồn, diệt viện... làm
cho quân Pháp mất ăn mất ngủ. Quân dân Bến Tre liên tiếp phục kích trên
các đường giao thông thủy bộ, đánh chìm, bắn cháy nhiều ghe tàu địch,
đột nhập vào các thị xã, thị trấn diệt tề, trừ gian, phá hủy kho tàng.
Thực dân Pháp sử dụng nhiều tiểu đoàn cơ động càn quét, bình định để giữ
vững vùng sau lưng và tấn công mở rộng vùng chiếm đóng. Mặt khác chúng
ra sức củng cố ngụy quyền, phát triển ngụy quân, thi hành chính sách
“Đốt sạch, cướp sạch và giết sạch”. Điển hình cho chính sách tàn bạo này
là hoạt động của tên Tây lai Léon Leroy (Lê ông Lơ roa) cùng đội quân
UMDC. Tên Léon Leroy có cha người đảo Corse (Pháp) mẹ Việt. Từ một tên
thiếu úy quèn 1947, do có nhiều “thành tích” bắn giết nhân dân Việt Nam
mà thăng tới đại tá tỉnh trưởng (1950).
Sau khi tổ chức lễ
sinh nhật Bác Hồ ngày 19 tháng 5 năm 1947 xong, đơn vị Tống Viết Dương
được lệnh đi miền Tây. Đây là lần đầu tiên bộ đội của Dương hành quân
đường dài, vượt sông Mêkông (sông Tiền) lên đất Mỹ Tho “rau răm xoài hột”,
rồi phải vượt lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) đến Ấp Bắc. Địa danh Ấp Bắc sau
này thời chống Mỹ đã nổi danh trận đánh “trực thăng vận, thiết xa vận”
làm cho Mỹ – Diệm điên đầu. Rồi đơn vị tiến thẳng vào Đồng Tháp Mười.
Nơi đây, Tống Viết Dương lần đầu trong đời được dự một cuộc mít tinh lớn,
được nhìn thấy gần 2000 công chức, trí thức từ vùng tạm chiếm ra tới
bưng biền để tham gia kháng chiến, có ông Hoàng Xuân Nhị ở nước ngoài về,
có nhà giáo Phạm Thiều từ Sài Gòn ra. Đặc biệt có đồng chí Nguyễn Công
Trung, đại diện Xứ ủy Nam kỳ tham dự.
Trên đường hành quân,
Dương lại tận mắt nhìn thấy và được đặt chân lên Cù lao Ông Chưởng (còn
gọi là Cù lao Mỹ Chánh). Lại nhớ tới câu hát ru của các bà mẹ ngày nào:
Bao phen quạ nói với
diều
Cù lao Ông Chưởng có
nhiều cá tôm.
Đơn vị của Dương tới
Sa Đéc phối hợp cùng một đơn vị hải ngoại từ Xiêm La về (Thái Lan). Đơn
vị này hầu hết là các anh ở miền Trung (Bình Trị Thiên và Nghệ Tĩnh).
Giọng các anh nặng nên rất khó nghe, chỉ tiếp thu được hai phần ba câu
nói của các anh. Đặc biệt đơn vị này rất chính qui, đồng phục, nón sắt,
vũ khí trang bị tương đối, tiểu liên xu-ma-xin-tôm-xông, các bin và các
loại súng trường khác. Đặc biệt có cả đại liên Mỹ. Đến đâu là các anh
đào công sự ngay, khác với đơn vị của Dương chỉ nấp theo bờ mẫu, gốc dừa
để chiến đấu với giặc.
Đơn vị của Dương
tiếp tục hành quân chống càn ở An Nhơn – Hòa Tân. Dương có một kỷ niệm:
số là trong lúc xung phong, Dương gặp một thằng Tây trắng đang cố thủ
trong góc tường của một trường học. Đồng đội bắn yểm trợ, Dương bò sát
tới tận cửa sổ, ném lựu đạn vào nổ, tên Tây quờ quạng, Dương bồi thêm
hai phát tôm-xông. Dương thu của hắn một khẩu tiểu liên Sì-ten (Stell)
và thấy nó mặc bộ quần áo ka ki mới, Dương lột luôn. Rút ra mé sông,
đồng đội thấy Dương máu chảy ròng ròng liền la lên: Dương bị thương.
Nhưng không phải, chính là máu của tên Pháp còn đọng lại trong bộ quần
áo ka ki.
Đại đội 889 của Tống
Viết Dương lại hành quân qua lộ 4 vượt sông Bassat (nay là Hậu Giang).
Sông rộng, sóng lớn ai cũng lo, lại có tàu địch tuần tiễu trên sông,
nhưng rồi mọi việc đều ổn. Khi đến Cái Cau, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng, đơn vị tạm đóng quân. Đêm sau, lại một lần nữa vượt sông. Nơi đây
lần đầu tiên bộ đội ta đánh giao thông chiến, thu được khẩu đại bác 105
ly. Trận này, anh Quốc Hương, nghệ sĩ – chiến sĩ Tiểu đoàn 307 lừng danh
đã sáng tác bài hát Tầm Vu. Bài hát được quân dân Nam Bộ rất yêu thích.
Đơn vị lại lên đường tới Ô Môn (Cần Thơ) rồi sang Long Xuyên.
Đầu tháng 11 năm
1947, đại đội của Dương được lệnh rút về Bến Tre, lại hành quân đêm qua
các con sông lớn, trở về quê hương. Tía và vợ con đang mong, gặp lại
cảnh cũ người xưa xiết bao nỗi mừng vui. Đóng quân ở Tân Hưng, quê của
má Dương, bà con đến thăm rất đông. Dương gặp người anh con dì ruột và
được báo tin vợ Dương đang ở nhà má anh. Tống Viết Dương được nghỉ phép
về thăm vợ. Gặp Dương, chị Huỳnh Thị Sáu vẫn e lệ như ngày mới cưới. Mới
đó mà đã xa nhau hơn năm trời rồi, lại không có tin tức gì, biền biệt
tháng ngày. Chị Sáu đã kể lại tình hình gia đình bên chồng, bên vợ từ
ngày Dương ra đi. Bà con ruột thịt, một số bị giặc giết hại, một số bỏ
đi xứ khác, một số trụ lại. Bọn chúng biết gia đình Dương có hai người
đang ở bộ đội Đồng Văn Cống nên chúng gây rất nhiều khó dễ. Càng nghe vợ
kể, lòng Dương càng sôi sục căm thù giặc Pháp và tay sai. càng nung nấu
ý chí quyết tâm đánh giặc để rửa thù. Dương lại nhớ thương về các đồng
chí mình đã hy sinh ở chiến địa, bỏ lại vợ dại, con thơ và cha mẹ già
yếu. Hai người anh ruột của Dương là Tống Viết Sẻ và Tống Văn Trới đều
bị giặc Pháp bắn chết cách nhau 16 ngày (28 tháng 2 đến 14 tháng 3 năm
1946). Càng nghĩ càng mong trời chóng sáng để trở lại đơn vị. Đang trong
dòng suy nghĩ như vậy, vợ Dương tưởng anh đã ngủ nên hỏi: “Anh ngủ rồi
sao?” Dương giật mình trả lời vợ: “Anh chưa ngủ, anh lo cho em một mình
phải chăm sóc cho tía và ba má. Anh thương tía, thương ba má quá. Nếu
chiến tranh càng kéo dài, tía, ba má qua đời chắc anh không được nhìn
mặt”. Đúng như thế, gần cuối năm 1948, tía mất rồi tiếp đến ba của chị
Sáu cũng mất. Cùng trong một năm, hai cái tang lớn đè nặng lên vai người
vợ bé bỏng của Dương. Thương biết chừng nào! Khi chia tay, chị Huỳnh Thị
Sáu rưng rưng: “Anh đi mạnh giỏi. Ráng giữ gìn sức khỏe. Em chờ.”
Một ngày đầu xuân
1948, trong ngôi nhà của một nông dân nghèo tại xã Đại Điền, huyện Thạnh
Phú, chi bộ đại đội 889 của Trung đoàn 99 làm lễ kết nạp Đảng cho Tống
Viết Dương. Trên vách bằng lá dừa nước, có ảnh Bác Hồ, có cờ búa liềm,
đồng chí bí thư chi bộ dõng dạc tuyên bố: “Kể từ giờ phút này đồng chí
Tống Viết Dương, tức Tống Ngọc Ngà, có bí danh Công Lý là đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đảng tin cậy đồng chí, nhân dân và đồng đội tin cậy
đồng chí. Vậy hãy xứng đáng với lòng tin cậy ấy”. Tống Viết Dương thề
trước cờ Đảng và Bác Hồ trọn đời đi theo cách mạng, tuyệt đối trung
thành với Đảng, với nhân dân. Trong lúc đưa nắm tay thề lên ngang đầu,
Tống Viết Dương lần lượt nhớ lại những cảnh đời cơ cực trước kia của gia
đình, của tía má, của các anh, các chị và bà con nông dân từ Phong Lạc
cho tới Mỹ Chánh Hòa, nhớ tới người vợ yêu quí, nhớ tới những ngày đầu
cách mạng thành công và nhớ thương nhất là các đồng đội đã ngã xuống
trước mũi súng quân thù. Lòng anh bỗng dậy lên một niềm xúc động lớn.
Nước mắt tự nhiên trào ra. Anh như được tái tạo, như được hồi sinh, như
được chắp cánh để rồi lao vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Đúng ngày kỷ niệm lần thứ ba Cách mạng Tháng Tám thành công 19 tháng 8
năm 1948, anh được chuyển thành đảng viên chính thức của Đảng.
Tống Viết Dương cùng
với đại đội 889 thân yêu của mình đã chiến đấu khắp các chiến trường
Quân khu 8, suốt từ khi nhập ngũ năm 1946 cho đến cuối năm 1952, tham
gia hàng trăm trận đánh, có ngày tới ba trận như trận Bến Đá Phước Tuy
ngày 30 tháng 9 năm 1948. Có lúc mạng sống nghìn cân treo sợi tóc, đã
hai lần bị thương (nay là thương binh hạng 4/4), thế mà Tống Viết Dương
vẫn thoát được lưỡi hái của tử thần. Kể cũng lạ.
Lửa thử vàng, gian
nan thử sức, năm 1952 cuộc chiến đã chuyển sang một giai đoạn mới. Các
thứ quân đã đi vào ổn định, lúc này Tống Viết Dương được đề bạt làm đại
đội phó đại đội 889. Do nhu cầu phát triển lực lượng bộ đội địa phương,
cấp trên quyết định thuyên chuyển Dương về làm huyện đội phó Ba Tri, nơi
anh đã ra đi theo tiếng gọi của non sông, nơi anh đã được cầm khẩu súng
đầu tiên trong hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ. Và hơn hết, nơi đó là quê hương,
là xứ sở mà anh đã thuộc lòng từng hàng dừa, từng con sông bến nước với
những người thân yêu trong gia đình, với người vợ tảo tần, chung thủy,
với bà con nông dân chân chất.
3.Hiệp định
Giơ-ne-vơ được ký kết, như vậy kể từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 cho tới
ngày 20 tháng 7 năm 1954, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến ròng
rã 3.223 ngày đêm đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng oanh liệt, làm nên
một “Điện Biên chấn động địa cầu”. Ngày 22 tháng 7 năm 1954 Chủ tịch Hồ
Chí Minh ra lời kêu gọi và khẳng định: “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi
của ta. Nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được
giải phóng”. Vâng lời Người, nhân dân bến Tre tiễn đưa những con em của
mình xuống tàu tập kết ra Bắc. Tống Viết Dương lúc này đã là một đại đội
trưởng chững chạc, dạn dày lửa đạn. Anh xuống tàu trong đoàn quân của vị
chỉ huy tài ba, nổi tiếng của Sư đoàn 330 – đồng chí Đồng Văn Cống.
Trên kênh Chắc Băng,
hàng vạn đồng bào của ta đến để tiễn những đứa con ưu tú của mình ra Bắc,
ra Hà Nội với Bác Hồ. Bao dòng nước mắt đã chảy nơi đây với lời ước hẹn
bằng hai ngón tay (biểu hiện hai năm sau hiệp thương tổng tuyển cử thống
nhất nước nhà sẽ gặp lại). Dương biết rằng vợ mình và hai đứa con (một
gái lên 5 và một trai lên 3) không thể nào có mặt trong buổi tiễn đưa.
Nhưng anh vẫn thầm mong được gặp mặt. Lòng cháy lên niềm xót thương
người vợ thân yêu và da diết nhớ hai đứa con chưa tường mặt cha.
Sau mấy ngày đêm đi
tàu lênh đênh trên mặt biển Đông, Sư đoàn 330 cập bến Sầm Sơn. Cán bộ,
chiến sĩ sư đoàn được đồng bào Thanh Hóa đón tiếp nồng hậu. Các vị lãnh
đạo Đảng và Nhà nước ra tận nơi đóng quân của sư đoàn thăm hỏi. Đất nước
vừa ra khỏi chiến tranh làm gì có doanh trại. Thế là một lần nữa bộ đội
về chung sống với dân, được dân cho ở nhờ. Tình quân dân cá nước một lần
nữa được bồi đắp.
Trong khi các đơn vị
vũ trang của ta từ Nam sông Bến Hải đến tận chót mũi Cà Mau tập kết ra
Bắc, nghiêm chỉnh thực hiện những điều kiện của hiệp định Giơ-ne-vơ thì
ở miền Nam, bọn đế quốc Mỹ với chiến lược toàn cầu phản cách mạng lại
bắt tay ngay vào việc phá hoại hiệp định, nhằm tiêu diệt phong trào cách
mạng miền Nam. Chúng dựng lên bọn tay sai Ngô Đình Diệm, muốn biến nước
Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, muốn kéo biên giới Hoa Kỳ đến tận Vĩ
tuyến 17. Tống Viết Dương được tham gia lớp học về “Tình hình mới, nhiệm
vụ mới và chính sách mới” (Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp tháng 9 năm
1954). Nghị quyết Bộ Chính trị vạch rõ: “Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng
dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành, cuộc đấu tranh ái quốc
không vì đình chiến mà kết thúc, cuộc đấu tranh đó còn đang tiếp tục,
nhưng phương thức đấu tranh cần phải thay đổi. Chúng ta cần hoàn thành
sự nghiệp giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới”. Học xong,
anh được đề bạt giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng và sau một năm anh được cử
giữ chức chủ nhiệm trinh sát của Trung đoàn 3. Ở cương vị này cho tới
năm 1958, anh được phong quân hàm thượng úy và được đi học trường bổ túc
sĩ quan, rồi học viên Cục tình báo. Những năm ngồi trong ghế nhà trường.
Tống Viết Dương được đào tạo một cách cơ bản về công tác tình báo. Đó là
những bước chuẩn bị khá chu đáo khá công phu để rồi sau này khi trở về
miền Nam, anh đã hoạt động một cách xuất sắc, thu nhiều thắng lợi trong
lĩnh vực tình báo, điệp báo, đặc công, biệt động thành.
Trong vai người buôn
bán có tiền, Tống Viết Dương vượt biên vào Nam, để lại sau lưng mình bảy
năm kỷ niệm với đồng đội, đồng bào miền Bắc thân yêu. Kỷ niệm những
chiều Hồ Gươm (mà anh em bộ đội miền Nam gọi đùa là hồ Tìm Kiếm. Tìm và
Kiếm để gặp nhau hàn huyên tâm sự). Nhưng phía trước, phía miền Nam rực
trời khói lửa như đang vẫy gọi. Phía trước là quê hương, là nơi chôn
nhau cắt rốn, là mồ mả cha ông, là nơi mà người vợ mòn mỏi đợi tin chồng
về.
Sau khi học xong,
đồng chí Cục trưởng gọi Dương lên văn phòng thân mật dặn dò: “Chuyến đi
này của đồng chí sẽ vô cùng gian nan đó. Đồng chí sẽ phải vượt biển và
sẽ sống giữa lòng địch. Nhưng trước mắt là chuyến vượt biển vào Nam”.
Trên chiếc máy bay
IL18, Dương cùng với một số đồng chí ở Cục ngồi ở khoang trước, có rèm
che, bay từ sân bay Gia Lâm lúc 9 giờ sáng và hơn một tiếng sau thì đến
sân bay Vinh – thành phố Đỏ quê hương Xô Viết, nơi có làng Sen đã sinh
ra Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Máy bay đỗ lại khoảng nửa tiếng, rồi tiếp
tục cất cánh vào Đồng Hới. Chiếc com-măng-ca đưa Dương về một ngôi nhà ở
trong thôn xa thị xã. Ở đây đã có năm người khác ăn mặc thường phục.
Đồng chí đại diện Cục nói với cả nhóm: “Đây là nhóm công tác đặc biệt,
các đồng chí sẽ trong vai những người đi buôn mà đồng chí Tống Viết
Dương là chủ thuyền. Thuyền sẽ xuất phát từ cửa biển Nhật Lệ, ra hải
phận quốc tế rồi xuôi về Nam. Thuyền giả dạng buôn dừa khô và dây thừng
từ Bình Định ra Thừa Thiên – Huế và ngược lại”. Căn cước giả ghi Dương ở
huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Năm đảng viên đều là dân miền biển Quảng
Nam, Quảng Ngãi quen nghề đi biển. Không có la bàn, thuyền đi trong gió
giật, nghiêng ngửa, nhiều lần chết hụt.
Nửa đêm ngày 27
tháng 7 năm 1962 thả thuyền ra khơi bằng buồm theo gió. Chạy khoảng nửa
đêm và một ngày mới tới hải phận quốc tế. Ban ngày trông rõ bờ đảo Hải
Nam (Trung Quốc). Và có một lần gặp tàu Mỹ từ xa. Toàn bộ thuyền chuẩn
bị các câu trả lời nếu bị xét hỏi. May mắn là thuyền ta nhỏ, vượt biển
nhanh trong khi tàu Mỹ thì to lớn kềnh càng nên chỉ lướt qua mà không bị
lôi thôi. Tối lại, thuyền chạy vào bờ biển Tua-ran (Đà Nẵng). Như vậy,
thuyền của Dương đã lọt vào hải phận phía Nam Việt Nam và nhập vào các
thuyền buôn khác. Thế đã hợp pháp hoàn toàn, cứ cặp theo bờ biển miền
Trung mà chạy về Nam. Khỏe đi, mệt nghỉ. Khi đến Cù Mông (Binh Định giáp
Phú Yên) thì đã mất hết 5 ngày 5 đêm. Dương từ giã các đồng chí và lên
bộ ra quốc lộ 1A đón xe đò quay trở lại Qui Nhơn. Ngủ lại một đêm, sáng
đi Nha Trang và chiều tới Sài Gòn. Dương đi đường nhiều lần bị xét hỏi
giấy tờ, nhất là trạm Tuy Hòa (Phú Yên) và Nha Trang (Khánh Hòa). Giấy
tùy thân của Dương hoàn toàn là giấy giả do Cục tình báo quân sự làm.
Đúng bảy ngày đêm từ
khi xa Hà Nội đến lúc tới Sài Gòn, Dương không biết mệt về thể xác,
nhưng về tinh thần thì vô cùng căng thẳng. Dọc hành trình xe đò đều có
bọn mật vụ đường dài theo dõi, chỉ điểm, theo dò hành khách. Chủ yếu là
chuyến vào từ Quảng Trị cho tới Sài Gòn, còn xe ra chúng ít để ý.
Về giữa sào huyệt
của bọn Mỹ – ngụy, Dương chứng kiến biết bao tội ác của chúng gây ra với
đồng bào, đồng chí nhưng phải nén lòng căm thù lại để hoạt động nội
thành cho tốt. Chí căm thù giặc càng nung nấu tâm can Dương, và anh
quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hoạt động tình báo
là một môi trường thầm lặng, có khi mình chỉ biết một người nữa thôi (đơn
tuyến), nhưng không kém phần nguy hiểm, ác liệt. Những chiến công đánh
Mỹ, diệt ngụy ngay giữa lòng “thủ đô” của chúng đã chứng minh rằng: Việt
cộng có mặt khắp mọi nơi và nơi nào cũng có thể là mặt trận. Chiến công
của nữ biệt động Lê Thị Thu Nguyệt dùng quả mìn 4 ki-lô-gam làm nổ tung
khu vực triển lãm quân sự Mỹ tại Công trường Lam Sơn, diệt một số tên
cảnh sát, trong đó có một tên thiếu tá ngụy, phá hỏng một trực thăng
HU.1A. Tháng 3 năm 1963, cơ sở nội tuyến của Đội biệt động 159 đã gắn
một quả mìn hẹn giờ vào chiếc máy bay Bôing. Chiếc máy bay vừa đáp xuống
phi trường Hônôlulu thì nổ tung. Tiếp đó, Đội biệt động 67 đã dùng mìn
hẹn giờ đánh vào nhà hàng Bambu (gần cổng phi trường Tân Sơn Nhất) diệt
15 cố vấn Mỹ. Trận đánh vào trụ sở đoàn cố vấn Mỹ MAAG trên đường Trần
Hưng Đạo làm chết và bị thương 72 cố vấn Mỹ, trong đó có nhiều sĩ quan
cao cấp. Ngày 9 tháng 2 năm 1964, hai chiến sĩ Đội biệt động 67 đã bí
mật đột nhập gài hai khối thuốc nổ 48 ki-lô-gam hẹn giờ dưới gầm khán
đài A sân dã cầu bộ tổng tham mưu ngụy. Hai tiếng nổ dữ dội làm rung
chuyển Sài Gòn vào lúc 20 giờ 35 phút đã diệt và làm bị thương nhiều sĩ
quan Mỹ. Chưa hết choáng váng, bọn cố vấn Mỹ lại bị bồi tiếp một cú trời
giáng. Đội biệt Động 159 tấn công vào rạp Kinh Đô, nơi 500 sĩ quan đang
xem phim. Tám Bền dùng súng lục hạ tên gác cửa. Mười Bông ôm bộc phá lao
vào rạp, đóng cửa, giật nụ xòe. Gần 150 tên Mỹ bỏ xác, hai chiến sĩ này
thoát ra vừa chạy vừa la to: Chúng tôi là quân giải phóng đánh Mỹ. Được
nhân dân bảo vệ, hai đồng chí thoát thân an toàn. Nguyễn Văn Trỗi gài
bom ở cầu Công Lý để giết tên bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc Namara, không
may bị lộ, bị giặc bắt. Những lời anh hô to trước khi bị giặc bắn đã đi
vào lịch sử: “Hãy nhớ lấy lời tôi: Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn
Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”.
Hàng loạt chiến công
khác, Đội biệt động H2 đánh vào tầng năm khách sạn Caraven, nơi ở của sĩ
quan Mỹ, tiêu diệt nhiều tên. Khách sạn Brink, nơi ở của 200 sĩ quan Mỹ
bị đánh sập ba tầng. Là chiến công của Tư Mập và Nguyễn Thanh Xuân,
chiến sĩ biệt động của cụm 345. 10 giờ 55 phút ngày 30 tháng 6 năm 1965
một tiếng nổ long trời lở đất ngay tòa đại sứ Mỹ ở 49 Hàm Nghi. Khói lửa
trùm lên ngôi nhà năm tầng này. 150 sĩ quan Mỹ chết. Phó đại sứ Mỹ A.
Johnson bị thương ở mặt.
Đội biệt động 65 với
hai chiến sĩ và 80 ki-lô-gam thuốc nổ, trong đêm 1 rạng ngày 2 tháng 5
năm 1964 đã đánh chìm chiến hạm Card của Mỹ, tải trọng 15 ngàn tấn chở
theo nhiều máy bay, phương tiện chiến tranh vừa cập cảng Sài Gòn, 55 tên
Mỹ chết và bị thương. Còn rất nhiều chiến công của các đội biệt động,
các tình báo, các cơ sở ngầm nội tuyến đã làm cho Mỹ mất ăn mất ngủ.
Trong toàn bộ chiến công đó có phần đóng góp nhỏ bé của Tống Viết Dương.
Trên hướng Đông Nam
Sài Gòn địch liên tiếp mở những cuộc hành quân trên liên tỉnh lộ 2 (nay
là quốc lộ 56) Bà Rịa đi Long Khánh, khu vực Xuyên Mộc, Đất Đỏ nhằm tiêu
diệt Sư đoàn 5 chủ lực Miền và bảo vệ cho đội quân đánh thuê Hoàng gia
Úc. Tháng 12 năm 1965, Bộ tham mưu (thuộc Bộ Chỉ huy Miền) ra quyết định
thành lập Cụm tình báo đặc công do đồng chí Tống Viết Dương chỉ huy,
đứng chân tại căn cứ Minh Đạm. Như vậy từ nay, đại úy Cụm trưởng tình
báo A65 B2 Tống Viết Dương vừa là sĩ quan quân đội, vừa là thị đội
trưởng thị đội kiêm luôn phó bí thư thị ủy Vũng Tàu.
Cuộc họp cấp ủy thị
xã Vũng tàu vừa giải tán, phó bí thư thị ủy Tống Viết Dương trở về cứ.
Rừng Sông Ray im lìm trong giấc ngủ đại ngàn. Xa xa về phía Núi Đất ánh
đèn pha của quân Úc quét lên bầu trời những vệt sáng ma quái. Trong một
căn hầm đào xuyên qua cây bằng lăng cổ thụ, Bộ Chỉ huy Miền T1 họp các
cán bộ tham mưu và tác chiến. Đồng chí Tư lệnh nói: “Bộ Chỉ huy Miền đã
quyết định đánh sân bay Vũng Tàu và Trung tâm huấn luyện cảnh sát Chí
Linh. Đồng chí Tống Viết Dương là người am hiểu tình hình Vũng Tàu nên
Bộ chỉ huy giao cho đồng chí điều nghiên, lên phương án tác chiến và
trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Đảng tin cậy và chúc đồng chí hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao”.
Hàng ngày, trong vai
người thợ xây, Tống Viết Dương đã nhiều lần đi qua đồi Xiêm, nơi mà bọn
ngụy tổ chức canh gác rất cẩn mật. Vòng ngoài cùng giăng kẽm gai bùng
nhùng. Vòng thứ hai vừa rào kẽm gai vừa bố trí lưới điện báo động. Vòng
thứ ba chúng đặt mìn. Vòng thứ tư có lối đi cho lính và chó béc-giê tuần
tiễu. Ban đêm đèn pha công suất mạnh quét liên tục từ trong các tháp
canh, tưởng khó có thể lọt qua dù là một con chuột nhỏ. Nơi đây những
chiếc máy bay của giặc ngày ngày đi gieo rắc cái chết cho xóm làng thân
yêu. Chúng chứa đủ loại máy bay: do thám, ném bom, bắn phá, rải chất độc
hóa học... Cạnh đó, một hang ổ của bọn cảnh sát, nơi đào luyện những tên
ác ôn uống máu ăn gan người không biết ghê, đã cho ra lò hàng trăm tên
chúa ngục vào loại trung thành bậc nhất với Mỹ, ngụy.
Tống Viết Dương và
các chiến sĩ trinh sát của mình đã được sự giúp sức của Thị ủy, thị đội
Vũng Tàu, Huyện ủy, huyện đội Long Đất, các chi bộ và cơ sở bí mật ở các
xã Long Mỹ, Phước Tĩnh và bà con trong thị xã tạo mọi điều kiện để đi
sâu vào trung tâm điều nghiên, nắm rõ lực lượng bố trí, vẽ sơ đồ trận
địa. Chiều 12 tháng 3 năm 1966, một đại đội đặc công gồm 70 chiến sĩ do
Tống Viết Dương chỉ huy, có pháo sư đoàn 5 yểm trợ cùng biệt động thị xã
Vũng Tàu xuất phát từ căn cứ Minh Đạm. Toàn đơn vị vượt tỉnh lộ 44, dùng
hai ghe tiến qua Cửa Lấp vận động hơn 11 km đến Vũng Tàu. 20 giờ 30 phút
cùng ngày, bộ đội ta dùng AK, B40 bộc phá đồng loạt tiến công vào Đồi
Xiêm. Cùng lúc cối 82 ly và ĐKZ 75 liên tục bắn 138 quả đạn vào sân bay.
Bọn địch đang xem phim ngoài trời hoàn toàn bất ngờ, gần 300 tên Mỹ,
ngụy bỏ mạng, có một đại tá hậu cần Mỹ, phá hủy 37 máy bay các loại
(C47, C123, T28, L19, Casibu và AĐ6). Bên ta không ai bị thương vong kể
cả xây xát nhẹ. Đơn vị được Bộ Chỉ huy Miền tặng thưởng Huân chương Quân
công giải phóng hạng ba.
Tháng 9 năm 1967,
Tống Viết Dương lại được quyết định trở vào Sài Gòn để chỉ đạo và củng
cố các tổ tình báo. Tống Viết Dương trong vai một sĩ quan ngụy, được một
trung úy giúp đỡ đã hai lần lọt vào cơ quan bộ tổng tham mưu ngụy để
quan sát kỹ càng hơn theo chỉ thị của đồng chí Ba Trần (1). Lần thứ nhất
ngày 23 tháng 12 âm lịch và lần thứ hai đúng vào ngày mùng 1 Tết Mậu
Thân. Trong đêm mùng 1 này, với cương vị là chỉ huy phó Trung đoàn Quyết
Thắng, đồng chí Tống Viết Dương đã dẫn tiểu đoàn 2 lọt vào bên trong bộ
tổng tham mưu ngụy, chiến đấu nửa tiếng đồng hồ, tiêu diệt nhiều tên,
bên ta một chiến sĩ hy sinh. Chiến đấu năm ngày đêm liên tục đến khi có
lệnh phải rút ra chiến khu, còn một mình Tống Viết Dương ở lại bám trụ,
tìm mọi cách để nắm tình hình. Rằm tháng giêng năm ấy, Dương lại ra Bến
Súc báo cáo toàn bộ diễn biến tình hình với đồng chí Ba Trần và các cơ
quan của Bộ. Ngày hôm sau, Tống Viết Dương lại trở vô Sài Gòn. Dương bị
bọn Mỹ ngụy chặn xét gắt gao nhưng rồi cũng lọt qua được. Hơn một năm
trời ra ra vào vào Sài Gòn liên tục để nắm tin và chỉ đạo bên trong,
Tống Viết Dương không hề nao núng, không hề sờn lòng, mặc dù lúc này bọn
đầu hàng, bọn chiêu hồi được Mỹ – ngụy bố trí dò la, theo dõi rải rác từ
An Tịnh cho đến Hóc Môn (quân trường Quang Trung) nhằm nhận mặt các đồng
chí của ta hoạt động ở cứ đi lại qua đây.
Trong thời gian này,
ngoài nhiệm vụ chính, đồng chí còn tuyên truyền, vận động, giáo dục được
bốn người giao thông viên tình báo và sau đó được chấp thuận của Đảng ủy
Phòng 22 kết nạp bốn đồng chí vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay các
đồng chí ấy đều là sĩ quan trong quân đội nhân dân, có hai đồng chí đã
nghỉ hưu. Tuyên truyền, vận động một kỹ sư điện, sau cấp trên quyết định
rút người này ra ngoài học tập huấn luyện gần một năm. Cuối năm 1969,
đầu năm 1970 đưa đồng chí này trở lại Sài Gòn hoạt động. Đồng chí ấy sau
giải phóng làm việc ở nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, là đại biểu Quốc hội
khóa VI.
Cuối năm 1969, Tống
Viết Dương được rút về cứ dự Đại hội Đảng, sau đó về A11 để bồi dưỡng
thêm về nghiệp vụ. Đầu tháng 5 năm 1970 Mỹ mở trận càn Đông Dương, người
chỉ huy A11 mất lòng tin, hèn nhát bỏ chạy. Trường có hàng trăm cán bộ
chiến sĩ dự lớp không thể không có người chỉ huy, trong tình thế cấp
bách, vừa báo cáo cấp trên, Tống Viết Dương vừa tự thấy trách nhiệm đứng
ra trưng cầu ý kiến tập thể, được anh em tín nhiệm anh đảm trách nhiệm
vụ chỉ huy. Tống Viết Dương đã hoàn thành xuất sắc việc đưa trường đến
nơi an toàn, lo nơi ăn chốn ở cho học viên. Sau đó Phòng 22 giao hẳn
nhiệm vụ chỉ huy A11 cho Tống Viết Dương. Vừa tròn một tháng, đồng chí
lại nhận được quyết định của Bộ Tham mưu Miền giao nhiệm vụ mới: dẫn 39
anh em đặc công Z25 qua Phnôm-pênh (Cam-pu-chia) nghiên cứu các mục tiêu
mà chủ yếu đánh cho được sân bay Pô-chen-tông. Chi viện cho chiến trường
K, vì Mỹ đã chủ mưu làm đảo chính ở Cam-pu-chia lật đổ Xi-ha-núc đưa
Lon-non lên thay. Mục đích của chúng là mở chiến tranh ra toàn cõi Đông
Dương nhằm triệt phá căn cứ hậu cần bàn đạp cách mạng, cô lập tiêu diệt
cơ quan đầu não và Bộ Chỉ huy cách mạng miền Nam Việt Nam. Mỹ, ngụy mở
nhiều cuộc hành quân đánh sâu vào Cam-pu-chia và Lào với các chiến dịch
mang tên Lam Sơn 719, Chen La I, Chen La II. Nhiều đơn vị chủ lực Mỹ,
ngụy cùng nhiều phương tiện chiến tranh bị thu hút lên hai chiến trường
này.
Quan điểm của Trung
ương chỉ rõ: “Đông Dương là một chiến trường”. Theo yêu cầu của bạn,
Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền đã đưa các sư đoàn chủ lực
cùng với Lữ đoàn biệt động đặc công 367, Đoàn 429 đặc công cùng bạn mở
nhiều cuộc phản công, thu nhiều vùng giải phóng. Đoàn 367 lúc này do
đồng chí Trương Phụng Cơ (Mười Tùng) làm Đoàn trưởng và đồng chí Tống
Viết Dương làm Đoàn phó. Đồng chí Nguyễn Văn Được làm Chính ủy. Đoàn 367
có ba tiểu đoàn đặc công biệt động, phiên hiệu là Z15, Z20, và Z30; ba
tiểu đoàn đặc công bộ phiên hiệu Z25, Z40 và Z45; một đội đặc công nước
phiên hiệu là Z35 và một tiểu đoàn pháo, cối.
Cả một đoàn quân ra
đi, đường qua nước bạn có biết bao điều nguy hiểm chờ chực. Thế nhưng
Tống Viết Dương vẫn không nản lòng. Dương đã quan hệ tốt với chính quyền
và nhân dân nước bạn để được dẫn đường, để được nuôi ăn, ở. Khi đã dừng
chân ổn định, đơn vị tiến hành đột nhập điều nghiên sân bay. Ở vòng
ngoài, Dương cùng đơn vị gặp ngụy Lon-non, mặc dù chỉ có 11 chiến sĩ
nhưng trong tình thế bất khả kháng buộc phải nổ súng. Trận này ta tiêu
diệt 17 tên địch có một thiếu úy và thu được một khẩu AK, một khẩu súng
ngắn và một số quân trang, quân dụng. Đơn vị được an toàn. Sau năm lần
lọt vào sân bay, các chiến sĩ ta đã thu thập được toàn bộ tình hình bố
trí lực lượng của địch và lên phương án tác chiến, được Bộ Chỉ huy Miền
chấp thuận cho đánh. Đơn vị Tống Viết Dương được tăng cường thêm Tiểu
đoàn 7 đặc công của Sư đoàn 1.
Đêm 21, rạng 22
tháng 1 năm 1971, 70 chiến sĩ ta đã lọt vào bên trong sân bay, 58 chiến
sĩ yểm trợ bên ngoài tổ chức thành bốn mũi tập kích vào sân bay
Pô-chen-tông. Trận tập kích bí mật này được chỉ huy chặt chẽ và người
trực tiếp là Tống Viết Dương diễn ra nhanh chóng theo đúng kế hoạch. Ta
đã diệt 300 tên, có nhiều giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 105
máy bay, toàn bộ thiết bị chỉ huy sân bay, đốt cháy 100 ô tô nhà binh.
Trận thắng giòn giã, đạt hiệu suất chiến đấu cao 95 phần trăm máy bay bị
phá hủy. Sân bay phải ngừng hoạt động hơn 10 ngày. Toàn bộ kế hoạch chi
viện bằng đường hàng không cho cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” bị phá
sản.
Đơn vị của Tống Viết
Dương vẫn bám trụ và chiến đấu trên chiến trường K. Đầu năm 1973 đồng
chí được lệnh dẫn một tiểu đoàn lên đánh sân bay Bat-tam-bang cách xa
Phnômpênh 200 ki-lô-mét của Lon-non. Trong thời gian ở K, Tống Viết
Dương đã xây dựng được cơ sở trong lòng địch, cảm hóa được một kỹ sư
người Cam-pu-chia làm việc tại sân bay Pô-chen-tông. Kỹ sư này phục vụ
rất tốt cho việc tấn công sân bay Bat-tam-bang. Sau mấy tháng đi nghiên
cứu thực địa chiến trường, ngày 9 tháng 4 năm 1973 có lệnh đánh sân bay
Bat-tam-bang. Trận này ta đã phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn.
Tháng 10 năm 1973 được rút về nước và Đoàn 367 được tuyên dương Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân.
Đoàn 367 lại một lần
nữa đổi phiên hiệu thành Đoàn 116, đồng chí Tống Viết Dương là tư lệnh,
đồng chí Huỳnh Ty làm chính ủy hoạt động ở vùng Biên Hòa, quốc lộ 1A.
Biên Hòa là nơi mà bọn Mỹ, ngụy coi là cửa thép Đông Bắc Sài Gòn, nên ở
đây chúng xây dựng rất nhiều căn cứ quân sự: sân bay chiến lược Biên Hòa,
tổng kho Long Bình và các trường huấn luyện biệt kích “Cánh Dơi, Lôi Hổ,
Bóng ma biên giới” thuộc bộ tổng tham mưu ngụy trực tiếp chỉ huy. Trường
này đóng tại công trường Nước Trong (Long Thành). Sau khi điều nghiên kỹ,
Tống Viết dương chỉ huy Tiểu đoàn 40, đêm 25 rạng ngày 26 tháng 8 năm
1974 đột nhập vào căn cứ này, diệt 200 tên, trong đó có hai trung tá, ba
thiếu tá và hàng chục sĩ quan cấp úy. Có một điều đáng nhớ là sau chiến
thắng này, Tỉnh ủy Biên Hòa tặng cho đơn vị 200.000 đồng để tổ chức khao
quân.
Đến tháng 8 đồng chí
được bổ nhiệm làm sư đoàn phó Sư đoàn 2 đặc công. Lại một lần nữa xuống
cùng Tiểu đoàn 19 tấn công hậu cứ chiến đoàn 43 sư đoàn 18 ngụy trong
đêm 27 tháng 8 năm 1974, diệt 500 tên và phá hủy tám xe tăng. Trong suốt
mùa mưa năm 1974 và bắt đầu mùa mưa năm 1975, đơn vị của Tống Viết Dương
phối hợp với các đơn vị bạn liên tục đánh vào các khu bình định trên 2
trục lộ 1A và quốc lộ 15, khu vực Long Bình làm cho địch vô cùng bối rối
hoang mang.
Trong tình hình nước
sôi lửa bỏng của chiến dịch Hồ Chí Minh, Tống Viết Dương không may phải
đi quân y viện để mổ bướu cổ. Từ đầu tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1975
là thời gian mà đoàn trưởng Đoàn 116 đặc công Tống Viết Dương bồn chồn,
nóng ruột hơn lúc nào hết. Đại quân ta tiến về Nam như thế chẻ tre mà
mình lại phải nằm một chỗ. Anh Ba Trần (Trần Văn Danh) đích thân cho xe
đón Tống Viết Dương về Bộ Tham mưu Miền. Nhìn Dương còn quấn băng, người
xanh xao do mất máu và sức còn quá yếu, anh Ba Trần hỏi: “Bộ Tư lệnh
giao cho đồng chí chỉ huy trưởng cánh Đông Sài Gòn, chuẩn bị vào sào
huyệt cuối cùng của Mỹ, ngụy, liệu anh có làm nổi không?”. Tống Viết
Dương đáp: “Tôi xin hoàn thành nhiệm vụ”. Sáng ngày 10 tháng 4 năm 1975,
nhóm ba người gồm chỉ huy trưởng cánh Đông Sài Gòn Tống Viết Dương (lực
lượng này bao gồm ba trung đoàn 113, 116 và 10 của Sư đoàn 2, Tiểu đoàn
81, Đoàn Z22, 23 của Sư đoàn 316 và Tiểu đoàn 4 của Thành đội đang ở Thủ
Đức) một đồng chí quân y sĩ và một đồng chí cần vụ chạy xe Honda từ Dầu
Tiếng đến Cây Gáo bên bờ sông Đồng Nai. Trong lúc chạy từng chặng đường
quá mệt, phải dừng lại để truyền huyết thanh rồi lại tiếp tục chạy xe.
Đêm 11 tháng 4 năm 1975 vượt qua quốc lộ 1, sáng ngày 12 đến trung đoàn
116 đang đóng tại Bình Sơn, huyện Long Thành. Sáu ngày sau, đồng chí
cùng đơn vị 367 vượt quốc lộ 15 (nay là 51) qua khu vực Tam An, Tam
Phước sát hạ lưu sông Đồng Nai. Đây là hướng chính cần phải đánh chiếm.
Cánh này phối thuộc với Quân đoàn 2 của ta có nhiệm vụ chiếm giữ đầu cầu
từ một đến ba ngày để đại quân và xe tăng tiến vào phía trong. Ngày 26
tháng 4 năm 1975 Quân đoàn nổ súng chiếm được thị trấn Long Thành. Tối
hôm đó, Trung đoàn 116 đánh chiếm khu vực Bến Gỗ và đầu cầu xa lộ Đồng
Nai. Bến Gỗ được giải phóng, Trung đoàn 116 thu 80 súng các loại, bắt
hàng chục tên địch, tiêu diệt năm tên.
Mặc dù vết thương
còn chưa khỏi hẳn, Tống Viết Dương vẫn kiên trì chỉ huy các lực lượng
của mình phối hợp tác chiến. 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe
tăng Lữ đoàn 203 của Quân đoàn 2 tới. Khi đã bắt được liên lạc, đến 6
giờ sáng, Tống Viết Dương cho toàn bộ trung đoàn tiến về Sài Gòn, trừ
đại đội 3 ở lại giữ cầu. Đồng chí lên xe tăng dẫn đường, đánh từng chặng
một. Đến 11 giờ 15 phút chiếc xe tăng đi đầu đã húc đổ cổng sắt dinh Độc
Lập. Khi xe vào bãi cỏ, chiến sĩ xe tăng (và chiến sĩ đặc công) vác cờ
chạy lên nóc dinh, vứt cờ ba que ngụy xuống, cắm cờ đỏ, xanh, sao vàng
của Mặt trận Dân tộc giải phóng lên. Lúc này là 11 giờ 30 phút. Thời
khắc lịch sử đã ghi.
17 giờ ngày 30 tháng
4 năm 1975 đồng chí Tống Viết Dương thu quân, tạm biệt đồng chí Tài, Lữ
đoàn trưởng, đồng chí Minh, Chủ nhiệm chính trị, hành quân ngược về xa
lộ Biên Hòa để làm nhiệm vụ quân quản.
Nhớ lại khi ngồi
trong dinh Độc Lập rồi mà vẫn như mơ, Tống Viết Dương sờ tay lên cổ, da
non ở vết mổ đang kín dần.
X.B