Anh hùng Nguyễn
Văn Huề sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân An, huyện
Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Khi hy sinh, đồng chí là chiến
sĩ đặc công thuộc đại đội 250 đặc công chủ lực
Miền.
Ngày 7 tháng 7 năm 1954, phân đội đặc
nhiệm gồm 6 người, trong đó có Nguyễn Văn Huề, nhận nhiệm vụ đánh Mỹ đầu
tiên tại Biên Hòa. Với sự yểm trợ của một số tổ tự vệ, các anh nghiên
cứu tình hình địch, nhằm đúng ngày Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên ghế thủ
tướng. Tổ chiến đấu cải trang như một toán lính tuần tiễu từ Gò Me đi
thẳng vào cư xá, các chiến sĩ đặc công nhanh chóng áp sát cư xá đoàn cố
vấn quân sự Mỹ (MAAG). Tổ của Nguyễn Văn Huề chia thành 3 nhóm; Huề và 1
đồng đội mang mìn theo lối cửa hông, đặt vào trong phòng. Đèn bật sách,
sợ lộ, các anh phải hành động gấp. Không để địch kịp phản ứng, đối phó,
Nguyễn Văn Huề đã dũng cảm chấp nhận hy sinh, lệnh cho bạn “chập điện”.
Tiếng nổ mạnh làm rung chuyển khu vực cư xá, nhiều tên địch phải đền tội.
Nguyễn Văn Huề hy sinh, 5 đồng đội của anh quét tiểu liên vào chỗ có
tiếng kêu gào rên la của Mỹ, rồi rút an toàn. Phối hợp nhịp nhàng với tổ
đánh cư xá, bên ngoài các đồng chí khác nổ súng kìm chân địch, bảo vệ
các chiến sĩ đặc công. Trận đánh diễn ra không đầy 15 phút, làm địch
không kịp trở tay. Tiếng súng diệt Mỹ nơi đây đã cổ vũ và thúc đẩy phong
trào cách mạng miền Nam phát triển rộng khắp. Đồng thời, đây là đòn cảnh
báo bọn can thiệp Mỹ nếu chúng lấn sâu can thiệp vào miền Nam Việt Nam.
Người dân Biên Hòa vô cùng tiếc thương và cảm phục hành động quả cảm của
người chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Huề.
Ngày 28 tháng 4 năm 2000, Nguyễn Văn Huề
được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
TIẾNG SÉT BÁO HIỆU
“KỶ NGUYÊN VIỆT NAM ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN MỸ”
TRỌNG PHỦ
Kho lưu trữ Trung ương
2 thành phố Hồ Chí Minh hiện còn giữ một bức điện, màu giấy đã ố vàng
trong phông phủ tổng thống, do bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần của chế độ
Sài Gòn gửi đại sứ Mỹ ngày 9 tháng 7 năm 1959 về việc “chia buồn” của
tổng thống Ngô Đình Diệm sau trận tiến công của ta vào cư xá cố vấn quân
sự MAAG của Mỹ ở Nhà Xanh (Biên Hòa) tối 8 tháng 7 năm 1959 làm chết hai
tên là thiếu tá Dale. R.Buis và trung sĩ Chester M.Ovand, đại úy Boston
bị thương.
Ở nghĩa trang Arlington (thủ đô
Washington) người ta dựng bức tường đá hoa cương đen lớn đủ danh sách
hàng ngàn nhân viên quân sự Mỹ chết do dính líu vào cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam. Hai cái tên khắc đầu tiên trên tấm bia khổng lồ này chính
là hai cố vấn quân sự trong điện văn “phân ưu” của tổng thống chế độ Sài
Gòn đương thời. Theo sách báo Mỹ, cái chết của hai người này mở đầu “kỷ
nguyên Việt Nam đối với chính quyền Mỹ”. Tại sao họ chết mở đầu cho một
trang sử ám ảnh lương tri của người Mỹ suốt nửa cuối thế kỷ 20 gây ra
cái gọi là “hội chứng Việt Nam”?
Trưa ngày 7 tháng 7 năm 1959.
Năm Huề
nằm ngoài thềm ngôi miễu nhỏ lọt giữa vạt rừng chồi rộng vài mẫu xóm Gò
Me, ấp Lân Thành, ngay giữa tỉnh lỵ Biên Hòa. Mây trắng bay lãng đãng,
liên tục thay hình đổi dạng, lúc là những cụm bông xốp, lúc xơ tơi tả.
Con chim cu cườm đậu đâu đó trong bụi tre rìa xóm cất vài tiếng gáy gọi
bạn tình. Hồi nãy, bóng một bà già thấp thoáng ở bìa vạt chồi trao giỏ
bánh mì cho anh Năm Hoa khiến anh nhớ tới mẹ. Anh nghĩ nếu bả còn sống
chắc cũng trạc tuổi bà đưa giỏ bánh cho bọn anh. Anh không sao hình dung
nổi khuôn mặt người mẹ thân yêu, cha anh chỉ để lại vài kỷ niệm nhạt
nhòa trong ký ức tuổi thơ. Anh chợt nhớ đứa con gái đầu tên Rõ, hai tuổi.
Khi anh ra đi theo anh Tư Văn, nó còn nhỏ xíu, bây giờ gặp lại chắc sẽ
nghe bi bô những tiếng “ba, ba...” ngọt ngào, cái nấm lũm đũm biết đi sà
vào lòng anh sao thân thương đến thế ! Anh miên man thả hồn theo đám mây
trôi về nơi chôn rau cắt rún ở tít phía Bắc bên kia sông Đồng Nai trong
xanh.
Nơi anh
ra đời là đồng Trường làng Chánh Hưng (tổng Chánh Mỹ Hạ, quận Tân Uyên,
tỉnh Biên Hòa cũ) nằm từ vàm Sông Bé ngược lên, sát bìa rừng già chiến
khu Đ. Hồi trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 làng có 6 xóm. Nếu những xóm
làng phía hạ lưu sông Đồng Nai đông vui, trù phú thì làng anh thuộc nơi
sơn cùng thủy tận, khỉ ho cò gáy heo hút. Mỗi xóm chẳng qua chỉ là nơi
đồng bào dân tộc Chơro cùng một số ít người Việt đến móc lõm. Cha mẹ anh
làm rẫy và ăn rừng, đều qua đời từ khi anh còn nhỏ xíu. Anh trai là Tư
Thưởng (Nguyễn Văn Thưởng) chỉ nhỉnh hơn em một chút, gồng mình làm lụng
nuôi thân và em nhỏ trong sự cưu mang bao bọc của bà con lối xóm. Thực
dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai, thì lính commăngđô bót
Suối Tre và pactidăng bót Cây Gáo mở nhiều cuộc càn quét chà xát làng
này. Dân cư tránh địch, lùi lên thượng nguồn lập các ấp mới: Rạch Bùn và
Cây Sung. Năm 1950-1951, hai anh em Tư Thưởng, Năm Huề và dân xóm bị
quân giặc càn bố, dạt ngược lên ấp Rạch Bùn sinh sống. Năm 1950-1951, xã
Chánh Hưng nhập vào xã Lạc An, từ đó đối với nhiều người địa danh Chánh
Hưng chỉ còn trong tâm trí một số đã lớn tuổi từng sống hoặc hoạt động
lâu năm ở đây.
Năm Huề
15 tuổi, vào du kích ấp đúng một năm thì hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết (tháng
7 năm 1954).
Anh
không thể hiểu nổi: hòa bình vừa lập lại, chiến tranh từ nay chấm dứt mà
có những người từ miền Bắc xa lắm lại ùn ùn kéo vào đây sinh sống ? Sao
họ không làm ăn yên lành ở quê họ ?... Anh đem thắc mắc đó hỏi anh Tư
Văn (Văn Công Văn), ủy viên thường vụ chi ủy xã Lạc An phụ trách binh
vận và công tác di cư, thì được nghe giải đáp: đó là những đồng bào miền
Bắc bị Mỹ – Diệm dụ dỗ cưỡng ép di cư vào Nam nhằm ý đồ tạo hậu thuẫn
chính trị tiêu diệt lực lượng cách mạng bám trụ...
Cuối
năm 1955, một tiểu đoàn Bình Xuyên bị lính quốc gia đánh, từ Rừng Sác
kéo về chiến khu Đ lập căn cứ chống Diệm. Đơn vị này được bổ sung một số
thanh niên yêu nước, có cán bộ ta lồng vào chỉ đạo. Chi bộ An Lạc huy
động khoảng 10 ghe xuồng của nhân dân địa phương thỉnh thoảng thay phiên
nhau mua gạo, thực phẩm, thuốc men... về tiếp tế cho quân Bình Xuyên và
số cán bộ bám trụ. Quen sống ngoài vòng cương tỏa ở vùng chiến khu Đ,
nay đôi ba lần được cử di làm nhiệm vụ chèo ghe (mua bán do người khác
đảm nhiệm), lúc về Năm Huề cằn nhằn với anh Tư Văn, người cán bộ gần gũi
thân thiết còn hơn anh Tư Thưởng về hành động của một số người miền Bắc
di cư:
– Tôi
lên xuống, họ làm khó làm dễ đủ thứ, hạch sách, xét hỏi tùm lum...
– Thì
mình đi ghe, cứ biết chèo ghe, mắc mớ gì !
– Nhưng
tôi ghét bọn nó lắm, tôi không đi nữa...
– Ờ,
không đi thì thôi...
Một số
người nghĩ Năm Huề là người Chơro hoặc lai dân tộc vì da anh đen nhẻm,
cả đời đầu trần, to con, hơi lùn, tính tình gan lì, bộc trực, nóng nảy,
có sao nói vậy, cộc cằn.
Năm
1955, địch theo dõi khu vực nông trường Bác Hồ ở vàm Sông Bé ngược lên
một đoạn. Nơi đây trong kháng chiến chống Pháp cơ quan Tỉnh ủy Thủ Biên
khai phá đất ven sông, tăng gia sản xuất tự cấp tự túc một phần. Một y
tá bộ đội Lam Sơn cũ, tên Kỳ chẳng hiểu sao không đi tập kết cùng đồng
đội. Vợ con anh ta ở dưới Lạc An, tại sao cha này cứ lảng vảng hoài ở
đây ? Theo dõi một thời gian, thấy dáng điệu người lạ này lấc láo, dòm
ngó không đàng hoàng, Năm Huề đánh giá anh ta là gián điệp của địch. Chi
ủy xã Lạc An cũng đặt vấn đề: ở trên này không có ai quen mà sao thằng
này lên xuống liên tục ? Ít bữa sau, hai tàu sắt chở hai trung đội lính
quốc gia bót Lạc An trang bị súng to súng nhỏ ngược sông Đồng Nai lên
Rạch Bùn rồi quay về. Chúng chưa bắt bớ ai vì cán bộ, đảng viên ta tránh
né hết. Như vậy có vấn đề gì đây ? Năm Huề vô tình biết nội dung cuộc
họp ngắn của chi bộ Lạc An. Anh Ba Nhiêu, bí thư chi bộ nói:
– Phải
thủ tiêu thôi, chớ không để !
– Chém
thì chưa có chủ trương, làm như vậy không nên... – anh Tư Văn, thường vụ
chi ủy phát biểu.Sau đó anh Tư Văn về dưới Lạc An công tác. Năm Huề gặp
hai bí thư và phó bí thư báo cáo nhận xét về tên Kỳ:
– Cái
thằng gián điệp nó lên, nếu mấy ông không làm thì tôi cũng đâm chết,
không cho nó phá...
Về gia
đình ở Lạc An, anh Tư Văn hỏi tình hình chung và Kỳ có ở nhà không, thì
được biết anh ta đi vắng. Ba bữa sau lên Rạch Bùn, anh nghe xầm xì: Kỳ
bị thủ tiêu rồi. Chiều hôm đó anh gặp Năm Huề:
– Mấy
hôm rày có đi làm cỏ rẫy không ?
– Em có
đi làm cỏ rẫy. Hôm trước mấy anh bảo thủ tiêu thằng Kỳ, em làm hai bữa
nay rồi...
– Làm
làm sao ?
– Em
bắt trói lại, đập chết rồi đút vào trong ụ ở suối Rạch Bùn.
– Làm
gì ghê vậy ?
– Có gì
ghê, không làm vậy ở đây sao yên !...
Sau vụ
này, Năm Huề còn xử lý một vụ tương tự. Một tên trước kia là bệnh binh
chuyển sang sản xuất từ lâu, ép một cô rất xinh, họ hàng với Năm Huề có
chồng đi bộ đội, phải lấy y. Nếu không y hăm sẽ giết rồi ra Thành sống.
Thằng chó đẻ này để nó sống gây tội ác làm chi. Anh lựa một bữa nó vào
nhà cô nọ, trói gô lại, cho mấy nhát cuốc rồi kéo xác ra vùi ven suối
Cây Sung. Nếu sau này anh không nói thì chẳng ai biết. Không phải đảng
viên nên anh không bị ai kiểm thảo vì khuyết điểm manh động, phạm tinh
thần chỉ đạo chung lúc đó là đấu tranh bằng phương pháp hòa bình.
Tháng 7
năm 1956, địch mở chiến dịch Trương Tấn Bửu đánh phá ác liệt phong trào
cách mạng miền Đông Nam Bộ. Hàng trung đoàn lính chủ lực Sài Gòn tiến
hành càn quét, bắt bớ số cán bộ đảng viên nằm vùng và cơ sở cách mạng.
Dân Rạch Bùn cũng như cả xã Chánh Hưng cũ bị dồn về Lạc An hoặc lùa qua
sông về Đại An, Trị An. Lính công binh Cao Đài của Trịnh Minh Thế về đây
mở đường chia cắt địa bàn chiến khu Đ. Năm Huề tròn 18 tuổi, vừa cùng
gia đình về Lạc An đã tìm gặp anh Tư Văn với vẻ mặt rầu rầu:
– Em
thấy mấy thứ lính này là em không chịu được, anh tính sao với em ?
– Thì ở
nhà với vợ con chớ sao. Tao đây Đảng còn chưa cho đi, biểu tao tạo điều
kiện ra sống hợp pháp; ở trong không được, làm sao rước mày đi ?
– Anh
không cho đi, ở nhà ít ngày em thấy chúng nó kỳ cục thế nào em cũng đâm,
cũng chém nó rồi cũng bị chúng bắt, chúng giết thôi !
– Khi
nào tao đi thì tao rút mày cùng đi...
Chi bộ
Lạc An rất đông, tới gần 70 đảng viên, cấp ủy có 5 người. Sau vụ phá
ngục Tân Hiệp, địch càn bố Lạc An, Chánh Hưng càng mạnh hơn, nhiều đồng
chí và cơ sở yêu nước bị bắt, bị giết. Năm Huề mất liên lạc với các cán
bộ địa phương một thời gian dài. Anh Tư Văn có lần nhắn tin qua vợ anh
Năm:
– Nói
với Năm Huề, có gì thì liên lạc với tôi.
Anh tự
ái, tránh không gặp anh Tư, nói với vợ:
– Anh
Tư cho đi thì tôi đi, chớ biểu gặp lỡ nó bắt thế nào tôi cũng chửi rồi
nó bắn tôi chết...
Năm
1959, địch ban bố luật 10-59 đánh phá cách mạng càng ác liệt hơn. Đây đó
đã có một số đồng chí, đồng bào yêu nước rơi đầu vì máy chém của Mỹ –
Diệm kéo lê đi các địa phương. Năm Huề gặp anh Tư Văn lúc anh sắp chuyển
đi công tác ở tỉnh Phước Thành mới lập:
– Nếu
anh đi thì cho tôi theo, anh để tôi ở lại không chết thì cũng bị thương...
Anh Tư
Văn bàn với anh Ba Tình (tức thầy giáo Thuấn) bí thư huyện ủy Tân Uyên:
– Cho
cậu này về làm liên lạc cũng tốt, làm bảo vệ là tốt nhất, cậu này người
dân tộc.
– Đồng
chí nói vậy, tôi nhận về làm bảo vệ. Thế cậu ta có Đảng không ?
– Trời
ơi, đảng viên bây giờ, xin lỗi, có người chưa chắc đã trung kiên. Lòng
trung thành của cậu này tôi bảo đảm với anh...
– Đồng
chí rút lên đây cho tôi.
Năm Huề
lên huyện ủy gặp Ba Sắc, người Mỹ Lộc chống quân dịch đang ở đây. Tiếng
là đi thoát ly lên cơ quan huyện ủy song mỗi người một hóc, ít gặp nhau.
Anh chưa được giao việc gì chỉ giăng võng nằm nghỉ hoặc vào rừng kiếm
rau quả... buồn quá mới nói với anh Ba Tình:
– Anh
không cho tôi đi theo anh Tư đánh giặc, tôi sẽ trốn. Anh cột tôi ngoài
rừng sao được !
– Em
đừng có buồn, thôi ở đây làm bảo vệ đi. Anh Tư không đánh giặc mà làm
công tác chính trị.
– Thôi,
cứ cho tôi theo anh Tư hay đi bất cứ chỗ nào có đánh giặc...
C.250
thành lập đầu năm 1957, thoạt đầu làm nhiệm vụ võ trang tuyên truyền và
bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy Biên Hòa. Năm Huề và Ba Sắc theo giao liên lên
tới bưng Tre ở tuốt trong rừng sâu Mỹ Lộc thì gặp chỉ huy là đại đội
trưởng Năm Hoa. Lúc này C.250 đã chuyển thành lực lượng vũ trang của
liên tỉnh miền Đông, quân số non hai trung đội, vũ khí còn hẻo. Đơn vị
có chừng 20 khẩu súng mút (súng trường), tiểu liên và trung liên do anh
em tù chính trị phá khám Tân Hiệp (chiều 2 tháng 12 năm 1956) lấy mang
ra và vài khẩu khác thu trong những lần võ trang tuyên truyền. Nghe anh
em trong đơn vị kể chuyện, Năm Huề phát ham. Thỉnh thoảng C.250 lại phái
một, hai tiểu đội ra chặn xe đò trên đường 8 và đường 16, tuyên truyền
vạch tội ác của Mỹ – Diệm bắn giết đồng bào miền Nam ở nhiều nơi, phá
hoại hiệp định Giơ-ne-vơ, chống lại việc hiệp thương tiến tới tổng tuyển
cử tự do thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình. Anh em bố trí
chặn hai đầu đường, nếu có xe nhà binh đi tới thì nổ súng để mấy anh làm
nhiệm vụ tuyên truyền kịp rút. Chưa lần nào ta đụng độ lớn và tổn thất,
vài lần, một số lính quốc gia đi trên xe đò có súng mà ngồi chịu trận im
re. Anh em ta không làm gì họ, chỉ khuyên họ bỏ ngũ, đừng chống lại nhân
dân kẻo có ngày bị cách mạng trừng trị. C.250 nhiều lần chống địch càn
vào khu vực căn cứ Tỉnh ủy, có lần chúng mới nghe súng ta nổ đã rút lui.
Năm Huề vừa gia nhập đơn vị đã được đồng đội có mặt từ buổi đầu thành
lập đơn vị kể lại: anh Năm Hoa là chỉ huy đội biệt động Biên Hòa đánh
nhiều trận nổi tiếng: hạ bót Long Điềm không tốn viên đạn, phối hợp đánh
yếu khu Trảng Bom diệt hàng trăm địch, đốt hãng dầu Phước Lư hàng triệu
lít cháy rực trời Biên Hòa... Ảnh là thị đội phó Biên Hòa hồi cuối thời
kỳ chống Pháp rồi thị ủy viên thị xã Biên Hòa sau Hiệp định Giơ-ne-vơ
tháng 7 năm 1954. Hoạt động nội ô gần ba năm, đầu năm 1957 anh được tỉnh
rút lên làm đội phó C.250... Ảnh gan dạ, vui tính, hòa đồng táo bạo, đi
đầu trong điều nghiên chiến trường và sau đó dẫn anh em đi đánh là chắc
thắng: đánh trận Bến Sắn để lấy thuốc men và dụng cụ y tế, đánh Bù Đăng
lấy nhiều gạo trong lúc đơn vị và một số cơ quan đang thiếu đói, đánh
Bến Củi và Dầu Tiếng thu hàng triệu đồng nộp lên cấp trên...
Nhưng
Năm Huề thích nhất là nghe kể chuyện trận đánh trại be Hiếu Liêm khoảng
giữa tháng 4 năm 1958. Lúc ấy địch mở con đường Trần Lệ Xuân đi tới suối
Bà Hào. Chúng mở dinh điền ở hai bờ sông Bé ở khu vực Hiếu Liêm, cài cắm
bà con di cư để một công đôi việc vừa phá quang địa hình, vừa khai thác
gỗ làm giàu cho chúng. Dinh điền có đội nhân dân tự vệ trang bị súng Mã
Lai, ban ngày số đội viên này đi làm, súng bỏ vào kho, chỉ có vài khẩu
cất ở nhà bọn chỉ huy. Liên tỉnh ủy chỉ đạo tiến hành cuộc võ trang
tuyên truyền để ngăn chặn việc phá rừng, giữ địa bàn. Hàng ngày khoảng 8
giờ sáng, hàng chục xe be tập trung ở Bà Hào chở gỗ ra cửa rừng. Sáng
hôm đó, C.250 phối hợp với một bộ phận lính giáo phái Bình Xuyên – có
nhiều anh em rành lái xe – bất ngờ đột nhập bãi xe, yêu cầu số tài xế
tập trung về một chỗ. Ta dùng vài xe chở hai tiểu đội C.250 về dinh điền
Hiếu Liêm, tiến hành tuyên truyền chớp nhoáng, thu hơn chục súng. Anh em
C.250 rút sang bờ nam Sông Bé, còn anh em lính giáo phái quay xe về Bà
Hào tuyên truyền trong số lái xe rồi về căn cứ. Sau trận này, dân di cư
ở hai bờ Sông Bé nháo nhác sợ, đấu tranh bỏ không ở đó nữa... Bị cuốn
hút vào câu chuyện, Năm Huề ao ước được tham gia cùng đồng đội. Anh sẽ
chứng tỏ cho các bạn biết mình là người thế nào.
Năm Huề
thấy Hưng, người Tân Tịch đi biền biệt, thỉnh thoảng mới có mặt hai, ba
bữa rồi lại mất tăm. Anh Năm Hoa cũng không thường ở bưng Tre với anh em,
vẻ mặt rạng rỡ, song giấu kín điều gì đó, chỉ động viên mọi người ráng
luyện tập vì sắp được ra trận. Anh đã có lần tiết lộ ra: bọn Mỹ nhảy vào
giúp Diệm ngày càng đông, cấp trên chỉ định cho bọn này một đòn dằn mặt
nhớ đời. Anh kể:
– Tao
theo anh Năm vào nằm ở xã Bình Hòa xem bọn Mỹ mở rộng sân bay Biên Hòa
như thế nào. Nó đuổi hết dân mấy làng Bửu Long, Tân Phong quanh đó, máy
móc rần rần ủi phá địa hình suốt ngày đêm...
Năm Huề
là dân gốc vùng căn cứ không tọc mạch cấp trên là cấp nào, hàng ngày
cùng anh em mải miết tập bắn, tập ném lựu đạn. Tiếc là đạn dược hiếm hoi
nên anh không thể kiểm tra ngay kết quả học tập, chớ khi giương súng
ngắm, gân tay anh như thép không hề run. Trái lựu đạn nặng khoảng nửa ký,
anh ném xa bốn chục mét vẫn đúng hướng. Lâu lâu anh Ba Sắc lại được cử
về Mỹ Lộc ban đêm, lấy gạo ở nhà má Ba Sắc hoặc ông Tư Nhơn. Những
chuyến đi này không gây lo lắng hồi hộp vì đây là địa bàn các anh quen
thuộc từng khúc đường, từng mảnh vườn, bụi cây, từng gia đình cô bác lối
xóm. Tự vệ hương thôn ngủ ở trụ sở xã, chẳng dại gì mò mẫm tuần tra, lỡ
đụng Việt cộng thì toi mạng...
Cách
nay đúng một tuần, anh Năm Hoa triệu tập năm người: Bé, Phú, Sắc, Hưng,
Năm Huề ra một góc bưng Tre truyền đạt chỉ thị của lãnh đạo liên tỉnh
miền Đông chỉ bằng một câu ngắn:
– Chúng
ta sắp đánh Mỹ.
Như có
luồng điện giật, Năm Huề nóng ran cả cơ thể: đánh thằng thầy lũ tay sai
thì đã quá ! Anh vọt ra câu hỏi:
–
“Uýnh” Mỹ thiệt hả anh Năm ?
– Tôi
vừa công bố chỉ thị của lãnh đạo mà ! Các đồng chí nghe đồng chí Hưng
trình bày kế hoạch...
Hưng
thong thả vừa nói vừa vẽ sơ đồ mục tiêu lên mặt đất:
– Nhà
Xanh nằm cách ngã ba Máy cưa Tân Mai khoảng nửa cây số, trước kia là văn
phòng nhà máy cưa BIF, rộng hơn một mẫu. Thời chín năm đây là sở chỉ huy
của trung đoàn 22 (22 ème RIC). Khi quân Pháp rút về nước, Nhà Xanh sửa
sang thành nơi ăn ở của nhóm gần chục tên cố vấn quân sự Mỹ huấn luyện
cho sư đoàn 7 đóng ở trại Trần Quốc Toản gần Bình Đa. Trụ sở này rào mấy
lớp kẽm gai; đứng từ xóm Gò Me có thể nhìn rõ căn lầu quét vôi xanh. Đêm
đêm, đèn điện sáng trưng toàn bộ khu vực. Nhà Xanh có cổng chính từ ngã
ba Máy cưa chạy thẳng vào, lính thay phiên nhau gác suốt ngày đêm và một
cổng phụ bên hông để bọn bảo vệ ra vô, đến đêm khóa lại. Mỗi tốp lính
gồm vài ba tên đi tuần liên tục phía ngoài rào. Nhà Xanh nằm giữa vòng
bảo vệ của trại gia binh trung đội lính bảo vệ, cư xá Trung Dũng cạnh
nhà máy giấy Tân Mai có hàng chục sĩ quan ngụy, ngoài ra còn nhan nhản
mật vụ, chỉ điểm, thanh niên chiến đấu các ấp Lân Thành, Tân Mai, Vĩnh
Thị. Vòng ngoài có bộ tư lệnh sư đoàn 7, bộ chỉ huy quân đoàn 3, sân bay
Biên Hòa, ty cảnh sát, tỉnh đoàn bảo an, ty đặc cảnh miền Đông PSE...
không nơi nào xa quá 4km đường chim bay. Vì vậy địch đánh giá Nhà Xanh
là nơi cư trú bảo đảm an toàn tuyệt đối cho số cố vấn Mỹ. Phục vụ tại
đây có một người bếp, một anh bồi, một người làm vườn, hồ sơ lý lịch
công an Diệm đã thẩm tra kỹ. Đánh Mỹ đã khó, nhưng đánh xong rút ra còn
khó gấp bội vì khi súng nổ, địch sẽ nhanh chóng chặn mọi ngả đường bằng
xe cơ giới, bằng đội lính kỵ mã... Chúng ta chỉ có thể đánh địch bằng
lối đánh đặc công phân đội nhỏ, đánh nhanh rút nhanh, chấp nhận hy sinh
khi cần thiết...
Sắc
thắc mắc:
– Tôi
không sợ chết, nhưng xin hỏi làm sao vô được mà đánh ?
– Tất
nhiên lãnh đạo đã dự kiến có đánh chắc ăn mới đánh. – Năm Hoa trả lời.
Bé có ý
kiến:
– Từ
đây xuống Biên Hòa mấy chục cây số, làm sao đi đánh rồi về chỉ nội một
đêm ?
– Đồng
chí yên tâm, đường đi nước bước đã được cấp trên thông qua, tôi là dân
thổ công Biên Hòa bảo đảm đưa anh em vô rồi ra an toàn...
Tổ đặc
công bàn bạc trao đổi kỹ kế hoạch thực hiện rồi hạ quyết tâm: dù phải hy
sinh anh em cũng ráng hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này.
Chiều
ngày 5 tháng 7 năm 1959, đồng chí Lâm Quốc Đăng, Phó ban quân sự liên
tỉnh miền Đông tới gặp trực tiếp giao nhiệm vụ đánh bọn cố vấn Mỹ ở Nhà
Xanh máy cưa Biên Hòa cho phân đội, ôm hôn từng người, chúc anh em thắng
lợi lớn. Anh Năm Hoa phát biểu ngắn hứa nhất định làm tròn nhiệm vụ cấp
trên giao. Năm Huề cũng như bốn anh em khác không nói lời nào, song cảm
nhận đầy đủ trách nhiệm nặng nề đặt trên vai họ. Lần ra đi này có thể có
người không bao giờ trở về song quyết tâm thì tràn đầy tim óc họ. Trời
vừa sụp tối, sáu anh em trang bị mi Mát, riêng Năm Huề đeo ngang sườn
túi đựng trái thủ pháo gần 1 ki-lô-gam, lặng lẽ từ bưng Tre ra tới bờ
sông Đồng Nai đã có chiếc xuồng đợi sẵn. Nước sông lóc bóc vỗ vào be
xuồng, chỉ vài phút đã cập bờ bên kia. Nếu ai thính tai mới nghe tiếng
chân bước nhẹ trên mặt đất ẩm đường làng vì trận mưa không lớn lúc xế
chiều. Năm Huề chỉ đoán mình vừa đi qua Thiện Tân lúc vượt con lộ đá
tráng nhựa. Phân đội đi theo đường đất cắt ngọn đồi thấp nhắm hướng có
quầng sáng ánh điện trước mặt.
Quá nửa
đêm một chút, chuôi sao Bắc Đẩu chổng ngược cán gáo ở phương Bắc thì Năm
Hoa cho anh em nghỉ ở một vạt rừng. Anh và Sắc gác cho anh em trải miếng
nilon ngủ trên bãi cỏ. Bốn chàng trai chìm vào giấc ngủ say rất nhanh.
Mờ sáng
ngày mùng 6, Năm Huề chợt tỉnh dậy sau cái lắc vào chân và câu gọi của
Bé: dậy gác ! Anh vươn vai ngồi bật lên. Hưng đang đứng ngó về vùng
trũng lãng đãng sương sớm. Năm Huề hỏi nhỏ: Đây là đâu ? Hưng ghé tai
đáp: Gò Trâm Muối, ấp Bàu Hang. Vạt rừng ở đây quá nhỏ so với bưng Tre
quen thuộc. Có vài cây cầy cao cao, còn toàn là cây bụi với cành và tán
xòe um tùm. Mấy chú chim lích chích gọi nhau trên cành bỗng vụt bay lên
rồi mất hút vào lùm cây đằng xa. Trời sáng dần, màn sương vén nhanh,
những tia nắng sớm soi rõ mọi vật. Toàn cảnh vùng trũng hiện ra trước
mắt Năm Huề, mấy chiếc ô tô và xe ủi nhỏ xíu như đồ chơi của con nít nằm
rìa vệt đất đỏ au chạy dài theo hướng đông tây giữa vùng trũng, mấy dãy
nhà mái tôn sáng lóa trong nắng... Hưng chỉ tay về phía ấy:
– Sân
bay Biên Hòa đó. Nó đuổi hết dân ở trỏng cho Mỹ mở rộng, cái vệt đỏ là
đường băng đang ủi, nghe nói dài hơn 3 cây số, máy bay cỡ nào cũng lên
xuống ngon lành. Trước đây mấy ổng tính “uýnh” sân bay rồi lại thôi. Tụi
này ở Sài Gòn, sáng lên đây làm, chiều lại dông về dưới...
– Thế
bọn cố vấn Nhà Xanh thì sao ?
– Bọn
nó khoảng chục tên, ăn ngủ luôn ở đó. Sau tết vừa rồi, anh Năm Hoa dẫn
mình về gặp anh Ba Lễ, bí thư thị xã Biên Hòa. Anh Ba gởi mình ở cơ sở
là nhà má Bảy Vết xóm Máy cưa cách bọn đó mấy trăm mét. Bả bán cá, chị
ruột anh Tám Bi đó. Địch tuần tra canh gác ngặt mà cũng có chỗ lỏng, sơ
hở. Mỗi tối không mưa, nó cho dân vô xem chiếu phim ở sân. Mình trà trộn
theo dân vô, kín đáo nắm tình hình hoạt động của nó mấy tháng liền,
thỉnh hoảng lại về cứ báo cáo tình hình...
– Nó
không xét giấy sao ?
– Ban
ngày lạ mặt đi lại thì lòi ngay, nó túm liền. Mình phải ở lì trong phòng
phía sau như bà đẻ, tối đi xem phim chưa thấy nó chặn xét giấy lần nào.
Này, mình gặp một bà dũng cảm không thua cánh đàn ông.
– Bà
nào ? Mà dũng cảm sao ?
– Bữa
đó mình và anh Ba hí húi vẽ sơ đồ Nhà Xanh và bàn cách đánh ở phòng
trong nhà má Sáu Tơ để chuẩn bị mang lên căn cứ thì bất chợt bả vô kiếm
thứ gì đó. Bả hỏi anh Ba: “Chúng nó ở nhà lầu, bọn bay không có súng làm
sao đánh ?”. Anh Ba nói thiệt là sẽ dùng mìn. Bà nói: “Tụi bay để tao
đánh cho, tao là đờn bà lại dân ở đây chúng nó quen mặt không nghi, dễ
đánh hơn tụi bay”. Anh Ba phải lựa lời khuyên bả coi nhiệm vụ nuôi giấu
anh em cũng là góp phần trực tiếp đánh giặc, bấy giờ bà mới thôi. Mà cậu
biết không, bả năm con lận! Ngon không !
Năm Huề
thầm kính phục người phụ nữ chưa biết mặt bằng tuổi mẹ mình mà gan dạ
khí phách quá trời!...
18 giờ
ngày 7 tháng 7 năm 1959.
Mặt
trời đỏ lừ chìm nhanh xuống sau rặng cây bên kia Cù lao Phố. Mây chân
trời phía tây rực hồng. Huề liên tưởng đến màu cờ Tổ quốc tung bay sau
chiến thắng. Sáu anh em phân đội đặc công qua một ngày căng thẳng ngay
sát nách địch. Các tốp tuần tra địch có lần vô xóm nhưng chưa lần nào
đặt chân tới vạt chồi nhỏ Gò Me. Tự vệ mật địa phương đã đào hầm phòng
hờ, song phân đội không sử dụng đến. Nếu hôm nay địch bất chợt mò vào sẽ
có trận tao ngộ chiến. Nhà máy giấy Tân Mai im ắng, thợ thuyền nghỉ lễ
kỷ niệm “đệ ngũ chu niên Ngô tổng thống chấp chính”. Mọi bữa, máy chạy
rầm rầm suốt đêm ngày, đèn sáng trưng mấy phân xưởng, thợ áo xanh sáng
tấp nập đến làm rồi chiều tan sở ùn ùn ra về. Những cuộn giấy báo nặng
hàng tạ chất lên dòng xe tải hôm nay ngưng không chạy ra ngã ba Máy cưa
về Sài Gòn như mọi ngày.
Anh Năm
Hoa mở bọc vải bạt lớn, mấy bộ đồ lính kaki vàng với một xếp nón bánh
tráng rộng vành cùng mấy đôi giày lính lộ ra:
– Các
đồng chí thay đồ lính, chuẩn bị chiến đấu !
Hưng
vừa trở về sau khi cùng Năm Lũy, cơ sở mật Gò Me ra tận Nhà Xanh quan
sát tình hình địch lần chót:
– Báo
cáo anh Năm, hiện ở sân Nhà Xanh có sáu xe ô tô các loại. Cổng trước một
tên lính gác như thường lệ, cổng bên hông mở, lính trại gia binh đang
nhậu.
– Các
đồng chí vũ khí sẵn sàng, đội hình hàng một theo tôi. Năm Huề chú ý trái
thủ pháo. Ba Sắc yểm trợ phía sau theo đúng phương án tác chiến !
– Rõ !
Tất cả đồng loạt trả lời khẽ.
19 giờ
kém 7 phút. “Tiến !”. Mệnh lệnh ngắn gọn phát ra.
Tốp sáu
người lính lặng lẽ đi hàng một từ vạt rừng chồi Gò Me, theo bờ ruộng nhỏ
tiến về phía Nhà Xanh. Màu kaki sẫm hòa vào bóng tối. Đất dưới chân họ
mềm nên giày đinh không phát ra tiếng cồm cộp thường thấy. Năm Huề ước
lượng mục tiêu chỉ cách chưa đến 300 mét. Đèn sáng làm nổi rõ vóc dáng
to cao của người chỉ huy với bước đi chắc nịch. Anh không cảm thấy hồi
hộp chút nào, tim vẫn đập nhịp bình thường. Đánh trận mà như vậy đánh
hoài được à ! Chỉ hiềm đèn điện hơi sáng, muốn ẩn nấp hơi khó. Anh đã
nghe rõ tiếng : “Dzô ! dzô! Trăm phần trăm !” từ phía trại gia binh ồn ã
chen tiếng nhạc “chát chát xình, chát chát bùm” và tiếng hát ẽo ợt của
cô ca sĩ nào đó phát ra từ một chiếc radio. Tầng lầu Nhà Xanh sáng đèn,
nhưng sao tầng trệt lại tối thui ?
Họ tiến
vào cổng Nhà Xanh. Sân rộng chỉ có ô tô đậu, đằng cổng chính tên lính
gác cầm ngang cây cacbin day mặt hướng ra phía ngã ba. Năm Huề chỉ nhìn
thấy lưng y. Bên ngoài hàng rào, người đi đường và các loại xe đạp, xích
lô qua lại như thường lệ. Sân banh ở phía đông kề ngoài hàng rào thấp
thoáng hai bóng người vóc dáng cao to đánh tennít, tiếng vợt và bóng nện
xuống mặt sân vang bồm bộp. Từ căn bếp, tiếng xèo xèo và mùi thịt chiên
xào tỏa ra thơm nức mũi. Chắc bồi bếp đang chuẩn bị tiệc tùng đây ! Năm
Hoa khoát cao cánh tay: hiệu lệnh nhanh chóng tiếp cận mục tiêu đúng vị
trí quy định. Anh và Phú áp vào cửa sổ tầng trệt hé mở, chĩa súng vào
trong. Hưng chạy sau Bé về phía cửa ra vào. Năm Huề và Sắc tiến đến cửa
hông ăn thông xuống nhà bếp. Cả sáu người vừa đi dưới ánh đèn, áp sát
căn phòng lớn tầng trệt – dùng làm phòng ăn và nơi chiếu phim – thấy làn
ánh sáng xanh và tiếng “xè xè” của chiếc máy chiếu phim phát ra. Bỗng
căn phòng tràn ngập ánh sáng, cuốn phim vừa hết, một tên mở công tắc để
thay phim. Năm Huề tay cầm trái thủ pháo gần 1 ki-lô-gam nhảy lên bậc
tam cấp cửa hông tiến vào phòng. Anh đụng phải tên bồi người Việt hốt
hoảng lao ra. Sau lưng y, một tên Mỹ to cao trườn theo. Không cho bọn Mỹ
thoát, Năm Huề tung trái thủ pháo về phía trước. Một quầng lửa sáng lòe
kèm tiếng nổ như sét làm rung chuyển cả Nhà Xanh. Đèn trong phòng chiếu
phim vụt tắt. Khẩu súng trong tay Năm Hoa rung lên, nháng lửa kèm tràng
tiếng nổ vang. Rồi súng trong tay Hưng, Phú, Bé nhịp đồng loạt ngắn.
Ngoài cổng chính, lác đác vài tiếng súng...
Báo chí
Sài Gòn như các tờ Buổi Sáng, Chuông Mai, Dân Nguyện, Ngôn Luận, Tiếng
Chuông, Tin Tức, Tự Do... liên tục đưa tin về trận tập kích tối ngày 7
tháng 7 năm 1959.
Báo
Buổi Sáng, số ra ngày thứ bảy, ngày 11 tháng 7 năm 1959 đăng “tin giờ
chót”:
“Danh
sách nạn nhân đã được công bố.
Hôm qua
nhà chức trách ở Washington đã tiết lộ danh sách nạn nhân trong vụ Việt
cộng tấn công trụ sở của cố vấn quân sự Mỹ ở Biên Hòa.
Hai
người tử nạn là thiếu tá Buis, hạ sĩ nhất Ovmand. Người bị thương là đại
úy Boston.
Ngoài
ra, theo Thông tấn xã ngoại quốc thì cuộc tấn công xảy ra giữa lúc vừa
chiếu xong một phim và đổi cuốn khác...”
Tạp chí
International Herald Tribune (Diễn đàn thông tin quốc tế) ra ngày 11
tháng 7 năm 1959 có bài của nhà báo Staley Karnod nhan đề “Không biết
những người chết đầu tiên nói gì”:
“Sáng
hôm sau tôi đến thu thập tin tức. Sáu trong số những cố vấn Mỹ đóng ở đó
sau bữa ăn tối đã ngồi lại xem phim “Cái áo rách” do diễn viên Kanne
Grain đóng. Khi một người trong số họ đứng dậy thay phim thì du kích
xuất hiện ở cửa sổ dùng súng tự động nã vào căn phòng giết chết Buis và
Ovmand...
Buis và
Ovmand là những người đầu tiên chết trong kỷ nguyên Việt Nam...”
Đôi
điều nói thêm về trận tập kích tối 7 tháng 7 năm 1959
Đầu năm
1959, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời nhưng chưa được triển
khai ở miền Nam. Đánh bọn cố vấn Mỹ một đòn dằn mặt là ý định táo bạo
của một số đồng chí lãnh đạo liên tỉnh miền Đông, nhất là số cán bộ quân
sự. Liệu Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương có tán thành việc này không ? Một số
lãnh đạo liên tỉnh ủy nhất trí đã đến lúc phải đánh Mỹ. Nhân dân miền
Nam nói chung và nhân dân Biên Hòa nói riêng chắc chắn nhiệt tình ủng hộ.
Đồng chí Tám Kiến Quốc (Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến) phụ trách tỉnh
Biên Hòa, lúc đầu chọn mục tiêu đánh bọn nhân viên kỹ thuật Mỹ đang mở
rộng sây bay Biên Hòa thành sân bay chiến lược. Tháng 2 năm 1959, anh
Năm Hoa chỉ huy đơn vị vũ trang chủ lực C.250 của liên tỉnh miền Đông
được cử về liên lạc với Thị ủy Biên Hòa. Đồng chí Ba Lễ (Trương Văn Lễ),
Bí thư Thị ủy, là anh rể của Năm Hoa khi bàn bạc công tác phối hợp điều
nghiên đã góp ý: “Ở Biên Hòa có một điểm bọn Mỹ tập trung, ta đánh nơi
đó tốt hơn. Đó là cư xá quân sự MAAG ở Nhà Xanh hãng cưa Tân Mai, bọn
này đang huấn luyện cho sư đoàn 7 bộ binh ngụy”. Trước khi Năm Hoa trở
lên căn cứ báo cáo, đồng chí Ba Lễ dặn: “... Cậu phải nói cấp trên, nếu
đồng ý thì ra văn bản để có cơ sở tụi mình phối hợp làm, sau này khỏi
lôi thôi...” (1)
Cuối
tháng 2, anh Năm Hoa lại về, trao cho đồng chí Ba Lễ mảnh giấy viết mực
tím có chỗ bị nhòe do ướt, chữ rất to, nội dung: “Yêu cầu Thị ủy phối
hợp với lực lượng vũ trang liên tỉnh nghiên cứu, điều tra để tiến hành
đánh bọn cố vấn Mỹ ở BIF. Đánh xong Thị ủy không cần báo cáo. Ký tên:
Tám Kiến Quốc”.
Số
người được biết về trận đánh này rất ít, sau này trong lần đồng chí Tám
Kiến Quốc về Biên Hòa, đồng chí Hai Danh, nguyên Phó ban Tuyên giáo kiêm
Trưởng ban lịch sử Đảng – Tỉnh ủy Đồng Nai hỏi kỹ thì được trả lời đại
ý: Chưa xin ý kiến Xứ ủy Nam Bộ nên chúng tôi “đánh chui”, cũng lo bị
kiểm điểm, không ngờ mình làm đúng tinh thần Nghị quyết 15 của Trung
ương.
Đồng
chí Năm Huề đánh địch bằng vũ khí gì ? Nhiều sách báo, phim tài liệu,
truyền hình thường nói anh ôm trái mìn điện. Song cuốn hồi ký “Sinh ra
từ vùng địa linh” của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn
Huệ ghi tình tiết sau đây:
“Tôi
may được anh Ba Sắc, một trong sáu chiến sĩ đặc công đánh trận Nhà Xanh.
Mặt anh còn nám đen vì ảnh hưởng thuốc nổ. Anh kể vắn tắt:
– Huề
cầm trái thủ pháo chạy trước, tôi bám ngay sau cách vài mét. Có thằng Mỹ
từ trong phòng địch chạy ra, Huề ném trái vào bọn nó; vì ở quá gần nên
bị sức nổ ép dội ngược, hy sinh tại chỗ. Tôi chỉ bị thương, miểng còn
găm trong người, mặt nám thuốc.
Anh Ba
Dao (Nguyễn Ngọc Ánh) cán bộ quân giới, người chế trái thủ pháo bổ sung:
– Đây
là trái thủ pháo vỏ chế bằng hai lon sữa bò hàn lại, nhồi gần ký thuốc
nổ, gắn kíp MK.2. Thủ pháo cỡ này đánh trong nhà kiên cố phát huy uy lực
sát thương mạnh...”
Người
viết gặp đồng chí Hai Báo, cán bộ hưu trí hiện cư ngụ tại xã Tân Mỹ,
huyện Tân Uyên, Bình Dương giữa tháng 1 năm 2001. Đồng chí cho biết hồi
đó đang công tác ở huyện ủy Tân Uyên, gặp ngay Ba Sắc là em ruột, được
đồng đội dìu về, mặt nám đen bị thương do thủ pháo trong trận Nhà Xanh,
chữa hàng tháng mới lành...
Trong
chiến thắng Nhà Xanh, Thị ủy Biên Hòa góp phần hỗ trợ quí báu mọi mặt.
Đồng chí Ba Lễ (Trương Văn Lễ), Bí thư Thị ủy, quê Cù lao Phố, từ sau
Hiệp định Giơ-ne-vơ vẫn liên tục bám trụ địa bàn dù địch truy lùng ráo
riết. Đồng chí xây dựng hàng loạt cơ sở nội ô, trong đó có một số là họ
hàng xa gần gốc xã Hiệp Hòa như bà Ba Xuân (Nguyễn Thị Xuân) ở xóm Gò
Me, bà Sáu Tơ (Huỳnh Thị Tơ) và bà Bảy Vết (Phạm Thị Vết) ở xóm Máy cưa...
là người am hiểu tường tận tỉnh lỵ Biên Hòa, đồng chí đã gợi ý cấp trên
đánh bọn cố vấn quân sự Mỹ sẽ gây tiếng vang lớn. Đồng chí đích thân
cùng anh Hưng vào tận sào huyệt Nhà Xanh điều nghiên mấy tháng liền,
vạch kế hoạch chiến đấu tỉ mỉ; đó là cơ sở để cấp trên duyệt phương án
tác chiến. Tối 7 tháng 7 năm 1959, theo gót phân đội Năm Hoa, anh Sáu A
(Nguyễn Văn A) người xóm Gò Me và vài tự vệ mật đã nhanh chóng khống chế
kho súng, kềm chân số lính ở trại gia binh. Anh Nhái, một tự vệ mật khác,
cải trang làm người chạy xích lô, đứng ở ngã ba Máy cưa, dưới nệm xe là
khẩu tiểu liên và trái lựu đạn, sẵn sàng chặn đánh địch đến ứng cứu. Anh
Nguyễn Thành Long, thợ sửa chữa điện tử ở tiệm radio Minh Tuyến ở chợ
Biên Hòa kịp thời nổ súng diệt tên lính gác cổng chính Ngô Văn Chiến.
Còn phải kể thêm một số cơ sở giúp đánh lạc hướng truy tìm của địch bằng
việc vứt dép, cơm nắm, vờ gọi đò sang sông sau khi nổ súng... Tất cả đã
phối hợp nhịp nhàng, theo kịch bản soạn trước rất chi tiết. Không có cán
bộ và cơ sở địa phương hỗ trợ, không thể có trận Nhà Xanh đạt hiệu suất
cao, tổn thất ít như thế.
Báo chí
Sài Gòn và Mỹ đều đăng tải trận đánh vào tối 8 tháng 7 năm 1959. Nhưng
đồng chí Ba Lê nhớ rõ ngày N là ngày mùng 7 tháng 7 năm 1959, giờ G là
đúng 7 giờ tối (tức 19 giờ) vì hôm đó là ngày địch kỷ niệm 5 năm Ngô
Đình Diệm lên nắm chính quyền. Vào ngày lễ lớn này của chế độ Sài Gòn,
địch sẽ có nhiều sơ hở: từ quan đến lính lo tiệc tùng, nhậu nhẹt... 19
giờ tối là lúc lính gác cổng đổi phiên, bọn đi tuần phía ngoài cũng đổi
tua, bọn cố vấn Mỹ tập trung ăn uống hoặc xem phim; đây là lúc sơ hở
nhất của chúng. Đánh vào thời điểm này là đúng lúc nhất. Đánh vào ngày
khác, giờ khác sẽ khó khăn gấp bội mà chưa biết kết quả sẽ ra sao.
Chiến
công “mở kỷ nguyên Việt Nam” đối với đế quốc Mỹ của trận Nhà Xanh ghi
vào lịch sử đất nước một nét son sáng ngời. Từ nhiều năm trước, tỉnh
Đồng Nai đã đề nghị Nhà nước xét tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang cho anh Năm Huề. Một số cơ quan phái cán bộ đi tìm quê quán, thân
nhân của liệt sĩ, song đáy biển mò kim. Công việc giậm chân tại chỗ. Cả
sáu đồng chí trong phân đội đều qua đời trong kháng chiến chống Mỹ, biết
ai mà hỏi ? Hai năm trở lại đây, Ban Thi đua thành phố Biên Hòa được
giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ khó khăn này. Cuối cùng, nhờ đồng chí
Tư Văn (Văn Công Văn), người đưa anh Năm Huề đi thoát ly, nay nghỉ hưu ở
đường Võ Thị Sáu, thành phố Biên Hòa chỉ dẫn, từ đó phăng thêm nhiều mối
khác, chúng ta mới có tư liệu hiếm hoi về tiểu sử người thanh niên hai
mươi mốt tuổi chỉ trong phần nhỏ một giây đã hóa thành tia sét đầu tiên
giáng vào bọn xâm lược hung bạo nhất thời đại, để đề nghị Chủ tịch nước
truy tặng sau hơn ba mươi năm hy sinh oanh liệt.
Liệt sĩ
Nguyễn Văn Huề được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân vào đúng tháng cuối cùng của năm cuối thế kỷ 20 (tháng 12
năm 2000). Tấm gương hy sinh dũng cảm của anh xứng đáng để thế hệ trẻ
noi gương, học tập.
T.P