Anh hùng Phạm Văn
Cán sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Tân, huyện Phú Xuyên,
tỉnh Hà Tây. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung
sĩ, chiến sĩ lái xe dắt, đại đội 11, Đoàn 26, Phòng kỹ thuật Bộ Tư lệnh
Thiết giáp Miền.
Tháng 9 năm 1972,
Phạm Văn Cán cùng đơn vị hành quân 2.000km vào chiến trường Đông Nam Bộ,
anh không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, vượt qua bom đạn ác liệt do
máy bay địch bắn phá, cứu kéo được 73 lượt chiếc xe tăng, xe thiếp giáp
sa lầy, đổ hoặc chết máy trên dọc đường. Từ tháng 5 năm 1973 đến tháng 4
năm 1975, Phạm Văn Cán làm nhiệm vụ dắt xe tăng, xe thiết giáp trong
chiến đấu. Anh đã tham gia 3 chiến dịch, cứu kéo được 40 chiếc xe về tới
nơi an toàn. Trong chiến dịch Bến Cát từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1974,
trời mưa nhiều, đường lầy lội, địch bắn phá ác liệt, Phạm Văn Cán vẫn
bất chấp gian nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Có lần, giữa hỏa lực dày đặc
của địch, anh vẫn bình tĩnh lái xe vào sát căn cứ địch (100m), cứu kéo
được 1 xe tăng ra ngoài. Ca chiến dịch, anh cứu kéo được 18 chiếc xe
tăng về sửa chữa, khôi phục lại, tiếp tục chiến đấu. Trận đánh quận lỵ
Chơn Thành (Bình Long) tháng 4 năm 1975, có 2 xe tăng của ta bị hỏng nằm
sát trận địa địch, nguy cơ sẽ bị chúng cướp xe hoặc phá hủy, Phạm Văn
Cán dũng cảm mở nắp xe, nhô ra ngoài vừa lái vừa quan sát tránh bãi mìn,
thà hy sinh chứ không để xe và đồng đội bị thương, anh đã cứu được 2 xe
tăng về an toàn, cổ vũ cho đồng đội xông lên tiêu diệt địch.
Đồng chí đã được
tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, được tặng 4
bằng khen và giấy khen. Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Phạm Văn Cán được Nhà
nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
NGƯỜI CHIẾN SĨ CỨU HỘ
TĂNG - THIẾT GIÁP
MINH YÊN
Từ điển Từ và ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lân) định nghĩa cứu:
làm thoát khỏi tai nạn; hộ: giúp đỡ, che chở, cứu hộ là giúp thoát khỏi
tai nạn. Cảng Sài Gòn có một, hai tàu cứu hộ cho cả vùng biển phía
Nam rộng lớn,
từng lái dắt một số tàu biển dân sự sắp đắm về bến an toàn. Nó cũng lập
thành tích kéo tàu quân sự ta bị hỏng trong cuộc xung đột ở quần đảo
Hoàng Sa (vào đầu những năm 80) về cảng sửa chữa. Song tàu cứu hộ chủ
yếu đối mặt sóng to gió lớn, dòng biển chảy xiết... là những khó khăn
nguy hiểm do thiên nhiên gây ra.
Còn lính cứu hộ tăng
thiết giáp phải trần thân xông pha giúp xe đồng đội không còn hoạt động
được ra khỏi chiến trường tơi bời bom rơi, đạn nổ. Năm 1972, lần đầu
tiên xe tăng-thiết giáp ta xung trận ở chiến trường An Lộc (Bình Long).
Trước kia địch quen thói lấy sắt thép đè người, năm ấy, “quả đấm thép”
lợi hại này của ta tung ra gây bao kinh hoàng cho quân đội Sài Gòn. Song
có xe ta bị bom pháo hư hỏng bỏ lại trận địa, địch trục kéo về triển lãm
tuyên truyền rùm beng thắng lợi của “quân đội quốc gia”. Sau đó hơn nửa
năm, một xe đặc chủng chuyên cứu hộ xe tăng-thiết giáp hư hỏng trong
chiến đấu được phái từ miền Bắc vô. Đó là chiếc tăng T.54 không tháp
pháo; chỉ gắn một khẩu trọng liên 12,8 ly để tự vệ, nhưng có thêm thiết
bị kích, kéo đặt trên thùng thép (gắn ở vị trí tháp pháo): một cần cẩu
xếp gọn, hai cuộn dây cáp dài 150 mét lắp vào cuộn tời có sức kéo 120
tấn; phía sau xe lắp lưỡi ben nâng hạ bằng thủy lực để neo xe khi cần
kéo xe khác sa lầy xuống hố... Xe đặc chủng lập chiến công bằng việc cứu
kéo đưa xe đồng đội hỏng hóc ra khỏi trận địa rồi dắt về hậu cứ sửa chữa.
Tháng 5 năm 1971, học
xong năm thứ ba khoa Chế tạo máy trường Đại học Bách khoa Hà Nội loại
giỏi, Phạm Văn Cán được tuyển vào bộ đội tăng-thiết giáp ở tuổi 21. Có
sức khỏe A.1, trình độ văn hóa cao, anh học lái và nắm vững kết cấu máy
móc xe tăng khá nhanh tại trường huấn luyện binh chủng đặt ở huyện trung
du Tam Dương (Vĩnh Phúc) chân dãy Tam Đảo. Xong khóa đào tạo mấy tháng,
đáng lẽ anh đi B ngay, nếu vậy đã có dịp cùng đồng đội tham gia chiến
dịch Nguyễn Huệ xuân 1972 tung hoành trên chiến trường An Lộc (tỉnh Bình
Long cũ). Nhưng nước bạn viện trợ hai xe đặc chủng, lãnh đạo binh chủng
cử anh và Mạnh ở lại học sử dụng thành thạo mọi thiết bị kích kéo của
loại xe này, chuẩn bị phục vụ bộ đội tăng thiết giáp ra quân qui mô lớn
ở tiền phương chống Mỹ. Tháng 3 năm 1972, anh cùng đồng đội nhận xe tại
Bằng Tường, rồi theo đường bộ vào bảo vệ Khu 4. Đoàn tăng thiết giáp
trong đó có hai xe cứu hộ, mới đến khu vực tập kết bãi Nai (Lương Sơn,
tỉnh Hòa Bình), đã bị máy bay địch đánh tới tấp, các chiến sĩ tăng thiết
giáp râm ran nghi vấn: gián điệp chui vào hàng ngũ ta? Tâm tư một số anh
em trĩu nặng: liệu xe mình có vào đến đích an toàn?
Tháng 9 năm 1972, xuất
phát từ Nam Đàn (Nghệ An), xe Cán được lệnh đi B.3. Đoàn tăng thiết giáp
25A rùng rùng nghiến xích mặt đường đầy khí thế nhưng thận trọng, tiến
về phương Nam. Cánh lính trẻ sung sức, tinh thần hăng hái phấn khởi
“đường ra trận mùa này đẹp lắm”, “đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi”.
Các anh vào Quảng Bình rồi lật cánh sang đường 20 – Trường Sơn Tây,
nhiều người lần đầu đi qua những địa danh hồi đó báo, đài thường nhắc
tới: At tô pơ, Hạ Lào... Xe đặc chủng do Mạnh lái đáng lẽ đi B.2 nhưng
chạy tới Hạ Lào thì hỏng nặng, phải nằm chờ thiết bị mang vào sửa. Xe
Cán vì vậy đi cuối đội hình, xưa gọi là đi đoạn hậu vào thẳng B.2, sẵn
sàng sửa, kích, kéo các voi thép nặng hàng chục tấn hỏng máy, sa hố bom...
Xe ta không hành quân như phim ảnh chiếu. Mỗi đại đội chừng 10 xe, mỗi
xe đi cách nhau cả ki-lô-mét, chứ không nối đuôi nhau lăn xích thành thế
đội dài dằng dặc, bụi đường mù mịt bốc cao như xe tăng Hồng quân Liên Xô
năm 1943 ra trận vòng cung Kuốcxcơ.
Để giữ bí mật, tăng
thiết giáp ta chỉ chạy ban đêm. Máy bay Mỹ khống chế bầu trời tương đối
chặt nên chiến sĩ lái lâu lâu mới bật đèn rùa, còn chủ yếu chạy mò. Ngồi
trong xe, Cán thường thò đầu ra ngoài, hoặc căng mắt nhìn đường qua kính
ngắm với góc nhìn rất hẹp. Vì vậy, thỉnh thoảng xe húc vào một gốc cây
to cỡ hàng ôm, mặt anh đập vào cửa xe, môi sưng vều chảy máu, răng cửa
lung lay may mà chưa gãy, di chứng còn lại đến tận bây giờ.
Nếu có máy bay vận tải
hạng nặng chở nổi xe tăng thiết giáp như của Mỹ, binh chủng cơ giới hiện
đại này sẽ cơ động rất nhanh. Nhưng chúng ta đành phải bằng lòng với
cảnh túc tắc nhích từng vòng xích ra phía trước. Các chiến sĩ tăng thiết
giáp được hưởng tiêu chuẩn cao, đến mỗi trạm giao liên trên đường Trường
Sơn các anh được cấp phát gạo, thực phẩm, xăng dầu theo đúng chế độ.
Không phải mang vác cực nhọc, nhưng các anh liên tục chịu tiếng ồn đinh
tai nhức óc, chịu cái nóng như nung, xe chạy sau hứng bụi mù mịt khi qua
đất bạn Lào vào mùa khô trên đường Trường Sơn Tây. Đến trạm nghỉ, các
anh mới hưởng làn gió thổi trong lành và sự tĩnh lặng đáng quý giúp hồi
sức. Lúc còn ở miền Bắc, anh em hàng ngày nghe tin qua đài, đọc nhiều
loại báo nên nắm vững thời sự trong nước và quốc tế. Nhưng từ khi đặt
chân tới đất Quảng Bình, các anh đói tin thật sự. Lâu lâu đồng chí chính
trị viên tiểu đoàn vai đeo chiếc radio bán dẫn Lido lắp 6 pin đại to
đùng nặng trĩu ghé đến, các anh mới tranh thủ nghe vài mẩu tin thời sự.
Đói tin khổ không thua đói gạo là bao!
Địch đánh hơi đoàn xe,
máy bay chúng săn lùng suốt dọc đường dài. Nhiều lần, xe ta nhờ ánh pháo
sáng mà đi, song máy bay C.130 trang bị máy dò hồng ngoại thay phiên
nhau đánh dai dẳng cả đêm. Thằng C.130 bắn đại bác 20 và 40mm dai như bò
đái! Nhiều xe ô tô bị chúng “xin thùng” cháy đen, cong queo đành gạt qua
bên đường hoặc ủi xuống vực, giải phóng đường cho các đơn vị khác đi
tiếp. Phát hiện máy bay địch tới qua mấy phát súng báo hiệu của anh chị
em bảo vệ đường, xe tăng thiết giáp ta tạm rẽ vào đường tránh mang cá,
mặt khác đậy nắp thép lại thì ngồi trong vô tư mặc đạn nổ lốp bốp trên
nóc. Đoàn 25A bị đánh dữ dội lúc vượt ngầm Bạc, Xêxan, xe Cán may chỉ bị
tróc sơn nham nhở. Anh đã tận mắt chứng kiến một số đồng đội trong đoàn
xe hy sinh trên đường hành quân do không đóng kịp nắp cửa. Những lúc
nghỉ ngơi rảnh rỗi chút đỉnh, mấy anh em cùng xe bù khú chuyện trò tâm
sự, không mấy ai không nhắc đến cha mẹ, anh chị em, quê hương làng xóm
thân yêu, những kỷ niệm đời học sinh tươi rói với nỗi nhớ da diết cồn
cào. Mắc võng nằm bên nhau, có người nêu câu hỏi:
– Nếu bây giờ cho mày
đi bộ quay ngược ra Bắc nhưng phải cõng hai bánh xích xe (nặng 36kg),
dám đi không?
– Đi liền!...
Nhớ nhà và những người
thân quá thì anh em nói thế thôi, chớ đơn vị không ai “B quay”. Cuối
tháng 12 năm 1972, đoàn xe vào tới Kràché (Cam-pu-chia) thì Cán nghe tin
máy bay B.52 đánh thủ đô Hà Nội và một số tỉnh thành khác ở miền Bắc.
Anh được biết hiệp định Pa-ri lập lại hòa bình ở Việt Nam (27 tháng 1
năm 1973) ký kết, lính Mỹ và chư hầu lần lượt rút hết khi xe về tới km 0
gần biên giới Đông Nam Bộ – Cam-pu-chia.
Suốt chặng hành quân
dài 5 tháng, anh cứu kéo, sửa chữa được nhiều xe hỏng hóc. Vì vậy anh
được bầu chiến sĩ thi đua, dự hội nghị thi đua binh chủng ở Lộc Ninh.
Sau đó các đơn vị tăng thiết giáp B.2... bước vào đợt học tập chính trị,
mặt khác tu sửa xe thật kỹ chuẩn bị bước vào đối mặt thật sự với kẻ địch.
Ở Cam-pu-chia, Lon-non
đảo chính Xi-ha-núc từ vài năm trước. Lương thực, thực phẩm, xăng dầu...
hoàn toàn do các đoàn hậu cần đảm nhiệm mua từ các cửa khẩu trong nước.
Địch phong tỏa chặt, gạo và nhu yếu phẩm mua khó khăn, hậu phương lớn
quá xa vì vậy bộ đội ăn uống cực hơn trước suốt thời gian dài. Tiêu
chuẩn gạo rút xuống, trong khẩu phần từng bữa thì khoai mì, đậu xanh,
đậu phộng... chiếm tỷ lệ đáng kể, gạo độn thêm một ít gọi là. Ăn nhiều
đậu phộng, người yếu dạ bị sình bụng rất khó chịu, quân y tốn thêm mớ
thuốc. Anh em tranh thủ đi kiếm thêm củ mài, củ chụp cho no bụng, chỉ
khi đi chiến đấu, anh em mới được ăn 100% gạo! Lúc đó, số ở lại căn cứ
phải rút gạo nữa (vì hậu cần phát định lượng cho đơn vị từng đó ký, anh
đi chiến đấu ăn đủ 100% thì tỷ lệ gạo của những ai ở lại sẽ giảm xuống).
Trên chiến trường B.2,
Mỹ, Thiệu ký hiệp định hòa bình Pa-ri chưa ráo mực đã lật lọng. Lính
ngụy Sài Gòn rất hung hăng, liên tục lấn chiếm nhiều nơi do chiến trường
xen kẽ theo hình thái da beo.
Cuối năm 1973, chiến
dịch Mặt trận 75 khai thông hành lang chiến lược đường 14 ở tỉnh Quảng
Đức (Nam
Đắc Lắc). Mở được đoạn này, ta nối thông đường Trường Sơn Đông vào tới
Lộc Ninh.
Đêm 2 tháng 11 năm
1973, xe đặc chủng theo tiểu đoàn 21 tăng thiết giáp B.2 từ hậu cứ ở Bù
Đốp cắt rừng theo đường do công binh mở, ngược hướng Bắc phối thuộc
trung đoàn bộ binh cùng một đơn vị đặc công của trung đoàn 429 đánh yếu
khu Bù Bông bảo vệ vòng ngoài chi khu quân sự Kiến Đức và sân bay Nhân
Cơ (thuộc tỉnh Đắc Lắc). Xe anh chạy hai đêm, 3 giờ sáng ngày 4 tháng 11
năm 1973 tập kết ở cửa mở gần bìa rừng thông chờ lệnh ứng cứu. Trời tối
thui, đêm cao nguyên Mnông đầu mùa khô lạnh tê tái. Chiếc áo len cấp
phát mang theo từ miền Bắc mặc chẳng thấm vào đâu.
Bù Bông là vị trí phòng
thủ vòng ngoài rất rắn, do lính ngụy người Mnông giữ. Địa hình toàn vùng
có dạng đồi bát úp sườn khá dốc, rừng già um tùm nhưng một số đỉnh đã bị
phá quang (bằng máy ủi, bằng bom pháo, bằng hóa chất diệt cây cối...).
Một trận địa pháo ở ngọn đồi cao nhất khống chế phạm vi rộng lớn. 4 giờ
sáng, bộ đội đặc công nổ súng mở màn trận đánh. Tiểu đoàn tăng thiết
giáp triển khai thành hai mũi đánh vu hồi căn cứ. Lần đầu tiên Cán chính
thức ra trận. Pháo ta bắn cấp tập dập trận địa địch. Đạn xé gió qua đầu
Cán, nổ chát chúa đằng xa. sau ít phút địch hồi tỉnh, pháo của chúng từ
đồi pháo binh chúc nòng bắn xuống. Chớp đạn địch nổ nhoáng nhoàng liên
tục trước mặt xe đặc chủng một quãng. Anh để ga nhỏ, óc vẫn nhẩm để nhớ
mật khẩu quy ước: 01 triển khai. 02 cửa mở..., 07 xuất kích... Tuy đã
học trong sa bàn ở căn cứ, nhưng trời tối như bưng mắt, lại không thông
thạo địa hình nơi này nên anh chỉ biết xe đang ém ở vị trí A.3. Tới 6
giờ sáng, trời sương lờ mờ, anh nghe tiểu đoàn phó Khuê lệnh qua điện
đài: cho xe đặc chủng chạy theo vết xích. Đến một chỗ thì mất dấu, quay
ngang xe, qua kính ngắm anh thấy chiếc K.63 cháy cách đó không xa. Cây
cối bít bùng chắn mất tầm nhìn cộng với khói mù mịt; xe anh tiến lại gần
trong lúc pháo địch vẫn nã không ngớt. Cán bảo pháo thủ trọng liên:
– Mày bắn đi chứ!
– Không thấy gì cả, bắn
sao được...
Chiếc thiết giáp K.63
hành tiến bị hở sườn trúng đạn chống tăng của địch, thủng toác một lỗ
lớn, bên trong đang cháy. Khói đen cuồn cuộn bốc lên, mấy chiến sĩ của
xe đều hy sinh. Xe đặc chủng vòng lại, một thợ sửa chữa nhảy ra, thò tay
qua cửa lái trả lại số 0 ở cần lái chiếc K.63 rồi móc cáp vào. Cán rồ ga,
kéo xe hỏng ra bìa rừng.
Sở chỉ huy lệnh cho xe
Cán tiếp tục tiến sâu vào trận địa cứu một xe khác. Xe này trúng đạn
phốtpho, không cháy nhưng không ai sống sót. Xe đặc chủng lợi dụng địa
hình, nhanh chóng móc cáp kéo xe này ra ven rừng.
Trời sáng rõ, pháo địch
càng bắn dữ, khói bụi mịt mù. Máy bay A.37 tới yểm trợ mới đầu rà sát,
bắn tên lửa và đại bác xuống trận địa ta. Súng phòng không ta ở rải rác
bắn lên rất mạnh. Khẩu 12,8 ly ở xe Cán cũng góp phần lên tiếng, xua
chúng bay tít lên cao.
Đến gần trưa, anh em bộ
binh giải quyết được phần lớn căn cứ Bù Bông, được lệnh tạm ngưng, giạt
vào rừng chờ đến tối đánh tiếp. Tiếng súng thưa dần, Cán không thấy xe
tăng thiết giáp ta đâu, vẫn cố chạy vào tìm xe hỏng. Một lính thợ sửa
chữa trên xe phát hiện có tiếng người lao xao rì rầm ở rừng cây ven suối,
hóa ra lính ta đang nấu cơm. Cán xuống xe, hỏi thì được biết đơn vị xe
tăng tập kết cách đó 1 ki-lô-mét. Khi cánh bộ binh cho biết đã có lệnh
tạm ngưng chiến đấu, Cán tức quá, văng ra một câu:
– Tạm ngưng mà không
nói với bố! Máy bay nó bắn chết mẹ bây giờ!...
Máy bộ đàm trong xe
phát sóng liên tục, lời của anh được máy thu vào băng ở sở chỉ huy. Câu
văng tục là vạ miệng, sau này bị quy là “dám chửi cấp trên” (một cán bộ
làm chiến lệ ở sở chỉ huy kể lại).
Đêm 5 tháng 11 bộ đội
ta đánh tiếp, xóa sổ căn cứ Bù Bông. Máy bay trực thăng hạng nặng bốc
hết số pháo địch trên đồi cao đi nơi khác lúc nào không biết, đặc công
diệt hụt bọn này. Nhờ trinh sát dẫn đường, xe đặc chủng mất ba đêm liền
mới kéo hết năm xe ta bị hỏng (bốn chiếc K.63, một chiếc T.54) ra nơi an
toàn. Cán và đồng đội còn thu bảy xe M.113 của địch. Khi rút chạy bọn
lính lao một số xe xuống bưng lầy, kéo lên rất vất vả. Theo yêu cầu của
công binh, xe Cán kéo về hai máy ủi cỡ lớn (sau này tham gia phục vụ mở
đường cho xe cơ giới ta). Anh em công binh bắn được một con dê của dân
chạy lạc ở đồi pháo binh, cho vào gùi chất lên xe ủi. Vào rừng, anh em
nấu một song to, chia một phần thịt cho xe Cán. Sau những ngày vất vả,
bữa thịt tươi ngon đó giúp anh em tổ xe đặc chủng lấy lại phần nào sức
khỏe. Nhưng bữa thịt đó gây ra vạ miệng thứ nhì. Kiểm điểm bình xét
thành tích sau chiến dịch, Cán được đề nghị cấp trên thưởng Huân chương
Chiến công giải phóng. Không biết do đâu mà chính ủy bộ đội tăng thiết
giáp Tám Hải biết được vụ thịt dê. Ông cho là anh em phạm kỷ luật chiến
trường, ra lệnh “cắt” từ huân chương đến danh hiệu thi đua “đảng viên 4
tốt”, “đoàn viên 4 tốt”... Sau này, Cán gặp trực tiếp thắc mắc, chính ủy
hỏi:
– Có ăn không?
– Tôi không bắn, trên
cắt thì không hợp lý!
– Có ăn không? – ông
hỏi gặng lần nữa.
– Có!
– Anh nào ăn thì kỷ
luật hết!
Xe đặc chủng ở lại Bù
Bông đến nửa tháng mới giải quyết hết việc cấp trên giao.
Lính địch là dân địa
phương thông thạo địa hình, tổ chức phản kích lấn chiếm lai rai vùng ngã
ba Lâm Bí. Bộ binh ta đánh bật chúng khỏi địa bàn để giữ hành lang đường
chiến lược số 14, có xe tăng thiết giáp phối thuộc, xe Cán bám theo sẵn
sàng ứng cứu. Hai bên “kéo cưa” dằng dai một thời gian ở vùng “da beo”
này cho tới sát biên giới Cam-pu-chia.
Đầu tháng 12 năm 1972
Tiểu đoàn 21 và đại đội 6 (của Tiểu đoàn 20) thiết giáp B.2 phối thuộc
trung đoàn bộ binh đánh sân bay Nhân Cơ gần thị xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ
tỉnh Quảng Đức).
7 giờ tối ngày 4 tháng
12 từ khu tập kết Bù Bông khá xa, xe đặc chủng theo công binh dẫn đường,
xuyên cánh rừng le tiến vào cửa mở. Le mọc dày đặc xòa ra cà sàn sạt vào
thước ngắm khẩu trọng liên 12.8 ly làm trầy tróc lớp mạ.
Tăng thiết giáp ta tiến
công theo hai mũi. Đại đội 6 có khoảng 10 xe đánh từ phía đông tức là
hướng Đà Lạt tới. Anh Quận, đại đội trưởng đại đội 6, sau trận đánh kể
lại: khi xe tăng ta tới, nhiều vợ con lính Sài Gòn ra ven đường, khoát
tay rối rít vẻ nôn nóng chờ đón, tưởng đó là quân tiếp viện của chúng.
Một tên nói to:
– Cộng sản vào, nó giết
hết bà con tôi rồi! Các ông đi nhanh lên, giết hết tụi nó đi!
Anh bắn chết tên này,
số vợ con thân nhân lính ù té chạy tứ tán.
Xe đặc chủng đi với mũi
Tiểu đoàn 21 tăng thiết giáp (do anh Khuê chỉ huy). Lúc bộ đội đặc công
nổ súng, địch bắn pháo sáng, cả bầu trời khu vực trắng lóa, mọi vật nhìn
rõ như ban ngày. Vừa từ rừng ra, xe Cán đụng bãi be toàn các khúc gỗ
tròn chờ vận chuyển về Sài Gòn chế biến. Cán nghe tiếng nổ lụp bụp trên
trời, chớp chớp xanh lét. Tai nghe của máy bộ đàm vang lên lời nhắc nhở
từ sở chỉ huy:
– Dùng kính để quan sát,
tuyệt đối không thò đầu ra, địch đang bắn pháo chụp! (lần đầu tiên Cán
mới biết pháo chụp).
Qua kính mắt cua có góc
nhìn rất hẹp, anh thấy xác địch nằm rải rác. Mặt đất ở đây tương đối
bằng phẳng, chè mọc lúp xúp chưa đến thắt lưng. Sở chỉ huy ra lệnh cứu
một xe cháy. Anh điện hỏi:
– Xe ta đi hướng nào?
– Xe ta đi hai bên
đường, không sợ mìn...
Qua khu phòng thủ, xe
đặc chủng tiến vào tung thâm. Một số phát tên lửa vác vai chống tăng
M.72 bay ra thành vệt vàng xanh. Địch cố chống cự, quân vào ta vì đặc
công nổ súng thì tăng thiết giáp xông vào ngay, bộ binh chưa kịp thời có
mặt hợp đồng. Cán bảo pháo thủ:
– Bắn đi!
– Không nhìn thấy gì!
– Cứ bắn đi! Bắn đại đi!
Cốt uy hiếp tinh thần chúng nó!...
Từ trong xe, Cán thấy
một xe K.63 cháy. Xe đặc chủng tiến lại dần, vừa dừng lại, qua ánh đèn
dù, Cán nhìn rõ Tiến từ xe đó chạy vọt tới, leo lên nhảy vọt vào trong,
giọng gấp gáp thiếu bình tĩnh:
– Nó bắn cháy xe rồi!
Anh em hy sinh hết rồi!
Cán báo cáo tình hình
qua máy bộ đàm. Sở chỉ huy lệnh cho kéo ra. Xe đặc chủng rê gần, móc cáp
kéo chiếc K.63 ra rìa bãi gỗ sát bìa rừng.
Thêm một chiếc T.54 bị
bắn đứt xích. Xe Cán quay vào móc cáp vào xe và móc sợi cáp thứ nhì vào
bộ xích đứt. Kéo xe đứt xích rất khó, bên không còn xích, dàn bánh đỡ
lún sâu xuống, bụng xe cà trịt mặt đất, lực ma sát cực lớn. Bình thường,
chỉ cần vài phút đã giải quyết xong, nhưng Cán phải đánh vật với chiếc
T.54 này mấy giờ liền mới đưa ra được ven rừng. Một số chiến sĩ bộ binh
hy sinh, Cán và anh em đưa lên thùng xe mang ra, đúng chính sách và kỷ
luật chiến trường.
Chỉ trong đêm nay, ta
dứt điểm Nhân Cơ vì ở đây địch phòng thủ yếu hơn Bù Bông. Ta mất hai xe,
Xe đặc chủng rút vào rừng kéo theo xe hỏng để sửa tạm. Chiếc T.54 không
có xích dự trữ, thiếu một số mắt xích hỏng vì trúng đạn. Cán và đồng đội
sáng tạo: chỉ gắn xích vào ba bánh đỡ (đáng lẽ đủ thì xích gắn trên năm
bánh). Giáo trình đã học không cho phép làm như vậy: xe sẽ đi lệch, hai
bên lún không đều nhau... Nhưng cứ đúng bài bản thì chỉ có cách vứt xe
đi, mà chúng ta thì đang rất thiếu quả đấm thép.
Ở vùng này, ta và địch
còn cù cưa một vài trận chống lấn chiếm cho đến hết năm 1973. Hoàn thành
nhiệm vụ cứu hộ, xe đặc chủng rút về hậu cứ tu sửa tiếp, rồi Cán và đồng
đội bước vào đợt học chính trị.
Khoảng tháng 5 năm
1974, đầu mùa mưa, Tiểu đoàn 22 tăng thiết giáp B.2 (mới từ miền Bắc vào)
phối thuộc Sư đoàn 9 mở chiến dịch lộ 7 ngang ở khu vực Bến Cát – Rạch
Bắp. Trung ương Cục và Quân ủy Miền chủ trương phá vỡ tuyến phòng ngự
trung gian, kìm chân lính chủ lực ngụy tại Sài Gòn, ngăn chặn ý đồ địch
đưa quân bình định vùng ven Sài Gòn và lấn chiếm Lộc Ninh – vùng giải
phóng của ta.
Xe đặc chủng đi cùng
đơn vị tăng thiết giáp. Từ căn cứ Bù Đốp, đoàn xe theo đường do công
binh cắt rừng mở, đi hai đêm thì tới căn cứ Minh Hòa. Đây là vùng rừng
chồi lúp xúp. Củng cố đội hình trong thời gian rất ngắn, đoàn voi thép
ta xung trận, đánh đồn An Điền. Các chiến sĩ tăng thiết giáp lúc nghiên
cứu sa bàn được thông báo: đây là một vị trí phòng thủ rắn, mìn đủ loại
gài dày đặc, pháo từ Đồng Dù, Bến Cát, Lai Khê, Phú Hòa Đông... sẵn sàng
chi viện hỏa lực. Đồn này ở ấp cùng tên, có bốn khu với con đường chạy
ra bốn cổng.
8 giờ tối, bộ đội đặc
công nổ súng mở màn trận đánh. Công binh đã gỡ mìn tạo lối đi an toàn
cho tăng thiết giáp thọc vào theo hai mũi sau khi pháo ta bắn chế áp. Xe
đặc chủng nằm chờ ở cửa mở. Pháo địch từ nhiều hướng bắn cấp tập về đây.
Tiếng nổ dồn dập làm đinh tai nhức óc, chiến dịch Mặt trận 75 so với lần
này không là gì cả. Sở chỉ huy lệnh cho xe đặc chủng vào cứu xe hỏng.
Trinh sát leo lên chỉ hướng cho xe chạy, tới hướng đó xong nhiệm vụ,
nhảy xuống quay ra. Cỏ Mỹ mọc cao ngang vai. Qua ánh sáng lửa đạn lờ mờ,
xe đặc chủng chạy đúng vết xích tiến sát chiếc xe hỏng. Cán nhảy xuống
đất, quan sát nắm tình hình. Hóa ra công binh gỡ mìn tạo vệt đường đi an
toàn cho xe tăng, song mìn lại bỏ ngay sang bên, xe ta đi chệch, đè
trúng mìn, mìn nổ nên đứt xích, nằm đó. Anh em từ trong xe nhảy ra lại
đạp trúng số mìn râu tôm để rìa đường, thương vong một số. Y sĩ, y tá
đến cứu đạp trúng mìn nữa, thương vong hai, ba đợt liền. Xe đặc chủng
móc cáp, rồ ga nhưng không kéo được vì bánh đỡ xích lún sâu có độ ma sát
quá lớn. Cán và đồng đội đành giải quyết khiêng 13 thương binh liệt sĩ
lên thùng xe chở ra ngoài.
Ở hướng khác, một xe
tăng ta cũng bị mìn như vậy. Trời gần sáng, tiếng súng các loại thưa dần.
Xe đặc chủng được lệnh vào cứu kéo. Ấp An Điền có hai cổng vào, hai cổng
ra nhưng Cán không thể hình dung địa hình ấp. Suốt đêm pháo hai bên dập
tơi bời, cảnh vật thay đổi hẳn: hai cổng vào và nhiều nhà cửa lúp xúp
trong ấp đã bị san bằng. Theo kế hoạch, công binh ta đánh một khối thuốc
nổ rất lớn, cắt con đường vào cầu băng ngang sông Thị Tính để xe tăng
thiết giáp địch không rút chạy được về Bến Cát. Gần 6 giờ, trời sáng dần,
Cán điện về sở chỉ huy:
– Chưa thấy ấp đâu,
không thấy cổng...
– Cứ tới đi! Cứ tới đi
theo trinh sát dẫn đường.
Một lính trinh sát trèo
lên xe, dẫn tới cổng thì nhảy xuống:
– Ông chạy thẳng vào
đường này!
Máy bay trực thăng vũ
trang địch quần dữ dội. Cán thúc pháo thủ của xe:
– Thắm bắn đi! Bắn đi,
không bắn nó bắn mình chết bây giờ!
Anh thò hẳn đầu ra khỏi
xe, tăng hết ga. Chớp xanh lét nhay nháy bay dọc sườn xe. Địch bắn M.72
và BK.106 ly định diệt xe đặc chủng. Anh điện xin pháo binh chi viện.
Ngồi trong xe không nghe tiếng pháo ta bắn. Bỗng nhiên xe khựng lại. Đề
máy. không nổ! Một mùi khét lẹt xông lên, đèn báo cháy nhấp nháy liên
tục.
– Chết mẹ rồi, cháy xe!
Khói tuôn mù mịt. Cán
nhấn nút xả hơi chống cháy vào nơi khói bốc ra. Pháo địch từ Bến Cát,
Lai Khê... nã dồn dập vào trận địa. Anh tụt đầu vào trong, đậy cửa thép
lại. Pháo chụp nổ lụp bụp, nhảy ra khỏi xe dễ dính mảnh lắm (khi chở tử
sĩ ra, Cán phải dùng kềm mới nhổ được mảnh pháo chụp có ngạnh đâm sâu
tới xương một anh!). Anh bình tĩnh dùng bình khí nén để khởi động thử.
Máy lại nổ, mừng quá trời!
Nhìn ra xa qua kính mắt
cua, anh thấy xe ta sa gần hết thân xuống hố bộc phá của công binh đêm
rồi. Anh thấy một lính ta ngoắc tay, vừa dừng xe thì anh này nhảy bổ vào.
Xe đặc chủng quay ngang xả cáp, một lính thợ nhảy ra móc tời. Mảnh đạn
va vào vỏ thép chan chát; chụp nắm trọng liên 12,8 ly bay đi mất, thùng
xe nham nhở, thùng dầu ngoài xe bị thủng (lúc về nơi an toàn, xem kỹ mới
thấy xe đặc chủng bị thủng một lỗ đạn sâu hoắm, nếu vết đó nhích lên cao
một chút thì Cán “húp cháo” rồi!). Xe đặc chủng hạ lưới ben thủy lực căm
xuống lớp đất tơi vụn, rồi tăng ga hết cỡ mới lôi được xe hỏng lên khỏi
hố, quay vòng lại dắt xe hỏng ra ngoài.
Đến đêm, nhờ trinh sát
dẫn đường, công binh gỡ sạch mìn, Cán và đồng đội vào nghiên cứu cách
kích kéo chiếc xe đứt xích. Trời mưa, đất nhão, xe bị lún, phải thử đất
và tính toán kỹ. Dưới làn đạn bắn thẳng và pháo các loại không ngớt, anh
em kích đội xe lên, lắp xích vào mới kéo ra được. Ban chỉ huy chiến dịch
đánh giá tổ cán bộ, chiến sĩ xe đặc chủng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Cán được thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.
Là đối tượng Đảng đã
lâu, nay Đảng bộ Phòng kỹ thuật Cục Hậu cần B.2 gửi hồ sơ lý lịch Cán
xuống để Đảng bộ Tiểu đoàn 22 kết nạp. Anh được vinh dự đứng trong đội
ngũ tiên phong của giai cấp và dân tộc ngày 6 tháng 6 năm 1974. Anh rất
vui:
– Thế là chỉ riêng gia
đình mình đủ lập một chi bộ!
(Cha anh là đảng viên
thời chống Pháp, chị đi bộ đội trước và được kếp nạp Đảng khi anh chưa
đi B.
Chiến dịch lộ 7 ngang
kéo dằng dai khoảng mấy tháng, tới gần cuối mùa mưa mới kết thúc. Xe
tăng thiết giáp ta nếu không ra trận thì về nằm ụ đào âm xuống đất. Bộ
binh làm hầm, pháo khoan nã trúng sát thương khá nhiều.
Ăn Tết 1975 xong, Cán
và đồng đội học chính trị bốn ngày. Sau đó bộ đội ta bước vào Chiến dịch
mùa khô 1974 – 1975. Tháng ba năm 1975 bộ đội khu Đông Nam Bộ đánh chi
khu Dầu Tiếng. Xe đặc chủng đi phối thuộc tiểu đoàn tăng thiết giáp 20
có đại đội 6 Tiểu đoàn 22 tăng cường. Đây là một trong các vị trí địch
phòng thủ vững chắc hơn vùng Nam Tây Nguyên rất nhiều, hơn cả đồn An
Điền. Tăng thiết giáp ta đánh hướng chính, đêm đầu vào khá sâu nhưng
chưa diệt được chi khu phải lui ra. Đêm sau, xe ta vào theo hướng cũ thì
không hiểu địch tháo nước từ đâu làm một vùng rộng lớn ngập nước mênh
mông, không tiến được. Hướng thứ yếu dù không có quả đấm đàn voi thép hỗ
trợ vẫn nổ súng, nhưng không thành công đành rút ra. Đại đội 6 của Tiểu
đoàn 22 bị thiệt hại nặng, một số xe cháy hỏng nằm lại. Đêm thứ ba, tăng
thiết giáp ta vào theo hướng thứ yếu cũ. Ban chỉ huy lênh qua điện đài
cho xe đặc chủng kéo ra năm xe trúng đạn hỏng máy. Pháo 175 ly – vua
chiến trường – bắn rất dữ. Ba xe hỏng nằm ở đầu sân bay Dầu Tiếng kéo ra
tương đối ít nguy hiểm mất gần trọn đêm.
Đêm thứ tư, xe đặc
chủng vào cứu kéo tiếp. Đạn bắn thẳng các cỡ của địch dày đặc. Cán và
đồng đội kiểm tra 2 xe còn lại. Một xe bị trúng đạn BK.106,7 ly tạt sườn
cháy toàn bộ, chiến sĩ bên trong da thịt chín thui, bắt đầu bốc mùi. Cán
gọi điện yêu cầu pháo ta bắn chế áp địch rồi nhảy ra khỏi xe, chạy tới
thò tay qua cửa lính lái, gài về số 0. Xe đặc chủng quay áp sát che chắn
để thợ máy móc cáp vào xe hỏng chỉ nửa phút rồi rú ga, vọt ra ngay.
Chiếc xe cuối cùng trúng bom laser, tháp pháo lún hẳn xuống, bụng xe
thụng trịt sát đất, kéo ra khá nặng và mất nhiều thời giờ.
Giải phóng chi khu
Dầu Tiếng, ta thu năm xe địch, trong đó có chiếc xe M.48 chiến lợi phẩm
đầu tiên ở hướng Truông Mít. Xe này lọt hố bom, xe đặc chủng kéo lên
không nổi; đất hố bom tơi vụn, xích xe không có độ bám cứ trượt hoài.
Cán và đồng đội lấy bạt trùm kín xe M.48, công binh giúp xúc đất phủ một
lớp ngụy trang. Ban chỉ huy điều một số cán bộ chiến sĩ đại đội 33 đã
học về xe địch. Các anh xúm lại tìm hiểu chức năng từng công tắc, từng
búi dây điện giữa ban ngày... rồi đề máy. Máy xe khởi động, xe đặc chủng
vào, móc cáp và tời trục kéo chiếc M.48 ngoan ngoãn ra khỏi hố bom, sau
đó tham gia đội hình chiến đấu của đơn vị.
Đầu tháng 4 năm 1975
bộ đội tăng thiết giáp toàn B.2 chia hai cánh: một cánh đánh Xuân Lộc,
một cách đánh Chơn Thành. Xe đặc chủng đi với cánh sau.
(Sau ngày hoàn toàn
giải phóng miền Nam, Cán có dịp đi khảo sát thực địa nhiều địa điểm
chiến đấu cũ, thấy Chơn Thành là vị trí kiên cố lợi hại bậc nhất. Bên
ngoài là hào, kế đến lớp bờ bao cao gần 2 mét đắp đất dày che chắn, xe
tăng thiết giáp và pháo địch núp sau bờ ao có thể hạ nòng bắn ngang ra
ngoài. Chốt pháo binh đặt ở trung tâm vị trí).
Khi tăng thiết giáp
ta xông vào chi khu Chơn Thành, mật độ đạn pháo địch đủ loại dày đặc
chưa từng thấy. Ba chiếc bị hỏng. Xe đặc chủng vào, thấy một chiếc đang
cháy đỏ, không thể kéo được. Sở chỉ huy lệnh cho Cán lấy ra bằng được
chiếc thứ nhì. Pháo ta bắn cấp tập mấy phút dập đầu địch xuống xe để xe
đặc chủng vào kéo ra. Cán cho xe chạy một đoạn lại dừng. Pháo sáng trên
bầu trời không dứt, soi rõ mọi vật. Trinh sát chỉ:
– Xe nằm kia kìa!
Cán ra khỏi xe, xác
định đường đi cốt tránh hố bom, pháo chi chít. Sở chỉ huy thông báo:
– Bộ binh địch áp
sát rất gần! Cẩn thận, chú ý địch gài mìn trong xe!...
Theo vệt xích, Cán
bò lại, leo lên lan can, thò đèn pin qua cửa lái soi bên trong, trả lại
số 0. Các chiến sĩ trong xe đều hy sinh (sau này anh mới biết có một
chiến sĩ tên Thật kịp thoát ra ngoài, chạy lạc hướng bị bọn biệt động
quân ngụy tóm gọn, anh gặp Thật ở trại tù binh Cần Thơ). Anh chỉ sợ địch
bắn tỉa. Quay trở lại, anh tăng ga, cua xe đụng “kịch” xe hỏng, phân
công thợ sửa móc cáp rồi rú ga chạy ra ngoài luôn. Khi trở vào kéo chiếc
thứ ba thì xe đặc chủng cháy . Đạn địch bắn trúng thùng còn một ít dầu,
dầu cháy theo lỗ thủng chảy vào trong, bốc cháy tiếp ở sàn xe. Cán bị
bỏng ở cạnh sườn, lái xe đặc chủng ra ngoài, nhanh chóng xử lý chống
cháy; lửa vừa tắt lại vào dắt xe kia ra. Kết thúc trận đánh, anh được
tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất. Anh đi quân y
chữa chạy hơn chục ngày thì lành vết thương.
Lãnh đạo binh chủng
tăng thiết giáp B.2 bố trí anh không lái xe đặc chủng nữa, cử một chiến
sĩ khác về thay. Anh được sung vào Ban đảm bảo kỹ thuật sửa chữa của
Miền, đi cùng cánh hướng Tây trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Anh đi theo
đoàn xe tăng thiết giáp qua sông Vàm Cỏ, xuống Đức Hòa, Đức Huệ, Hóc Môn,
Ngã tư Bảy Hiền, vào tới Sài Gòn lúc 12 giờ 30 phút trưa 30 tháng 4 năm
1975.
Thiếu úy Phạm Văn
Cán trực tiếp chiến đấu ở chiến trường B.2 khoảng một năm rưỡi, cứu kéo
khoảng 20 xe của ta thu được hàng chục tăng thiết giáp của địch trong
mưa bom bão đạn. Chiến công anh lập được có phần đóng góp xương máu của
nhiều đồng đội: trinh sát dẫn đường tiếp cận, công binh gỡ sạch mìn, cán
bộ cấp trên chỉ huy đúng... Anh viết bản thành tích mà không quên vô số
gương mặt đồng chí đồng đội. Bản nháp xé đi viết lại nhiều lần, mất đứt
cuốn tập 100 trang. May mắn không bị thương tích nặng, cuộc chiến ác
liệt cuốn hút anh cũng như vô số người khác vào vòng xoáy của nó, giúp
anh trưởng thành dần.
Ngày 12 tháng 1 năm
1976, anh được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam tuyên dương danh hiệu cao quý ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN
DÂN. Trong buổi lễ trang nghiêm này, Cán nhìn lá cờ Tổ quốc đỏ thắm rực
rỡ thấy thấp thoáng những gương mặt thân quen của mấy bạn cùng khóa tăng
thiết giáp Tam Dương vừa ngã xuống ở Chơn Thành, Dầu Tiếng... mấy tháng
trước. Họ như còn giơ bàn tay vẫy anh, chúc anh đi tiếp đoạn đường mà họ
còn bỏ dở. Chiến công của anh thật nhỏ bé so với sự hy sinh của họ.
M.Y