Minh Chung
Những
người từng may mắn dược sống bên ĐạI tướng Nguyễn Chí Thanh những năm
giao thờl giữa chiến tranh cục bộ và chiến tranh đặc biệt đều còn nhớ
như in, và kể lại rành rọt về gương mật sáng ngờI như thế nào của ông,
vị tư lệnh can nhất của tiền tuyến lớn, mỗi khi nghe báo cáo thành tích
đánh giặc của từng đơn vị hay mỗi cá nhân. Mùa khô 1967, sau khi ta đã
đập tan cuộc hành quân "Gianxơn -xity" của Mỹ ngụy - âm mưu xóa sạch cơ
quan đầu não của Trung ương Cục miền Nam, toàn bộ chiến trường sôi nổI
không khí báo công và sửa soạn cho Đại hội tuyên dương công trạng. Đại
tướng rất bận, nhưng ông vẫn dành thời gian đọc kỹ từng bản thành tích
gửi từ dưới lên. Có một bận Đại tướng cười ha hả rồi đứng phắt dậy, dùng
mu bàn tay phải đập từng chặp lên tập giấy đương rung lên vì nhịp cười
hào sảng ở bên tay trái. Ông hả hê : "Triệu Tử Long! ... Đúng là Triệu
Tứ Long. . .nhưng mà tay này không sử dụng đại đao như thờI Tam quốc.
Triệu Tử Long xài đại liên, cắp nách, đuổI Mỹ , diệt ngụy! Thần tình
thay, cuộc giải phóng của chúng ta!
Người
được Đại tướng buột miệng gọi bằng cái tên trìu mến và lẫm liệt đó, là
Nguyễn Văn Quang, khẩu đội trưởng súng máy thuộc đại đội 445 - bộ độI
địa phương tỉnh Bà Rịa - Long Khánh.
Trong
ký ức lờ mờ của Quang, tuổi thơ diễn ra thăm thẳm, tối tăm ở một cái
làng nghèo túng, đói khổ, giống như rất nhiều làng mạc mà sau này anh có
dịp hành quân qua. Làng có con sông ông Kèo chảy ngang, nước khi lạt khi
mặn rất nhiều cá. Hồi ấy, cậu bé có tên Xên chỉ mới lũn chũn, nhỉnh hơn
đầu gốI chú Tám Đông chút xíu. Chú Tám thường đưa Xên ra sông dạy câu cá
và dạy Xên đẽo chạc làm cây súng bắn sỏi. Chú kêu "bắn dàn thun". Không
thấy ai nói chuyện đi học đọc học viết. . . Bởi cả ngôi làng chạy hun
hút dưới những tán lá dừa toàn những người lam lũ. Ngoài thời gian làm
ruộng quần quật, chỉ thấy người ngườI thấp thoáng sau những mái nhà bạc
phếch, những bụI cây um tùm. Có một cái gì đấy đè nặng lên không khí của
làng quê . .
Chú Tám
Đông hay hỏi Xên:
- Xên
nè ! Mai mốt lớn, cháu tính làm gì?
Xên
không nhìn vào chiếc cần câu chú Tám đương thả từ từ xuống mặt nước, trả
lời ngay:
- Làm "Việt
Minh"!
- Bộ
không sợ Tây hử?
- Không!
- Xên khẳng định bằng một giọng trẻ con lên sáu tuổi, nhưng hình như đã
"suy nghĩ” từ lâu lắm rồi, trước cả hồi nằm trong bụng mẹ.
- Nó có
súng dài thoòng đó cha nội- Chú Tám ra tình huống.
- Cháu
có mấy chú Việt Minh!
Tám
Đông vỗ đầu Xên:
- Cái
thằng khôn hết biết.
Những "bài
học” vỡ lòng về cách mạng như vậy thấm dần vào tâm hồn cậu bé mới sáu
tuổi đầu và trên người chỉ có manh áo che thân. Một hôm, ở bờ sô ng về
hai chú cháu cảm thấy trong làng mình như vừa trải qua một sự biến.
Không thấy khói bốc lên từ mỗi bếp nhà như mọi khi. Đường làng nham nhở
những vết giầy đinh lỗ chỗ. Chú Tám phóng như bay về phía nhà Xên. Có
tiếng gọi: "Chú Tám! Chú Tám Đông. ..ơi', vọng ra từ ngôi nhà lợp lá
buông đã cùn trơ xương lá Chú Tám khụy xuống, nâng trên tay anh Tư Ty –
ba của Xên - lúc này đã gần tắt thở. Một con mắt bên phải lòi ra, lắc
lẻo nơi thái dương, mà ở đấy máu vẫn đương ri rỉ đùn ra cái hốc mắt đã
bị lấp bởi nhiều lớp máu đông dầy cộp đen sì. Chú Đông giục Xên:
- Chạy
đi kêu má về . .
- Mà má
đâu?
Chú Tám
gắt:
- Đằng
ông Tư. . . ! Lẹ lên, cái thằng.
Xên
lính quýnh ném xâu cá xuống đất, bất chợt cậu thấy có người ngồi tựa
vách nhà bếp. Xên ùa vào:
- Má ơi!
Ngồi chi đó má?
Cậu
khựng lại, giữa lúc làng xóm lần lượt dồn tớI trước sân lố nhố, đen nhẻm.
.. Cái chết của cả cha và mẹ sau trận càn của bọn lính "com-măng-đô" đã
làm thay đổi cuộc đời cậu bé tên Xên lên 6 tuổi. Xên "bước vào đời" như
mọi người đàn ông sức vóc khác, sớm hơn đời thường mười lăm năm. Có lẽ
đây chính là nhân tố chính, hun đúc nên chí khí anh hùng sau này?
Chuyện
xảy ra như sau: Xên và bé A (chị gái của Xên, lên 9 tuổi) có nghe cha mẹ
nói lại về một ngườI cô ruột tên Tám hiện đương đi ở đợ tại một nhà địa
chủ nơi xa. Làng ấy có rất nhiều đồn bót Pháp chứ không "xôi đỗ" như
làng Xên hiện giờ. Sau khi cha mẹ qua đời, hai chị em bé A và Xên càng
lúng túng trong sự sống. Bà con chòm xóm cũng chung hoàn cảnh thiếu đói
do giặc giã luôn canh cánh bên hông; lại còn phảI tiếp tế cho con cháu
ngoài chiến khu. Nhìn chị em Xên bữa đứt bữa nối, bà con không đành lòng.
Ai đấy đã đánh tiếng cho cô Tám của chị em Xên, mặc dù ai cũng hiểu cô
Tám chẳng làm gì thay đổi nổi số phận hai trẻ. bởi cô cũng đi ở đợ cho
Cả Đình, ở nhà cô còn đứa con nhỏ xíu nữa. . . Nghe tin anh chị Tư Tỵ bị
Tây và lính commăngđô bắn chết, cô tất tưởi xin lão Cả Đình cho nghỉ một
buổi để qua thăm hai đứa cháu mồ côi. Sau hàng tuần trăng làm việc cật
lực để bù trước, cô mớI lần mò sang tìm bé A và Xên. Cô cám cảnh, ngỏ ý
đón cả hai về "có gì ăn nấy", bé A lắc đầu:
- Con ở
đây, hái cau mướn nuôi em được rồi.
- Hai
tay cô còn đây, không đời nào cô để chị em cháu phải làm mướn nuôi nhau.
- Nhưng
con không về với cô đâu.
- Vậy
con ở lại đây làm gì?
Chị A
của Xên đáp gọn lỏn:
- Theo
mấy chú du kích!
- Mầy
còn nhỏ quá, theo mấy chú, làm gì nổi?
- Con
nấu cơm, ca hát cho mấy chú.
Xên níu
tay chị A:
- Chị
đi với em. . .
Nhưng
chị A của Xên cương quyết không đi, bởI theo cô bé chưa tròn mười tuổi
ấy thì "ở bển tụi Tây bắn chết tía má. Chị không dòm mặt tụi nó đặng".
Cô Tám
dắt Xên xiêu vẹo giữa hàng bình bát tốt um rồi lại thấy hình hai cô cháu
lấp xấp sau những thân dừa cao nghều, mốc mác, ẩn dần vào cuối làng. A ở
lại trong vòng tay thương yêu đùm bọc của ông Năm, chú Tám Đông và nhiều
nhiều bà con. Chỉ có Xên là không ngờ điều sẽ xảy ra: đây là lần cuối
cùng Xên vùng vằng với chị gái. Bé A, người chị ruột sau này đã hy sinh
trong một trận càn. Bé A làm đúng lời tâm nguyện nhỏ bé nhưng to lớn
khôn lường của một đứa trẻ miền Đông Nam bộ thuở đó: .
"Thà
chết ngay, không nhìn mặt giặc Pháp đã giết cha mẹ mình".
Xên trở
thành một đứa trẻ mồ côi từ ấy, mặc dù chưa hẳn đúng vì cậu vẫn còn cô
Tám, bé Còn (con cô Tám) trên đời. Song với lứa tuổi của mình, hoàn cảnh
của mình, Xên chưa ý thức nổi mọi mất mát. Bởi vì ngay sau khi tới nhà
cô Tám, Xên đã tức khắc phải có một quyết định khôn ngoan nhất dù cho là
khi ấy cậu bé mới hơn sáu tuổi: Xên quyết định đi ở đợ thay cho cô Tám!
Số là
cô Tám của Xên còn mang nợ địa chủ Cả Đình quá nhiều. Nợ từ đời cha của
chồng cô Tám chưa trả hết, tới nợ đám tang cho chú Tám mà cô đem gán
toàn bộ ruộng rẫy không đủ. Nay thấy cô có Xên về chơi bời với thằng Còn
thay cho cô đi làm, Cả Đình tăng cao yêu cầu làm lụng mỗi ngày. Cô Tám
phát bệnh. Xên đành thỏ thẻ : "Để con đi ở coi trâu trừ nợ cho cô". Cô
giãy nảy, nhưng cuối cùng trước lý lẽ của ba cái bụng rỗng không, cô Tám
phải đưa Xên tới nhà Cả Đình:
- Dạ,
thưa Cả. . .
- Bay
tới mời tao cho người cào nhà bay phải không?
- Dạ,
tôi dẫn thằng cháu đến cho Cả sái việc.
Sau cái
nhìn kinh ngạc chuyển sang sờ nắn vóc dáng cậu bé cởi truồng đen bóng.
Cả Đình ra điều kiện với cô Tám cho Xên giữ trâu, cơm nuôi và không phải
may quần. Áo thì có, chắc hẳn sợ Xên lớn cao nhanh đến mức không kịp
rách quần?
Ngay
sau đó, thằng Hai Lòng (con rể Cả Dình) dẫn Xên xuống hai chuồng trâu
ngoài vuông tre:
- Mầy
giữ sáu con đó. Khuya, cứ sao cầy mọc thả cho ăn. -Hắn bợp tai một con
bé đang xắt chuối sồn sột:
- Lành!
Khuya dậy nấu cơm, nhớ kêu thằng này dậy thả trâu. Nghe chưa? Còn mầy -
hắn nhéo tai Xên- Khi người ta bắt trâu cầy thì mầy đi tưới thuốc. Chiều
về phụ chẻ củi. Chỉ có mấy việc vậy thôi ( !).. . à mà trước khi đi ngủ,
giã vài cối gạo - Cuối cùng hắn nghiêm giọng ra điều khoản chót,
như thông thường kẻ mạnh vẫn "mặc cả" cùng kẻ yếu: - Bỏ trâu tao đói thì
mày kéo cầy thay nó đó nghe. - Xên không nghe đủ vì mải nhìn lưỡi dao
con Lành lướt loang loáng trên cái thân cây chuối đương ngắn dần. . .
Từ đó,
Xên cũng rút ngắn tuổi thơ của mình y như tốc độ xắt chuối kia. Xên lớn
dần lên, làm việc ngày càng nặng nhọc hơn cho nhà Cả Đình. Cũng may Xên
có đám bạn - bốn đứa cả thảy - đều là những đứa trẻ đi ở đợ không công
trong nhà Cả Đình. Đó là Sang, Lành (hai chị em ruột do tía má đi đốn gỗ
bị cây đè chết nên hai chị em phải đi ở trừ nợ) con bé Tộ và Xên. Trong
thời gian đầu ở nhà Cả Đình, một hôm, cô Tám đưa tin chị A của Xên bị
Tây bắn chết trong một trận càn Việt Minh. Xên đau xót. Cái xót của đứa
trẻ lên sáu tuổi mất cả cha mẹ lẫn người chị gái duy nhất. ..thật đau
đớn. Xên thì thầm với ba cô bạn nhỏ : "Chị tao bị Tây bắn chết rồi", cả
bọn còn đương thở dài ngó lên cây me cây cóc dáo dác thì Xên buông mạnh
viên đạn bằng sỏi phía cuối sợi dây cao su đã căng đến trắng bệch ra:
- Mai
mốt lớn lên, tao đi Việt Minh.
Sang
vội bịt miệng Xên:
- Mày
nói lớn, tụi lính nghe, nó bắn chết.
Xên
chống nạnh. Đầu ngẩng cao. Đôi chân nhỏ không quần cứng ngắc, gần như
cắm xuống đất xốp ven sông:
- Tao
không sợ đứa nào hết!
Quả
nhiên, ngay đêm hôm ấy, Xên có dịp chứng minh lời nguyện của mình. Do
thương nhớ chị gái, Xên ngồi khóc và ngủ thiếp đi, quên cả giờ thả trâu.
Thằng Hai Lòng hầm hầm vạch đống lá chuối khô góc nhà, chộp cổ Xên lôi
xềnh xệch ra sân. Nó dùng dây trói thu lu tay chân Xên lại thành một
đống thịt rồi quắng cậu xuống gốc cây quýt ngoài vườn. Chỉ ít giây, Xên
thấy khắp người nhột nhạt, rồi những nót đau buốt khoan sâu vào khắp bề
mặt thân thể. Kiến lửa! Xên chới với, cố mở bàn tay cho con sóc bông mà
chiều hôm trước cậu mới bắt được ngoài cõi, nó thoát ra được. Con sóc
cũng bị một vài con kiến lửa tấn công. Nhưng thằng Hai Lòng đã nhìn thấy
con sóc nhỏ do Xên ôm ấp cả đêm qua, quên cả thả trâu. Nó nhón tay chộp
nhẹ con vật nhỏ đương tìm cách trèo lên cây quýt. Ngay lập tức, con sóc
bị giáng bẹt xuống đất kèm theo tiếng chửi:
- Đ. má
mày lì này!
Tiện
tay, Hai Lòng hốt rơm quẳng lên đầy người Xên và tìm lửa mồi vào đống
rơm lỏng lẻo. Xên giãy giụa. Thằng khốn kiếp lại hốt rơm phủ tiếp. Cứ
thế đứa trẻ bị trói và đốt cứ giằng giật sự sống bằng sức lực cỏn con,
với kẻ có quyền là gã đàn ông cao to lạI được trợ giúp của ngọn lửa hung
hãn. Xên ngất đi. Sau này những vết dây trói cháy bỏng và làm độc trên
người Xên còn hằn mãi thành ba bốn lằn xẹo bao quanh bụng, ngực và lưng
như vết chứng của tính gan góc, không thèm sợ đau của cậu bé Xên.
Rồi
thời gian cũng trôi đi. Chẳng mấy chốc, Xên đã 13 tuổi. Những vết sẹo
quanh bụng và lưng đã lớn dần lên gấp đôi ba lần vết cũ. Lớn lên, nó mờ
đi đôi chút, nhưng trong đầu óc cậu trai mười ba tuổi vẫn còn ở truồng
này, thì không phai mờ bao nỗi khốn khổ trong nhà Cả Đình.
Lúc này,
xung quanh đã có nhiều biến đổi: không nghe nói tới bọn giặc Pháp nữa.
Nhiều nhà trong ấp thấy treo tấm ảnh một người "mình” vận áo lương, khăn
đóng, kêu bằng Ngô Chí Sỹ, Ngô tổng thống gì đó mà đầu óc quen rạch ròi
của Xên không nạp nổi. Cả Đình, Hai Lòng sau một thời gian bơn bớt làm
khó người ăn kẻ ở, giờ lại tăng cao mọi đòi hỏi. Roi vọt, xiết nợ cũng
dữ dằn hơn. Có một kỳ áp Tết, Xên về thăm cô Tám, cậu hí hửng khoe cô
rằng mình sẽ cố làm trừ nợ để mai này mua cho cô bộ quần áo. Cô Tám dòm
thân hình Xên cao vống, chật chội trong chiếc bà ba đen cứng queo vì mô
hôi và bùn, che không hết nửa khổ đùi trên đã lăn lẳn. Bên dưới trống
huơ. Cô thở dài. Bảo ừ thì con cứ gắng vậy. Cô ư? Cô còn em Còn bệnh tật.
Nhà bữa nào cũng cháo bắp đọt môn. Hạt muối cũng phải đi học tập tố cộng,
chống cộng mới được phát giấy mua. . . Xên hấp tấp trở lại nhà Cả Đình.
Nửa đường, cậu gặp một người đàn ông ăn vận tươm tất: áo bành tô trắng
ba túi, quần lụa mỡ gà trơn láng. Hắn ngoắc tay:
- Vô
đây Xên! Phải con Tư Ty không mậy? HồI trước tao với ba mầy kết nghĩa
anh em đó mầy.
Xên
nghe theo, đứng trân trân ngó hắn đương dạng chân giở nón:
- Cha
cha! Lớn hung đa! Về ở với chú cho chú có dịp trả nghĩa ba cháu chớ.
- Nhưng
tôi còn coi trâu để trả nợ cho cô tôi đã?
- Cái
thằng, dại hết cỡ! ở chỗ chú, làm chơi ăn thiệt. Sức cháu, một ngày làm
ăn một năm chưa nhằm nhò gì. Muốn gửi tiền về cho cô Tám trả nợ mấy hồi?
- Giỡn
hoài! Thôi tôi xin ông về coi trâu kẻo Hai Lòng nó bày đặt trừ công.
Uổng hết.
- Chờ
chút mầy.
Gã vào
buồng trong, đem ra một bọc giấy ném lên bàn: "áo quần chú mua sẵn cho
cháu đó. Nhưng khoan bận bây giờ. Để sớm mai trốn khỏi nhà ông Cả, theo
chú về quê, bây mặc bộ nầy vô, coi oách -xì-bồ lắm đó nghe”.
Xên bùi
tai. Sớm hôm sau, Xên đánh trâu ra khỏI nhà Cả Đình rồi men theo đường
mòn, cắt lộ , tới bến xe lam thị tứ lúc trời chưa rạng. Tư On -người đàn
ông xưng chú kết nghĩa với cha Xên - đã chờ sẵn trên xe.
Xên
trốn khỏi nhà Cả Đình, để lại cho Cô Tám món nợ công xá mà sau này cô
Tám trả tới chết vẫn chưa hết. Xên theo Tư On lên một vùng đất xa lạ. Ở
đây lúa má rất ít, bù lại người ta trồng những loại cây gì xanh um từng
gốc. Cành lá bóng mướt và từng cành trĩu nặng những chùm trái ương, chín
đỏ vàng hườm hượp, lúc lỉu, chen chúc nhau như những trái sung nhỏ .
Gia
đình Tư On gồm bốn người: ngoài ông ta và vợ ông, một người đàn bà mặt
mũi lúc nào cũng cứng như nặn bằng đất sét lại tô ngoài bằng vôi xanh đỏ,
còn hai thằng con cỡ Xên, nhỏ hơn chút ít. Cuối cùng là con chó tên Na.
Một con chó nòi nghe nói Tư On mua lại của chủ đồn điền người Pháp trước
khi gã này cuốn gói về nước với những binh lính đồng bào của gã. Xên
không mấy quan tâm tới mọi người và con chó nhà Tư On vì với cậu, người
ta ở đâu cũng như nhau, có một loại người chuyên ăn hiếp kẻ khác và một
loại kia luôn phải làm lụng cực khổ mà cứ bị đói hoài. Xên thuộc loại
thứ hai. Bởi vậy muốn bớt bị ăn hiếp, trước hết hãy lo làm làm ở đây ra
sao. Ngày hôm sau, Xên được trao cho một cái bị cói đeo vai. Vợ Tư On
bảo Xên cứ vào thắng vườn cây cà phê chín mọng (à! Thì ra thứ cây bữa
qua bắt gặp dọc đường kêu bằng cà phê ) mà hái. Cứ đầy bị thì mang về đổ
ra sân rồi lại đi hái tiếp. Xên hỏi:
- Vườn
cà phê kia có chủ không chú?
- Rừng
mà! Bây hái càng mau, trái càng đỡ rụng.
Tin vào
“chú thím", Xên ra sức làm việc, thoăn thoắt suốt ngày ra vào những hàng
cây núch ních những trái chín thơm phảng phất một mùi rừng núi mênh mang.
Xên cứ tuốt đầy cái bị hai chục lít lại xốc nó lên vai chạy ù về góc sân
nhà Tư On mà đổ thốc xuống. Chẳng mấy nỗi góc sân đã cao lùm lùm trước
mắt vợ chồng “chú thím Tư". Xên không biết rằng mình đương đổ tiền vào
sân nhà Tư On. Cậu chỉ nghe chú Tư nói sẽ gởi tiền về cho cô Tám may
quần áo cho cô với thằng Còn, Xên lại nhanh tay nhanh chân hơn.
Một hôm
đương mải mê tuốt những trái chín sẫm dồn vào bị, Xên bỗng nghe tiếng
chân bước trên lá khô lại gần. Rừng càng vắng càng đưa lại mũi Xên mùi
thuốc hút thơm mệt lạ lùng. Cậu ngừng tay đi lạI phía người đàn ông cao
lớn, khói thuốc mù mịt song không làm mờ khẩu súng dài thoòng ổng cầm
ngang thắt lưng.
- Ông
cho cháu mồi chút lửa.
Gã đàn
ông không nói nửa lời, chĩa thẳng súng vào Xên.
- Thằng
nhỏ ! Mầy làm gì ở đây?
- Tôi
hái trái cà phê ở rừng chứ bộ . . .?
Gã dứ
dứ mũi súng lạnh ngắt trước trán Xên:
- Mầy
biết vườn cà phê của ai không mậy?
- Của
rừng chứ của ông chắc?
Gã
quàng chiếc bị lên vai Xên, thúc mũi súng vào đít:
- Thế
thì về bót mà hái cà . . .
Xên bị
tụi cánh sát đánh cho tứa máu chân răng. Bấy giờ cậu mới hiểu vườn cà
phê có chú, mình phạm tội ăn trộm. Cậu chùi máu quanh mép quệt xuống
chân tường, thành thực:
- Chú
Tư nói trái đó của rừng, hái giùm chú về được tiền, tôi mới hái.
- Mầy
nói Tư nào? Phải Tư On không?
- Dạ
phải. Tôi ở đằng nhà ổng.
Tụi
lính bực mình với Tư On đã lâu nay mới bắt được Xên là kẻ tay chân của
tên này, nên chúng trút tất cả tức giận lên cậu bé . Mãi tới khi có
tiếng lao xao ngoài cửa "ông Tròn" nào đó đã tới, bọn chúng mớI ngưng
lại, Xên rũ ra như con sên nhỏ trong vũng máu. Tròn lại là cháu Tư On,
một đảng viên đảng "Cần lao Nhân vị", một tên sát cộng khét tiếng của Ty
Công an Bà Rịa. Bọn lính phải thả Xên, mặc cho Xên bò về nhà. Thì ra "trâu
bò húc nhau ruồi muỗi chết”. Tên chủ vườn cà phê bị mất trộm và Tư On là
hai kẻ kình địch nhau. Tư On cậy mình có cháu là Tròn trên Ty nhưng gã
chủ vườn lại thuê cảnh sát tại bót quận rình bắt kẻ trộm. Xên chỉ bị
đánh nhừ tử chứ không bị bỏ tù nhờ cái vía của tên Tròn tên méo nào đó
cũng là may. Về nhà, Tư On chửi bới Xên một chặp vì cái tội xưng tên y
ra cho bọn gác cà phê biết trình cảnh sát. Y phạt Xên không được thưởng
tiền nữa ( !) và đuổi Xên xuống coi trâu.
Người
dắt Xên xuống nhà dưới là chị Thu. Chị đưa Xên tới gặp một người đàn bà
rách rưới đương ôm đầu chạy trốn cơn thịnh nộ của tên cai. Thu bảo:
- Đấy
là bà Dẹp người Châu Ro ở sóc Nhạn, xóm.Cò ra làm mướn vì trong sóc đói
quá. Từ nay em làm chung với bả. Em cởi quần này ra, thay cái quần chó
xé này vô để chị trả bà chủ cái quần kia.
- Tụi
lính xé mất áo, còn cái quần dính máu này, em. . .
-Khỏi!
Còn quần trả quần. Mất áo bả trừ tiền em mãn năm đó. . . Để tối chị vá
lại cho cái quần chó xé này vậy.
Đêm đó,
Xên ngủ trong chuồng bò do bà Dẹp bàn giao lại. Những vết roi đòn do bọn
cảnh sát quận nổI vằn lên. Dù chúng thấp hơn sẹo Cả Đình, song tất cả
đều hằn trên da thịt cậu bé 13 tuổi. Cái tuổi đã bắt đầu ý thức được nỗi
đau đớn của kể bị ăn hiếp cũng như đã được nhận thấy sự cảm thông của
những ngườI chung cảnh ngộ . Ví như Thu, bà Dẹp. . . dù họ là ngườI Châu
Ro, là con gái khác giới của mình. Trong đêm đen, giữa tiếng gõ sừng của
lũ bò lịch kịch, Xên nhớ tới chị A, cô Tám, thằng Còn, lũ bạn. Tộ, Sang.
. . Xên hiểu ra chỉ tại thằng Tây và bọn Cả Dình, Tư On và những người
nghèo khổ nhưng tết bụng như chị Thu cùng mọi người phải khổ. ước gì
mình lớn nhanh để làm cái gì xóa sạch chúng nó đi.
Đàn bò
sữa gần trăm con mà Tư On giao cho Xên coi sóc có một bãi cỏ sữa mênh
mông. Bãi đó dài tới cỡ Xên chạy non buổi sáng mới tới bìa cuối. Nơi ấy
là ranh, bởi cỏ vừa chấm hết đã gặp những cây cao su non tơ phơi phới
những tai lá lộc rung lên chào gió và nắng. Màu xanh cỏ với màu xanh nõn
cao su khác nhau chẳng những bởi chiều cao mà còn bởi một đàng xanh đậm
và săng sắc còn đàng kia xanh mát và dịu mềm. Bò có vẻ ưng những đọt cao
su? Hễ cứ mon men tới gần ranh là thế nào cũng có con lén vượt rào, bứt
sồn sột những ngọn cây non yếu ớt. Xên đã có cách chỉ huy đàn bò bướng
bỉnh của mình. Cậu dùng cây giàn thun với một loạt đạn gồm những hạt sỏi
trắng nhỏ tựa hạt bắp răng ngựa. Sỏi đó Xên lựa hằng ngày trên đường dắt
bò được cả túi. Xên chỉ bắn vào sừng con đầu đàn. Bắn trúng phóc. Con
đầu đàn đã quay lại thì kể như rừng cao su an toàn. Khỏi ngầy ngà giống
như khi bẻ trộm cà phê . Xên chỉ muốn vậy. Số là vì dạo này, Xên làm
quen với bé Liên. Một cô bé gái ngày nào cũng xin đi nhờ bò của Xên tới
trường tiểu học của ấp bên ngoài lô cao su. Bé dạy Xên đánh vần, bé mở
cho Xên cánh cửa vào một ngôi nhà khác mà sau này anh mới hiểu thiếu nó
con người gần gũi súc vật một nửa quãng đường đời. Đó là tri thức!
Xên
chăn bò ở đây còn có dịp làm quen với ba chị em nhà chú Chín Bình Dương.
Ba đứa cũng đi chăn bò mướn cho một chủ trại, còn chú Chín thì ốm nhoi,
ốm nhách, nghe nói chú bị tố Cộng bên đó , chạy dạt qua đây sống nhờ vào
ba đứa con đi ở đợ. Xên đã nhìn thấy chú Chín đôi ba bận. Hai mắt chú
sáng và cũng lẹ như chú Tám Đông ngày nhỏ của Xên. Xên càng thêm thân
mật với chị em bé Ba. Bữa nọ , cả bọn đương mải nằm bò ra bãi tập tô
chừ lên đất theo bài học của nhỏ Liên thì bỗng nghe bò chạy tán loạn. Cô
chị lớn vừa lao về phía bò vừa hò hét. Nghe kỹ Xên hiểu: "Chủ sở bắt bò
tao bay ơi". Thì ra chủ sở cao su bắt được con bò của bầy bò nhà chú
Chín đương nhai lá, y đem về gọi phu cạo mủ dong vô sở. Xên hỏi các bạn:
- Chủ
sở là thằng Tây mập phải hôn?
Bọn bạn
gật đầu. Xên chạy tắt lại. Đúng thằng Tây sở. Hắn chính là cái gã hồi
tháng trước bị mấy chú trong rừng ra bắt trói cảnh cáo về tội đánh công
nhân cạo mủ, cộng với tội đem lính đồ đen về bắt "Việt cộng". Hôm đó Xên
chạy tới thì mấy chú đã rút mất, chỉ còn thằng Tây mập bị trói trong
chiếc ghế bành giữa lô cao su vắng vẻ . Xên tấp lại thoi một trái thụi
vô đúng cái bụng lều phều của thằng Tây. Khoái hung! Nhưng sau đó bọn
lính với lại bọn cai sở bu lạI đông nghịt, Xên phải lảng đi. Cậu nghĩ
nếu mấy chú trong rừng trị được nó thì mình cũng "xơi" được. Lúc này
thằng Tây mập đã leo lên chiếc xe đen bốn bề kiếng và nổ máy theo hướng
sở cao su. Xên leo lên lưng bò, nắm chắc viên bi sắt trong miếng đệm da
quen thuộc và kéo căng dây thun, nhằm thẳng vào mặt thằng Tây lấp sau
cưa kính. Mặt kính vỡ toang. Thằng Tây quay lại, nhìn thấy bộ mặt dữ tợn
của thằng bé con trên lưng bò. Y né tránh, lại thấy thằng nhỏ quát to:
- Thả
bò tao ra, không tao bắn lọt tròng mắt đó !
Thằng
Tây đã biết ăn mắm tôm đất Việt này cũng rành tiếng ta. Nó còn biết hơn
thân phận mình, loại chủ sở cố bám đồn điền cao su sau khi quân độI đồng
bào của hắn phải cuốn cờ về nước nhục nhã. Hắn ra hiệu cho mấy người
công nhân thả sợi dây buộc bò ra và dúi cho anh tài xế một cái thật mạnh
để chuồn mau... chị em cô bé , con chú Chín Bình Dương tỏ vẻ khâm phục
Xên vô cùng. Các cô ngỏ ý mời Xên tối đó đến chơi. Xên được chú Chín xoa
đầu khen ngợi. Rồi
sau khi
nghe câu chuyện hoàn cảnh của Xên. Chú bảo: "Từ rày chú coi cháu như con
trai lớn của chú. Gọi theo cách bác cô chú người Bắc vô đi phu thì cháu
là thứ Cả, Cả Xên, được không?". Xên ưng lắm. Từ đó tên Cả Xên theo sau
cậu bé chăn bò nhà Tư On đến tận năm Xên 16 tuổi.
Danh
tiếng Cả Xên theo lũ trẻ chăn bò vang xa đến mấy điền. Lâu dần, bọn trẻ
ở các sở mủ quanh đó đều là bạn của Cả. Để làm được việc đó, không phảI
dễ . Tất cả mọi lần đều phải trải qua một trận thử sức thật lực. Lạ thay,
không lần nào Xên đầu hàng bất cứ đứa nào, dù thằng ấy hơn sức hơn cơ
thì cũng phảI thua tính lì của Cả. Suốt một vùng ba bốn sở mủ, trẻ con
đều tôn Cả Xên lên hàng thủ lĩnh. Ngay bọn cai sở, tụi con cái họ cho
chí bà con phu cạo, rất nhiều người biết tiếng tăm cậu Cả Xên, chăn bò
nhà Tư On có tài bắn ná bách phát bách trúng. Kỳ hơn nữa, cậu còn có gan
đánh cả thằng Tây mập chủ sở, lấy lại bò. Tiếng tăm ấy rồi cũng đồn
ngược trở lại tai Tư On. Bữa ấy, Xên lùa bò về chuồng khi trời hãy còn
sớm. Tư On đứng đón ở cổng sở. Y sờ lưng từng con bò sữa lông vàng và
lủng lẳng chùm vú dưới bụng. Hắn gật gù. Sực nhìn thấy mắt trái. của một
con bò bị sưng híp, mặt Tư On chợt đỏ lựng:
- Sao
vầy nè?
- Dạ. .
.
- Không
dám, dạ cái con mẹ họ mầy. Phải mày bắn?
Hắn vút
cái roi bò lên lưng Xên. Xên uốn lưng xuống nhưng không tránh được những
gai cá đuối của sợi roi. Buốt lòi loi, nhưng Xên kịp luồn qua bụng bò,
bỏ chạy. Mụ Sàn, vợ Tư On đứng trên hiên nhà nói vọng xuống:
- Bằng
phủi đất cát cho nó?
Cả Xên
phải đợi khi Tư On vào nhà mới dám vác sọt di dọn phân bò vương vãi
ngoài sân. Đương lom khom hết đống phân ở gần tam cấp thì thằng Tiết con
út Tư On từ đâu nhảy bổ lên lưng Xên đòi Xên mọp xuống làm ngựa cho nó.
Xên còn đương lúng túng vớI cây chổi xọc dừa và mấy hòn phân bò nên cứ
dún dẩy cái lưng làm thẳng nhỏ Tiết càng sướng cười như nắc nẻ. Thằng
Kim anh nó bỗng từ trong nhà phóng ra như con chó dử, chồm tiếp lên lưng
Xên. Xên bị bất ngờ, quỳ mẹp xuống đất.
- Ngồi
dậy cõng cậu Ba mầy - Thằng Kim la lối, vung tay nhưng Xên vẫn chưa dậy
được. Hắn quát – Tao đá và lập tức mũi giầy cúa hai anh em nó chọc xiên
trên sống mũi Xên. Máu rịn ra. Xên ức quá, quật luôn thằng Tiết ngã
nhoài ra sân. Chưa đã, Xên thuận tay hốt giò thằng Kim lăn đùng theo làm
cả hai đứa công tử bột to xác la om trời đất. Mụ Sàn giơ hai tay lên
trời:
- Quỷ
thần ơi! Thằng Xên mần thịt hai đứa con ông rồi ông Tư ơi. . . !
Trong phút chốc Xên bị trói giật cánh khuỷu vào cột nhà. Một cuộc tra
hỏi tổng hợp mọi tội lỗi:
- Sao
mày dám động tới con ông?
- Sao
mày dám đem con chó Na nhà ông đi bán?
- Bộ
mày tính cướp nhà ông chắc?
Xên thè
lưỡi liếm máu đương xâm xấp rịn ra quanh mép. Cậu giả vờ ngơ ngác nhưng
kỳ thật chính Xên đã thuốc chết con Na nhà ông Tư On từ sau lần hai vợ
chồng Tư On xua chó cắn mấy người Châu Ro làm mướn chót lỡ làm đổ thùng
sữa tươi ra chuồng. Lần ấy Xên đã đem xác con Na ra cho chú Chín Bình
Dương để tặng mấy người công nhân trong sở mủ ăn thịt. Đêm ấy chính Xên
đã nói ý nguyện muốn rời nhà Tư On ra rừng với mấy chú Việt cộng vì cậu
mới được chú Chín giải thích cho rằng Việt cộng chính là Việt Minh thuở
nào. . .
Thấy Xê
gan lì, mụ Sàn giằng roi cá đuối từ tay chồng và khảo đả lên người Xên.
Mỗi lần roi vút, mụ lại lên rẩm rằng Xên là đứa ăn tàn phá hại, là hắn
dạI dột đem rước voi về giày vườn. Đau buốt vì những gai cá khô móc da
thịt, Xên nhằm thẳng bụng chân mụ Sàn đá mạnh một cái khiến mụ bật ngửa
xuống đất. Mụ la lối: "Nó giết tôi rồi" và như có quỷ dừ xui khiến, mụ
lồm cồm bò dậy, lục cây thước kẻ bằng gỗ mun có bốn cạnh bọc đồng thường
dùng làm vũ khí phòng thân của Tư On ra. Mụ cứ nhằm hai ngón chân Xên mà
khảo. Cho đến lúc Xên ngất hẳn mụ mới chịu ngưng tay, hể hả hớp ngụm
nước trà ướp lài thơm mát. . .
Trận
đòn của mụ Sàn ấy làm cho Cả Xên không bao giờ quên được. Mỗi năm Xên
mỗi lớn, mỗi khi nhìn xuống hai ngón chân cái bị méo vẹo như chân người
cổ đại, Xên lại nhớ tới món nợ này. Song tuổI mỗi lớn, Xên lại được các
chú trong rừng và chú Chín Bình Dương bảo ban, kiềm chế thêm để bớt tính
hung hãn vô lối. Xên cũng đã ngộ dần ra cái nguyên cớ nỗI khốn khổ của
mình, của chị A, ba má . . . nói chung tất cả những người tử tế bấy lâu
nay Xên thường trò chuyện, giúp đỡ hay bênh vực bằng sức mạnh của mình.
Các chú đã gợi chuyện để Xên nói ra được kẻ thù chính của làng nước là
bọn Pháp, tuy chúng rút về nước nhưng lại có bọn giặc Mỹ thế chân, chúng
dùng những tên tay sai người ta như bọn thằng Tròn công an, bọn chủ sở.
.. phải làm cách nào đuổi hết chúng, mình mới khỏI khổ.
Trong
xa xăm của ý thức, Xên đã mường tượng ra cái ngày mình cầm súng nhưng
phải là khẩu súng to hơn súng của bọn cảnh sát, bảo an để nã thẳng vào
đầu chúng nó . Bao giờ? Xên chưa rõ nhưng đã có lần Xên đến gần thằng
dân vệ, ướm thứ, cậu thấy khẩu súng cúa hắn ta chỉ nhỉnh hơn chỏm tóc
mình độ một đoạn lê nho nhỏ. Sắp rồi? Phải, Xên đã gần mười sáu tuổi. Đã
mười năm trời đi ở đợ cho Cả Đình và Tư On cơ mà? Hôm ấy, Tư On mới chạy
bình bịch lên quận được một lát thì Xên cũng vào nhà ngang lấy mo cơm
sửa soạn ra bãi. Chị Thu đương véo von hát một bài dân ca xứ Quảng.
Dường như chị nhớ quê và cha mẹ vì nghe nói gia đình chị lưu lạc từ
Quảng Ngãi vào Vũng Tàu nhưng bị bọn lính tuần tiễu bắn chết sạch vì
nghi Việt cộng. Chị được mụ Sàn mua về làm người ở vì khỏe mạnh và thực
thà. Đương nghe chị Thu hát, Xên bỗng thấy tiếng con mụ Sàn the thé
ngoài phòng lớn. Nó đương khảo chị Thu bắt đi tìm cái quần áo lót nào
đấy Chị Thu khẳng định đã gấp cất rồi, nhưng con mụ lười biếng cứ sấn sổ:
- Mày
ăn cái quần của tao rồi hử?
- Dạ,
bà coi lạí...
- Coi
cái mặt con chó cái nhà mày hử?
Rồi Xên
nghe tiếng chân bà cụ Dẹp Châu Ro chạy phóng ra sân. Xên lao vào thấy hai
bàn tay múp míp những thịt và móng vuốt đỏ lòm của mụ Sàn cứ tớI tấp chộp,
bổ lên mặt lên người chị Thu làm chị co quắp lại, giật lùi gần tới góc nhà.
Nhanh như sóc, Cả .Xên phóng một phát đá như trời giáng vào lưng mụ Sàn
khiến mụ ngã sấp xuống chân chị Thu. Cậu nhác thấy cây thước cạnh đồng còn
chìa ra một đoạn trên nóc tủ, rút ngay xuống xông về phía mụ Sàn.
- Ối ông
trưởng ấp ơi, chúng nó a tòng với nhau giết tôi nè. . .
- Này, cả
cái lão Chóng trưởng ấp tới đây tôi cũng tương cho lòi con ngươi mắt. Tôi
hỏi bà cái gì đây?
Biết lâm
vào thế bí, mụ Sàn hèn hạ:
- Bẩm cậu.
. . cái cái. . . thước đo
- Nhìn
xem cái gì đây?
Xên chìa
hai ngón chân cái bị thương tật méo xẹo. Mụ Sàn nhắm mắt. Cứ thế Xên giã
xuống ngón chân mụ. Mụ lăn lộn, van lạy xin tha, xin chừa.v.v. . . Xên bỏ
mặc mụ với đống máu ở đấy, ra ngoài cửa lạI gặp thằng Chóng trưởng ấp lãm
lăm cây côn mun, vừa xuống chiếc xe Gôben phía ngoài:
- Thằng
kia mày làm loạn hả? Tao chưa bắt mày vì mấy tội phá cao su, gây lộn trong
ấp, thả đinh ngoài lộ đó nghe. Bây giờ cả gan phá nhà chủ là ông Tư?
Xên
giương ngay giàn thun lên:
- Ông
bước tới bước nữa tôi bắn lòi con mắt sau cái kiếng đen kia đó - Rồi như
nhớ ra, Chóng chỉ còn con mắt phải do đã bị mấy chú nằm vùng tỉa đui bên
trái, Xên nói rõ - Con mắt phải đó!
Có lẽ đã
nghe danh tài bắn súng cao su của Xên với cái tên Cả Xên truyền tụng mấy
ấp rồi, Chóng giật lùi không dám vào cứu nguy cho con mụ Sàn. Y định bụng
lên quận rỉ tai xếp Tròn xuống giải cứu vì y biết rõ bữa nay Tư On lên Bà
Rịa phải khuya mới về. Tình hình coi mòi bất ổn, Việt cộng đã mò về cả ban
ngày, chở gạo, muối từ chân lô cao su ra bưng: Đã chấm hết thời gian làm
mưa làm gió của những kẻ như y rồi? Ước gì người Mỹ sớm đem quân vô đây để
"bảo toàn" cho công cuộc mần ăn của bọn y!
Buổi tối
Tư On về, nghe vợ kể tất cả nhưng hắn lẳng lặng coi như không có chuyện
Xên đánh vợ mình. Hắn vẫn chỉ huy cuộc kiếm tiền từ giọt cao su, chai sữa
đến cục phân bò... Xên ngỡ ngàng rồi buông lỏng cảnh giác. Đúng như vậy.
Vào buổi chiều ba ngày sau khi Xên nện mụ Sàn đến vô nhà thương Bà Rịa, Cả
lạI dong đàn bò về chuồng theo đội hình giống như trước. Qua khỏi cổng
trại, Xên quan sát thấy tứ bề yên tĩnh, chứng tỏ Tư On đã lên nhà thương
với hai đứa con trai chưa về. Xên lùa con bò khoang đầu đàn qua cánh cổng
nhà trại. Tư On đã đứng sau cánh gỗ mà Xên không hay biết. Tay hắn giơ sẵn
chiếc cán cuốc. Thoáng chốc, Xên nghe choang từ đỉnh đầu rồi quay cuồng,
lịm đi. Thằng Tư On trả thù Xên một cách hèn hạ như thế vì hắn biết hắn
không thể đối mặt với Xên nổi. Xên đã lớn, cao hơn hắn đến gang tay, lại
sức trai mười sáu ăn chưa bao giờ biết no là gì, lại là tay thiện xạ súng
bắn giàn thun. Song hơn tất cả là tính tình Xên hết sức ngay thẳng, không
biết sợ là thế nào, chỉ nghe theo lý lẽ của chính mình.
Khi Xên
mở choàng mắt trở dậy thì trời đã khuya lắm. Sương xuống ướt đẫm cả người.
Một mùi tanh tưởI bao trùm, càng nặng nề hơn do sương đêm đè xuống. Xên đã
nhận ra mình đương nằm trong cái hố phân bò. Xên cố chắp nối mọi sự việc
lại và thật may, trí nhớ đã đưa cậu về đứng chỗ cánh cổng nhà trại hồI
chiều. Xên đã hiểu ra tình thế nguy hiểm của mình. Rõ ràng Tư On định ném
mình xuống hố phân nhớp nháp này là để mình chết vì đau đớn cùng với ruồI
muỗi và cơ man những côn trùng trong đó . Nếu không tìm đường tháo chạy
cho sớm thì ngày mai thế nào y cũng tìm cách đánh thêm cho tới chết để hả
giận vì những tội mà Xên gây ra cho chúng như đánh mụ Sàn, phá nát mấy
công cao su non tơ của hắn. Sở dĩ bao ngày nay vợ chồng Tư On còn chưa
giết Xên là bởi hắn còn thèm khát sức lực của Xên, nay chính Xên đã đánh
lại hắn, cơ sự đổ vỡ cả rồi. Hắn không tha nữa. Có thể hắn còn mướn tụi
thằng Tròn công an và thằng Chóng ấp trưởng vu cho tội cộng sản đem trôi
sông không chừng...
Dù người
ngợm bẩn thỉu và choáng váng ngất ngây bởi cú đánh lén hồi chiều, Xên cố
nghiêng mình, dùng khuỷu tay làm trụ, nâng dần người lên để lết từng đoạn
nhỏ một. Riết cũng tới được bìa hố. Xên định hướng để bò tới lều chú Chín
Bình Dương. Cậu cứ lấy thời gian từ tầm sáng của ngôi sao thợ cầy di
chuyển. May quá, lúc rạng sáng, Xên đã qua được con suối cạn, lối dắt vào
sở cao su thằng Tây mập Xên bỗng nhớ tới chú Tư Lùn có lần Xên gặp ở đây.
Xên quyết định cắt suối, rẽ nhanh vào khoảng rừng còn nằm ở cuối khu rừng
thưa giáp ranh này. Cậu vớt nước rửa ráy và uống đại, không ngờ người phấn
chấn hẳn lên. Cậu quyết định không rẽ vào chú Chín nữa.
Sau nửa
ngày vừa đi vừa núp sau những thân cây để tránh gặp những người làm công
cho Tư On trên mảng rừng thưa, đến trưa Xên đã đặt chân lên phần đất rất
xa lạ, đầy huyền thoại đối với cậu và lũ bạn xưa nay: Rừng! Rừng; di mỗi
bước mỗi gặp hổ báo voi v.v... chỉ rình xé xác kẻ nào bước tới. Rừng: nơi
các chú Tư Lùn, Tám Đông và những người gọi chung bằng "Việt Cộng" sống
ngang dọc, khiến cho những kẻ như Tư On, công an Tròn hoặc Cả Đình hễ nghe
nói đến là vừa ức vừa lấm lét ngó quanh. Tóm lại rừng hứa hẹn thay đổI
cuộc đời của Xên hiện tại, giúp cậu có điều kiện trả những món nợ... sau
này.
Cái bụng
Xên ngon ngót và lọc bọc làm sao. Chắc đói! Xên ngó quanh chỗ đứng. Chỉ
toàn những cây dựng đứng, ngổn ngang dây rợ. Nhìn thật kỹ dưới đất mới
th.ấy dấu chân người đi lại thấp thoáng kiểu lốI mòn. Đói và mệt, Xên bứt
đại một nắm lá ngải ré non va vào .miệng nhai ngon lành. Cái đói đã thua
sức trai, mà đây là sức trai có mục đích. Xên lấy lại sức đi tiếp trên con
đường mòn thỉnh thoảng lại lỏng chỏng đôi ba cục phân nai, phân mễn. Cứ
như vậy, Xên đi sâu vào khu rừng linh thiêng không hề sợ sệt gì. Cậu mường
tượng ra tiếng gọi của chú Tư Lùn ở một hốc tốI nào đó, hay bên kia bờ con
suối đầy nhưng vẫn thấy được những tảng đá nhô thụp giữa dòng... Không có
ai cả . Rồi đêm xuống. Đói và tối tăm. Nhưng Xên không cảm thấy tối bằng
những đêm nằm trong nhà Tư On là tại sao nhỉ? Xên chui vào đống lá khô vơ
vội lúc cuốI ngày và ngủ vùi trong cơn đói lả để rồi sáng ra, với lá rừng
và nước suối, Xên lại tiếp tục lần mò trên lốI mòn (mà hôm nay cậu đã lượm
được đôi mẩu tàn thuốc trăng trắng nơi ngọn cỏ, chứng tỏ mấy chú mới qua
đây ) Xên không ngờ rằng cậu đã phải lê lết tới ba ngày ba đêm giữa rừng
già Xuyên Mộc tới lả.
Chính vào
lúc Xên đã mơ thấy mình gặp lại ba má, cô Tám, chị Anh Tư và lũ bạn chãn
bò ở nhà Cả Đình Tư On một cách kỳ lạ và rất lơ mơ thì cậu được một người
đàn ông cúi xuống thết lên:
- Trời,
thằng nhỏ Cả Xên.
Xên bải
hoải, hé mắt. Xên nhận ra chú Tư. Nước mắt Xên ứa ra đôi gò má khô khốc vì
mấy ngày đói khát và chui nhủi trong rừng. Xên nói nhỏ:
- Cho
cháu theo mấy chú.. . đánh tụi nó. . .
Nghe và
đoán mãi, chú Tư mới hiểu nổi. Chú cũng nhận ra sự tình của Xên. Chú lưỡng
lự:
- Theo
mấy chú, có chịu cực được không?
Xên chỉ
chờ có thế. Cậu gật đầu dứt khoát, và ngất hẳn. ..
Thoạt
tiên Xên được đem về "quân y" tỉnh để chữa chạy những vết thương đã bị
nhiễm trùng do bị vất ở hố phân bò hôm trước. Sau đó khỏe mạnh, Xên được
đưa tới nhận công tác ở lán anh Tư Nhàn.
Nhưng đã
10 ngày rồi Xên vẫn ở không. Tối ngày ngồi ngó những chạc cây trên cao tít.
Tối đến nằm võng im thin thít cho anh Tư làm việc bên ngọn đèn dầu hôi đỏ
lòe. Tư Nhàn chính là chú Tư Lùn mà Xên và bà con mấy sở dưới xuôi quen
gọi. Lên đây, anh Tư nói tên thật là Nhàn và nhận Xên làm em nuôi, Anh Tư
đi tập tễnh vì trong lần vượt ngục Tân Hiệp trước đây anh bị té trật đầu
gối trái. May nhờ đồng đội cõng vượt qua sông Đồng Nai qua bên kia Tân
Uyên mớI thoát lên chiến khu Đ chữa trị rồi khi phong trào lên đều, anh Tư
được điều về miệt Bà Rịa này coi sóc công việc tuyên huấn của huyện. Bữa
nay anh Tư không đi công tác. Anh liếc xéo thấy Xên đương ngồi lau chùi
chiếc ăng gô đựng cơm cho anh. Anh gật gù bước lại:
- Xên này,
em tính đi theo mấy anh tới khi nào thì về?
Xên ngơ
ngác chưa hiểu ý anh Tư Nhàn. Em vặn lại:
- Thế
chừng nào anh nghỉ?
- Chà,
hỏi chắc vậy bây. Tao hả? Khỏi dài dòng:
- Tao
theo cách mạng tới già.
Thì em
cũng vậy. Đi hoài, hết tụi Tư On, mần tiếp bao giờ cho mọi người sướng như
nhau mới ưng.
Nhàn xoa
râu cằm, quyết đoán (thực ra anh đã để ý Cả Xên từ những ngày anh phải ra
vào vùng địch để vận động tương trợ lương thực, nhu yếu phẩm.v.v. .. trước
kia, mấy hổm rày anh Tư theo sát, đã ưng trong bụng)
- Bay nóì
nghe ngon đó. Vậy từ mai tau cho bay làm liên lạc cho tỉnh nghe mầy.
- Liên
lạc là gì?
Mắt anh
Tư hơi nhíu lại, nhưng ngay lập tức anh nhớ lại hồi "chín năm" đi theo mấy
anh, cũng ngây ngô như Xên bây giờ. Anh ôn tồn:
- Là đem
thơ cho các nơi "bồ bịch” của cách mạng đó.
Xên giúp
anh Tư gọi tên các cụm từ dài dòng:
- Kêu
bằng "cơ sở" mà anh cũng không biết.
- Ờ!
Nhưng có dám đi ngang đồn bót của tụI ngụy không nào? '
- Trời,
đã gọi là làm cách mạng còn chọn lựa gì nữa? Đâu cũng đi biết ờ nhưng mà
em đâu biết chữ?
- Ờ anh
sẽ dạy em học. .
Xên đế
vào:
- Hồi còn
chăn bò, con bé Liên đã dạy em biết mặt hăm bốn chữ cái rồi. Đ ương học
tới vần trắc "u. . .ê nhờ uênh" thì con mụ Sàn nó đánh què giò. Tạm nghĩ
đó.
- Tốt lắm.
Mà còn việc này nữa, anh bàn với em cho xong luôn nghe. Đi làm cách mạng
phải có bí danh mới không sợ địch bắt bớ làm đổ bể cơ quan. Hở? Bí danh là
gì à? Là tên bí mật anh em đồng chí biết, gọI với nhau thay thế tên xưa ở
nhà. Vậy anh coi bí danh em là gì cho đặng? Anh Tư thủng thẳng: “Trước đây,
ở cơ quan mình có một em liên lạc cũng nhỏ như em, tên cũ là Muôn. Sau lấy
bí danh là Vinh để công tác. Vinh là một chiến sỹ giao liên gan dạ lắm.
Mấy năm trước địch đánh phá, o ép ta dữ lắm mà Vinh bao giờ cũng đi lọt
qua rất nhiều vùng khó khăn từ đây lên tận chiến khu Đ xa lắc”.
Vậy bữa
nào anh Vinh về, em phải làm quen để học ảnh mẹo đi liên lạc mới được.
Mặt Tư
Nhàn bỗng não nề :
Đáng tiếc
là gần đây, Vinh bị địch phục kích ở Đất Đỏ lộ 2. Địch bắn gãy chân Vinh.
Em phải lết vào bụi cây để tìm cách băng bó vết thương và thủ tiêu tài
liệu. Địch lần theo vết máu tìm được. Vinh đã rút chốt lựu đạn "cưa đôi"
với chúng. . .
Trái tim
Xên như trĩu nặng. Em lắng nghe anh Tư.
Bởi vậy,
anh quyết định đặt cho em bí danh là Quang. Có Vinh thì lại có Quang. Chịu
không
Xên nhảy
dựng lên:
- Chịu
quá chớ? Nguyễn Văn Quang hở anh Tư? Hay lắm. Em sẽ không làm dơ tên tuổi
hai anh em Vinh và Quang đâu. . .
Chuyến
thư đầu tiên, anh Tư ngóng Quang từ cửa rừng. Anh rất lo vì có tin một đại
đội bảo an đi lùng sục vùng Quang tới. Anh đốt những điếu thuốc rê như
ngón chân cái và ngậm đến nhão ra trong miệng cũng không hay vị cay xè của
thuốc lên nhựa. May quá Quang đã về tới Anh chưa hất hàm, Quang đã cười
toe toét, tay đón điếu thuốc vấn to sụ từ tay Tư Nhàn:
- Thành
công, anh Tư.
- Mầy kể
anh nghe coi có đưa đủ từng người không?
- Đủ chớ!
Em vô tận chỗ mdy ảnh cạo mủ.
- Chà,
khá quá cha nội. Không biết đọc rành mà đưa được văn thư tận tay, lại còn
biết che mắt địch...
- Khó gì
đâu! Em cứ đưa cả xấp thư cho mấy ảnh lựa cái nào phần mình: Lấy, còn đâu
đưa tiếp ngườI Tư Nhàn giật mình:
- Thấy mẹ
rồi. Làm thế còn gì là bí mật nữa. Phải tự mình đọc tên người nhận ngoài
bao bì. Cầm một cái đưa tận tay.
- Chà !
Ngặt vì đánh vần lâu quá trời. Không đặng. Từ rày phải học hết cuốn tập
vần, đọc rành anh mới cho đi.
Nhưng mấy
bữa sau lại có công tác hối, anh Tư Nhàn đành nghĩ ra một mẹo nhỏ . Anh
lấy bút vẽ kèm theo tên người để Quang khỏi đánh vần lâu. Tỉ dụ ông Tư Nhà
Thiếc,. anh vẽ cái nhà có mái tôn thiếc sóng sóng, chú ba Gáy thì vẽ con
gà sống vươn cổ như đang gáy v.v. . . Tất nhiên cũng có lúc anh Tư gặp bí,
tỉ như tên ông Bảy Dường. Tư Nhàn ngồi sờ râu mãi không nghĩ nổi vẽ cái gì
cho đúng. Anh bảo:
- Khó
thiệt đa, mậy!
- Thì vẽ
đường mình ăn đó, anh Tư
- Đâu có,
à để im tao nhớ ra rồi Bay nhớ tích vua Đường Thế Dân bên Tàu không? ống
có bộ râu tốt lắm. Vậy tao vẽ thằng cha này rậm râu, mầy nhớ mang thư tới
Bảy Đường nghe. Việc đặt tên cơ sở bằng hình vẽ xem chừng tươm tươm. Chả
mấy, Quang đã thuộc hết những hình vẽ lem nhem của Tư Nhàn. Xáo lên trộn
xuống cậu cũng đọc ra vanh vách như đọc chữ vậy. Anh Tư phát biểu "tổng
kết":
- Vài
tháng nữa cơ sở tăng thêm, dám tao xin chuyển ngành.
- Chi vậy
anh Tư?
- Dể làm
thư ký riêng cho mầy.
Quang ủng
hộ :
- Xem
hình khoái hơn. Đọc chữ nhức mắt thấy mồ. Mà sao mấy ông thầy giáo họ đọc
viết tài tình quá hé?
- Đâu
được, cha nội. Mỗi ngày phải học một buổi. Bộ mày tưởng chỉ làm liên lạc
hoài vầy sao? Lớn lên, còn làm cán bộ, đi chủ. lực cũng phải tới chỉ huy.
Không biết chữ uýnh sao được giặc?
….Như thế,
ngày ngày sức vóc Quang một lớn hơn, kéo theo trí khôn nảy nở vì anh đã
đọc thông viết thạo, đã không còn cần đến những hình vẽ minh họa tên người
kiểu vua Đường rậm râu của anh Tư nữa. Thậm chí, Quang đã làm quen dần với
những vấn đề rất mới nhưng không xa lạ lắm với anh như là Đảng, Mặt trận
giải phóng và nhất là Bác Hồ, người ở tận Hà Nội xa xôi ngàn dặm nhưng
Người biết rõ, biết hết mọi nỗi niềm riêng tư của từng người ở tận cùng
đất nước.
Không mấy
chốc Quang đã hai mươi tuổi. Căn cứ huyện xưa kia nay đã khác. Riêng bộ
phận nhận đi thư của Quang đã phình ra đến hai tiểu đội. Khách đi về tấp
nập suốt ngày đêm. Thi thoảng có cả khách tận ngoài miền Bắc vào nghiên
cứu. Đùng một cái Quang nghe tin anh Tư đổi về tỉnh. Mấy hôm liền Quang bỏ
cơm, vô rừng ngồi một mình ủ rũ bên bờ suối. Anh Tư Nhàn gấp xong quần áo,
mới thấy Quang:
- Vô đây
Quang! Mày mà cũng mít ướt như con gái sao?
Quang
bước vào, anh Tư kéo tay Quang ngồi xuống:
Đoàn viên
rồi, sao lại vậy? Bữa nay em đi vớI anh nhớ lấy bộ quần áo tỉnh thưởng cho
mà mặc nghe.
- Chia
tay buồn thúi ruột, còn bày đặt bận đồ mới.
Anh Tư
không nghe.
- Nhớ đội
nón tử tế nghe chưa?
Nói vậy
nhưng về lán, Quang cũng ăn vận tươm tất vai còn khoác khẩu các bin. Quang
chiều anh Tư mọi chuyện, nhưng thế nào Quang cũng đòi đưa anh Tư đi hết
một trạm đường. Có đuổi về, Quang cũng cứ theo. Hai anh em tạt vào một xóm
nhỏ ven đường 15 thì mặt trời đã lên cao hơn ngọn cao su. Anh Tư bứt rứt,
đi lại xốn xang trên đường, dường như trông đợi ai.
- Em biết
bữa nay ta ra đây làm gì không?
Mặt Quang
lại chảy xệ xuống. Buồn muốn nát ruột còn hỏi.
- Nè !
Bữa nay anh cho người đón cô Tám lên cho em gặp đó.
Quang
đánh tuột cây các bin xuống đất. Miệng tròn a như trời trồng. Anh Tư vẫn
nói: "Sở dĩ anh không nói trước vì ba bận rồi cho cơ sở đi tìm nhưng chưa
rõ cô Tám em phiêu bạt nơi nào. Lần này thì chắc lắm nghe". Quang chỉ biết
cúi đầu vừa sung sương vừa hồi hộp. Vừa hay có tiếng còi xe ngoài lộ . Anh
Tư Nhàn giục Quang sửa sang lại tư thế. Quang nhẩm tính từ ngày xa cô tới
nay chốc lát đã bảy tám năm trời, tính từ hồi Quang còn chăn bò cho Tư On,
nhắn cô lên một bận.
Một bà cụ
già bước lại, ngơ ngác nhìn anh em Quang. Quang đã nhận ra vóc dáng của
người cô năm nào. Chao ôi! Sao cô già đi nhanh vậy? Quang bước tới, cúi
xuống nắm tay cô:
- Cô Tám,
con nè, thằng.. . Xên nè. . . .
Cô Tám
khóc vì sung sướng. Cô nhòm lên đứa cháu ngày nào còn ở truồng đen đủi,
nay cao vổng lên, đến nỗi cô chỉ nhìn thấy cằm của Quang bạnh ra vạm vỡ
Xên bỏ nhà ra đi năm ấy Cả Dình giận dữ, cho trâu tới kéo đổ chòi cô Tám
rồi kéo cây về làm củi. Cô phải cõng thằng Còn đi ăn xin và lần hồi về
xuôi. CuốI cùng cô tá túc ở chùa và đi làm mướn để nuôi thằng Còn bị chứng
động kinh. Cho tới nay, cô đã xuống tóc hẳn và thằng Còn cũng không còn.
May mà cô gặp lạI được Xên bây giờ. Cô Tám xuýt xoa cảm tạ các anh cách
mạng mà anh Tư đại diện. Anh Tư nói thế nào cô cũng không nghe, cô nhất
định xin vái anh ba vái. Sau Quang phải nói:
- Cô ơi!
ở đây cách mạng nuôi cháu no đủ, cô đừng lo gì hết. Cháu không nhận tiền
của cô đâu.
Quang
chạnh lòng nhìn cái áo rách vá trăm mảnh của cô Tám. Suốt từ ngày Quang bỏ
nhà Cả Đình ra đi tới nay, chưa bao giờ cô có một cái áo lành. Thế mà cô
đã khi khắp nơi, kể cả vào chùa đi tu. . . Bên tai. cô Tám lại nhắc nhở:
- Con chớ
có đánh lộn với anh em nghe. Ai cũng là người ơn của mình cả đó .
- Cách
mạng đánh giặc chứ ai cho đánh lộn. Cô đừng lo.
Cứ thế cô
cháu hàn huyên cả buổi. Xế chiều, anh Tư, cô Tám và Quang phải chia tay
nhau, người mỗI đường. Quang bẻ đôi ổ bánh mì mà cô Tám mua cho - chắc là
bằng tiền dành dụm cả tháng trời: "Cô ơi.' Con ăn một nửa, còn nửa này cô
mang về cúng thằng Còn. Lần sau con sẽ có quà biếu cô".
Quang trở
về cơ quan một mình. Hình ảnh chiếc áo vá chàng đụp của cô, khuôn mặt hốc
hác của cô làm cho Quang ngồi mãi không ngủ được. Lại giọng nói ấm áp của
anh Tư Nhàn:
- Em hãy
nhớ những cái khổ mà em phải chịu đựng từ nhỏ để làm thật nhiều việc tốt
cho cách mạng, cũng chính là để giải phóng chính mình. Hãy sống vinh quang,
cần thì chết cho xứng đáng. . ..
Quang vụt
ngồi dậy đốt đèn. Trời vừa rạng sáng thì cũng vừa viết xong lá đơn tình
nguyện chuyển sang bộ đội chủ lực tỉnh (lúc đó có phiên hiệu Đại đội 45).
Sau trận
Làng Cát, Quang chịu trách nhiệm vác cây đại liên đi sau khẩu đội súng máy.
Đây là cây súng gắn trên xe lội nước của Mỹ, bị đại đội đánh tơi bời từ
trước nãm 60. Súng dỡ ra khỏi xe nhưng phải xếp xó vì ta bấy giờ thiếu đạn,
hơn nữa súng đạn nặng nề, khó cơ động và bắn không hiệu quả vì mỗi khi bóp
cò, đạn đi hết 250 viên trong một phút. Gần đây đơn vị đã lớn mạnh, có
khẩu đội súng máy riêng, Quang về được phân công vác cây đại liên 30 đó.
Cả súng lẫn chân tự tạo là hơn 35 kilô. Trẻ em trong xóm thấy Quang xách
súng là a lên:
- Chú vác
"súng rùa" đã về, tụi bay ơi!
Quang vẫy
tay chào bọn trẻ . Anh nực cười với cái tên súng rùa mà bọn trẻ gọí khẩu
đại liên của anh. Đúng là bộ chân do công binh ta vẽ kiểu rồi làm chung
với mấy lò rèn, na ná như bốn cái chân con rùa sắt. Quang sực nhớ lại tuổi
thơ của mình trước kia sống ở làng nhỏ ven sông Ông Kèo làm gì được quen
biết những anh bộ đội và những khẩu súng như các em bây giờ. Giả sử ngày
đó mà có hoàn cảnh như bây giờ, Quang đã diệt hết bọn chủ điền, chủ sở
bằng súng.. .Bọn trẻ trong xóm lúc này đã quây quần bên Quang để học hát.
ở đâu đơn vị đóng quân, Quang cũng được lòng trẻ. Anh dạy chúng học hát (những
bài anh cũng học lỏm được anh em nghe ở trên đài mà anh Tư Nhàn thường cho
nghe). Bù lại, trẻ em ở đâu cũng dành dụm cho Quang khi viên kẹo lúc củ
khoai, con cá. Quang cất giọng "cầm càng" cho bọn trẻ hát lại. Nghe giọng
hát thoát ra từ những cái miệng răng sún, những ánh mắt tập trung, ngay cả
các anh em trong tiểu đội đại liên nằm trong nhà cũng phải bò dậy hát góp.
Rồi không khí bốc lên vui vẻ. Quang thấy buồn buồn nơi đùi. Anh ngó xuống.
Tay thằng Cò vừa rút ra. Thì ra nó lén bỏ vào túi anh nửa bánh thuốc rê
gói lá chuối khô. Thuốc này Cò vặt trộm trên bánh thuốc xỉa của bà nội nó
rồi. Quang định bụng lát nữa liên hoan xong sẽ gọi riêng Cò ra, trả lại.
Nhưng giữa lúc đó tiếng hô báo động của trực ban đã vang lên:
- Biệt
kích!
Nhanh như
một con beo, Quang hất tấm vải bạt, xốc cây đại liên lên nách:
- Khải,
Vọng giữ mấy đứa nhỏ!
Quang
chạy ra vị trí đã bố trí sẵn. Đại liên án ngữ trên trục lộ xe bò dẫn ngay
vào giữa đội hình đạI đội Chỗ này sát bìa một cái trảng nhỏ . Quyến đặt
chân súng xuống rồi bật nắp thùng đạn kéo đầu dây đạn đưa cho Quang. Trung
đội trưởng Bé đã ở cạnh đại liên. Các tiểu đội khác đã nhanh chóng cắt
rừng bao vây địch. Mắt Quang chăm chú theo dõi phía bên kia trảng vừa phát
ra tiếng súng nổ. Ba bóng đen vụt ra khỏi bụi le, chạy về phía cây đại
liên. Trung đội trưởng Bé ngoảnh xuống Quang:
- Đợi gần
chút nữa, coi chừng lầm đồng bào!
Quang cất
tiếng:
- 45 đây
mà! Đừng chạy nữa!
Quả nhiên,
nghe tên đại đội quen thuộc ba cô gái đứng lại ngó quanh:
- Biệt
kích rượt tụi em mấy anh ơi!
Quang ra
hiệu cho ba cô gái ngồi xuống phía cây đại liên thì lúc đó trên trời ầm ì.
Một chiếc IL 19 sà tới rà sát ngọn tre. Vòng đảo của nó thu hẹp dần ngay
trên đỉnh đầu khẩu đại liên. Bất ngờ, chiếc máy bay trinh sát bay vống lên
và ném ngay xuống một trái khói chỉ điểm giữa trảng. Trung đội trưởng Bé
hét to cho trong nhà nghe được:
- Coi
chừng địch ném bom.
Quả nhiên,
hai chiếc "Xít-Cai-ray-đơ” bổ nhào. Vọng và Khải đã kịp chồm người lên đè
mấy đứa trẻ xuống đất cùng đất đá văng mù mịt. ..
Trận tập
kích của địch bị bẻ gãy sớm vì vòng ngoài đại đội đã có mấy tiểu đội du
kích địa phương phát hiện. Địch chỉ ném bom nhưng không trúng tiểu đội đại
liên và cũng không ảnh hưởng gì tới các cháu trong xóm. Ngay đêm ấy đơn vị
được lệnh hành quân gấp.
Tiểu đội
đại liên đi đầu đại đội cùng với đại độI trưởng Sáu Chí. Hằng mấy tiếng
đồng hồ mà đại độI vẫn chưa ra khỏi khu vườn vì vườn cây ở đây cứ tiếp nối
từ làng này qua làng khác, đi suốt ngày không hết được. Khẩu đội có Quang,
Quyến và Vọng đều ngườI Biên Hòa, quê hương của những trái bưởi ăn một lần
nhớ đời. Nhưng miệt này cũng có bưởi, còn nhãn, xoài, mãng cầu nữa. Đơn vị
hành quân qua vườn bưởi, cả mấy trăm người với vũ khí trang bị mà chỉ nghe
rào rào và hương bưởi ngát lên vì lá của nó chạm vào hơi người. Vừa hành
quân, chính trị viên Tư Hùng lại còn thăm dò các con suối để tranh thủ bắt
cá, kiếm cua về cho hậu cần cải thiện đời sống bộ đội. Hồi mới về, anh đã
nghe danh chính trị viên Hùng. Chuyện kể ngay từ hồi mới 15 tuổi nghe mấy
bác thợ mộc rỉ tai nhau về tiếng tăm bộ đội về đến núi Mây Tào, cậu bé
Hùng đã trốn nhà ra đi tìm "Việt cộng". Bảy ngày đêm đói khát, cuối cùng
Hùng gặp được "mấy chú" trên đỉnh núi heo hút. Từ đấy, vừa chiến đấu vừa
học tập, dần dần Tư Hùng trở thành chính trị viên của đại đội. Gần như
toàn đại đội đều quí trọng, tin tương anh Tư. Ngay cả đại đội trưởng Sáu
Chí cũng luôn nghe anh Tư. Hai người trong ban lãnh đạo thật cứ như bóng
với hình. Quang sống trong đơn vị đầy tình thương yêu nên rất thoải mái.
Bên Quang lại có những người như Chín Thắng, luôn là tấm gương chiến đấu
dũng cảm, hy sinh ngoan cường. Chín Thắng là chiến sỹ trung liên. Anh còn
một đứa con trai lên 10 đương gửi lại hàng xóm trông nom hộ để đi theo đơn
vị. Gia đình anh Chín bị pháo ở hạm đội 7 của Mỹ bắn vào chết hết trong vụ
Long Mỹ. Trong trận Đá Giăng vừa rồi, chính Chín Thắng đã cứu được khẩu
đại liên của Quang vì trong lúc thọc sâu một mình, Quang bị hở sườn. Bọn
biệt kích bao vây hòng chiếm lấy đại liên. Chín Thắng đã cắp trung liên
lên, đuổi theo bọn biệt kích. Anh lại có biệt tài bắn phát một như súng
trường nên rất tiết kiệm đạn và khi cần bất ngờ kéo cả băng tạo hỏa lực
mạnh uy hiếp và tiêu diệt địch. Trận ấy, Quang khâm phục Chín Thắng lắm.
Sau này trong đợt luyện quân ở căn cứ, Quang cắp bịch thuốc rê theo học
Chín Thắng cả đợt. Gần ba tháng anh đã bắn được đại liên phát một, không
thua gì Chín Thắng. Cuối kỳ đơn vị kiểm tra. Đại đội trưởng Sáu Chí giơ
tay chỉ về phía trảng đĩnh đạc ra lệnh:
- Mục
tiêu con "hồng hoàng". Năm phát, bắn!
Quang nằm
soài ra đất quay vòng nòng súng bắt mục tiêu. Chính trị viên Hùng quan sát
từng ngườI trong tiểu đội đại liên. Anh em bộ binh cũng chen nhau ở cửa
rừng, nín thở nghe tiếng đại đội trưởng chỉ mục tiêu là con chim nhỏ xíu
đậu ở xa. . . “Đoàng”, đạn nổ. Vật đen trên cây mục tiêu rơi xuống. Đoàn
quân vỡ òa la reo hò vì tài thiện xạ của Quang, cái tài đã được tôi luyện
suốt mười năm tuổi trẻ trong vai con ăn kẻ ở khốn khổ, nay bộc lộ ra dưới
màu áo quân phục của anh bộ đội "Cụ Hồ" vùng giải phóng miền Nam. Bỗng có
tiếng la lớn như "khiếu nại" về thành tích bắn súng của Quang là thiếu
trung thực:
- Ơ! Đại
đội trưởng lệnh bắn năm phát, nó chơi có một viên là sai quy định.
Những
tiếng khác: "Mầy máy móc thấy bà! Vừa diệt mục tiêu lại vừa tiết kiệm đạn.
Đề nghị tăng gấp đôi điểm thưởng "Từ hồi nào tới giờ chưa thấy thằng nào
bắn "ác" như Quang "giò” đại liên nghe mày! Nói thiệt nghe. Cái hôm đại
đội rút anh Bé "nện" ra, giao đại liên cho Quang "giò”. Tao ớn hết sức.
Chỉ sợ chả tí táu mà quặt vô lưng bộ binh thì bằng cá lóc nấu ám. Không
ngờ chỉ vài trận thấy nó ngon lành quá. Tao phục ban chỉ huy "tinh mắt lựa
của” nghe mầy. Tụi bây không đến đằng khẩu đội đại liên mà coi thằng Quang
nó tập. Chu cha, nó vác đại liên nhảy dây như người ta bồng trẻ vậy. Mấy
tháng trời nó quay mòng với khẩu súng "trời gầm" mới có ngày nay đó chớ.
Quả thật
đúng như chính trị viên Tư Hùng đã nói: Có quyết tâm là có tất cả. Quang "giò"
không những làm chủ cây đại liên trong các yếu lĩnh kỹ thuật bắn, anh còn
rèn luyện cả thói quen cáp đại liên để bắn thẳng vào đội hình địch. Vì
theo Quang nghĩ đạI liên cũng phải cơ động như súng bộ binh khác thì mớI
tiêu diệt được nhiều địch, bảo đảm thắng lợi. Cây đạI liên gắn thêm chân
tự tạo, lại kèm theo băng đạn 250 viên, nặng gần nửa tạ. Quang tháo chân,
quấn băng đạn quanh người thì có thể cắp đại liên xông xáo, gọn hơn như
trung liên ấy.
Nhưng
trong đợt bắn tập vừa rồi Quang chỉ mớI thao tác bắn có đế, mục tiêu tĩnh,
phát một ứng dụng. Thành công rồi. Còn cắp nách bắn thì Quang chưa ứng
dụng lần nào bởi phải tiết kiệm đạn. Tuy vậy, cánh bộ binh cũng vững bụng
khi thấy đại liên chắc ăn như vậy.
Sau trận
An Ngãi, tiểu đội trưởng Bé "nện" phải nằm quân y, Quang thay thế, nhưng
không phải lo nhìều vì anh em trong tiểu đội vẫn phối hợp nhịp nhàng.
Trước khi bước vào trận mới, Quang mất ăn mất ngủ mấy ngày đêm liền. Cuối
cùng Sáu Chí phảI đến bên. Anh còn kéo theo cả Bé "nện", bây giờ đã là
Trung đội trưởng trợ chiến. Bé chia thuốc cho Quang, Vọng, Khải, Quyến:
- Quà của
má tau đó , mỗi đứa "nện” một điếu Rubi coi.
Tân, anh
nuôi thêm vào:
- Vậy thì
mời anh Sáu, anh Năm và tiểu độI "nện" một ca trà quạu cho tỉnh.
Cả nhà
rộn tiếng cười. Đại đội trưởng hất hàm:
- Mày gặp
thuốc như lân gặp pháo. Sao bữa nay mặt chảy như bánh ướt thế mầy?
Quang
nhìn dò xét từ Sáu Chí tới Bé, những ông thầy đầu tiên trong nghề cầm súng
máy:
- Em muốn
nói điều này. Anh coi được không nghen.
Sáu Chí
nhìn Quang khuyến khích. Quang hươi tay, vòng xuống mặt đất một cái vòng
tròn từ cây que đũa:
- Lúc vận
động, đại liên muốn chạy theo bộ binh thì phải tháo rời làm ba: chân, súng
và đạn. Đến nơi lại phải ráp vô. Như vậy địch đã có thời gian nổ trước. Đó
là chưa kể trường hợp trong lúc vận động có thương vong. Đại liên phái chờ
lâu mới phát hỏa được. LạI cũng có khi cả khẩu độI cùng vận động với cây
đại liên không tháo rời. Như vậy để lộ mục tiêu vì ba người dồn cục súng
đạn nhùng nhằng. . . lại càng dễ bị sát thương.
Quang
bỗng im bặt. Tính anh vốn thế. Hễ nói tớI việc gì quan trọng, cổ bỗng dưng
nghẹn lại, chữ nghĩa biến lạc hết. Dây là việc hệ trọng. Quang mới tham
gia bên súng máy có mấy trận mà chưa đánh lớn lần nào nên anh càng đắn đo.
Sáu Chí cũng biết tính cẩn thận của Quang. Anh không giục, chỉ nhìn thẳng
vào như động viên Quang trình bày tiếp:
- Theo
yêu cầu thì nên giải quyết khó khăn này như thế nào? -Trung đội trưởng Bé
nêu câu hỏi.
- Một
mình em sẽ vác cây đại liên cả dây đạn, nếu cần cả chân súng luôn. Chỗ nào
cho phép thì đặt súng xuống bắn. Địa hình nào không thuận tiện thì em bắn
ứng dụng. Cả khẩu đội cứ tản khai theo độI hình bậc thang đằng sau. Trong
tay em lúc nào cũng phải có một dây đạn và một thùng nguyên dự bị trên
lưng. Như vậy đại đội trưởng tới đâu, đại liên tới đó.
Ngưng một
lát, Quang nói tiếp:
- Em định
trận tới xin đại đội cho làm thử rút kinh nghiệm.
Anh em
nhìn nhau. Thật là một ý nghĩ táo bạo nhưng liệu có làm nổi không? Quyến,
chiến sỹ vác
chân đại
liên phản ứng đầu tiên:
- Làm
cũng phải liệu sức. Tôi nhắm thằng Quang tuy to con thiệt nhưng không thể
bồng cây đại liên cả trận được. Vả lại không phải chỉ đánh mỗi trận là
nghỉ khỏe.
Tiểu đội
phó người Châu Ro, Khải, một người lớn tuổi rất nóng nảy, ham đánh, nhưng
cũng lưỡng lự:
- Tôi
khỏe hơn thằng Quang đó. Tôi chưa thấy đứa nào bồng đại liên mà bắn. Kềm
không chắc, đạn nó bay đi mất hết. Mà bắn tới hộp thứ hai nòng súng nó như
bếp hồi đêm đó. Tay nào "bồng" nổi?
Khải thắc
mắc đúng điều Quang cũng đang lo lắng. Bỗng anh nhớ Sáu Chí nguyên là một
xạ thủ cự phách. Quang năn nỉ:
- Anh Sáu,
anh phải dạy em bắn đạn ứng dụng nghe!
Sáu lắc
đầu:
- Đại
liên thì tao chịu. Trung liên thì được.
Quang
kiên quyết:
- Anh cứ
truyền cho em nghề chơi trung liên cũng ngon chán. Sáu Chí cười tán thành.
Mọi người vỗ tay mừng cho Quang và ai nấy nhìn lên cái lỗ nhỏ bên tai trái
của đại đội trưởng. Chiến tích anh hùng của anh hồi đầu thành lập đơn vị.
Hồi ấy được lệnh đi phá cuộc bầu cử tổng thống ngụy ở Hòa Long, Chí xài
cây trung liên, nằm sát trên một mái nhà ven lộ. Địch điều tới một trung
đội lính trực chỉ Hòa Long. Rượu thịt đã bày sẵn mấy gian hàng chợ quận,
hẹn xuống làm cỏ xong bọn Việt cộng đánh đu không gãy cọng đu đủ dưới đó
là về khai cuộc. Xe chúng vừa vào tầm ngắm, Chí xiết cò 17 thằng xỏ lụi.
Thằng thứ 18 sống sót nhảy tót xuống thành xe thì bị Sáu tương theo một
viên đúng bài bản "bắn ứng dụng". Song chưa vui lâu, một đại đội đủ sắc
lính khác lại ùn ùn kéo tới trên những chiếc xe đỏ lừ bụi. Tiểu đội của
Sáu vướng trong vòng vây chưa ra nổi. Không chờ đợi, Sáu Chí nhảy phắt
xuống đất, dựa vào đống củi ta và rất sợ tên Sáu Chí: cái thằng Việt cộng
sừng sững như trời trồng, quật trung liên như mưa mà bắn tỉa như đấm "mút
cơ tông”, lại còn xiên táo nữa. Riêng anh em đơn vị ngày đó và cả hiện tại
ai cũng khoái Sáu Chí có lỗ thủng mang tai trái do mải đánh, quên cả đạn
giặc xuyên lỗ khuyên chui lọt một điếu Rubi.
Từ đấy,
ngày nào Quang cũng luyện tập với cây đại liên theo đúng yếu lĩnh mà thầy
Sáu Chí truyền dạy. Quang phơi phới mong đợi trận tới được thử sức với
sáng kiến của mình và hy vọng thành công sẽ truyền nghề cho Vọng, cho
Quyến để cả khẩu đội đều là những chiến binh đại liên thiện chiến như nhau.
Đất Phước
Thạnh, quê hương chị Võ Thị Sáu vốn đã đỏ như son, từ ngày có bọn "da beo"
về đóng bót quây bốn vòng kẽm gai, lại phải tưới thêm máu của đồng bào ta
nữa. Bọn “da beo" được Mỹ trực tiếp chỉ huy, tuyển từ những tên hung ác
nhất từ tên đại độI trưởng chuyên cắn rốn người rút ruột ra để cắt gan xào
cải cay uống rượu. Hung danh của chúng ngay cả bọn biệt kích đại đội 612
cùng đóng quân ở đầu ấp chiến lược cũng phải ớn. Trong trận đ