Minh
Yên
Sau
trận Nhà Xanh không lâu, tháng 9/1959 Bảy Bông bị công an của địch về
tận nhà (ở xóm Bình Xương, xã Hiệp Hòa) bắt. Chiếc xe vừa xịch đậu ở
cổng ty anh được đưa ngay vào văn phòng. Tên áp giải báo cáo:
- Thưa
sếp, bọn tôi đâ tóm được thằng em của Ba Lễ và Năm Hoa!
Viên
phó ty công an nói tiếng Bắc:
- Để nó
đấy!
Tên kia
vừa ra khỏi, y lừ lừ đến gần, xáng Bảy Bông hai bạt tai. Một bầy ong vỡ
tổ vỗ cánh ào ào trong óc, song anh vẫn nghe rõ giọng nói gằn của y:
- Mày
khai, mày chết!
Rồi y
ra khỏi phòng. Bảy Bông suy nghĩ hoài; chắng lẽ thằng cha này bảo mình
đừng khai? Mấy chú, mấy anh từng vào tù ra khám có lần nói với anh như
truyền lại kinh nghiệm: "Chỉ cần khai chút đỉnh, địch tấn tiếp đến độ
không còn gì để khai; chịu đau lần đầu riết rồi quen, sẽ giừ được bí mật
cho cách mạng!"
Không
phải chờ lâu, mấy tên đồ tể đưa anh vào "phòng điều tra”, xắn tay cho đi
tàu bay, đổ nước, dí điện, đòn tứ trụ, móc sườn. .. suốt ba ngày từ thuở
cha sinh mẹ đẻ anh chưa bị roi nào, nay nếm đòn giặc mớI hiểu thế nào là
“đòn thù” nhừ tử. Cũng là người Việt cả mà sao ác đến thế! Chỉ thêm
chiếc vạc dầu sôi sùng suc bày ra thì phòng điều tra này đích thực là
địa ngục dương gian. Mà chẳng có vạc dầu thì bọn công an điều tra này đã
hiện nguyên hình quỷ sứ liên tục nhe nanh gầm ngừ:
- Năm
Hoa, Ba Lễ ở đâu? Mày liên lạc với chúng nó bằng cách nào?.. .
Anh chỉ
lặp đi lặp lại câu trả lời:
- Không
biết!
Đúng là
anh không biết thật; nếu có biết anh cũng không nói. Anh Năm Hoa cùng
đồng đội đánh xong Nhà Xanh, diệt mấy cố vấn Mỹ , đã rút lên chiến khu Đ
ngày đêm mồng 7/7/1959. Anh Ba Lễ , bí thư thị ủy đang ở nhà cơ sớ nào
đó ngay giữa lòng tỉnh lỵ Biên Hòa, thay đổi chỗ ở liên tục, thoắt hiện
thoắt biến làm sao biết? Mấy tên ác ôn càng ra tay nặng đòn hơn:
- Thì
Tư Cường khai Ba Lễ, Năm Hoa thường về nhà mày mà!
Ra thế!
Anh bị bắt là do Tư Cường chỉ điểm. Tư Cường là cán bộ binh vận huyện
Vĩnh Cửu, với gia đình anh nào xa lạ gì! (Trong dịp cúng đình Đoàn Văn
Cự (làng Vĩnh Cửu, xã Tam Hiệp) hồi đầu kháng chiến chống Pháp, ông ta
thề trọn đời theo kháng chiến cách mạng và lấy bí danh Đoàn Trị để tỏ ý
chí noi gương nhà nho liệt sĩ họ Đoàn đã hy sinh oanh liệt hồi đầu thế
kỷ 20). Không thu được lời khai nào, chúng rất tức:
Mày
không biết đây là nơi đã vô thì đá cũng phải khai? Không cũng phải nói
cho có . .. Mày lì không được đâu. Chúng tao có cách!
Bốn
ngày sau, anh Tư Mẫm (người Cù Lao Phố) được đưa vào đối chất với anh.
Anh Tư nói:
Tôi ở
gần nhà, tôi chỉ thấy Bảy Bông coi trâu trồng dưa. . .
Anh Tư
là đảng viên, có ìúc phụ trách công tác đoàn, địch quá rành. Bảy Bông
chưa phải là đoàn viên, tuy đã là giao liên hồi còn là thiếu nhi và canh
gác bảo vệ một số cuộc họp của cán bộ mật ngay tại nhà. Nhờ lời khai ấy,
anh không bị đòn thêm. Cô Bảy Bê, huyện ủy viên huyện Vĩnh Cửu, gặp anh
trong tù cũng lén tranh thủ dặn: "Đừng khai!". .
Hồ sơ
hầu như trắng, một tháng rưỡi sau anh được tha. Về nhà nghỉ ngơi vài bữa
lại sức, anh đi làm. Đúng một tuần sau, khi vừa từ ruộng về , anh được
má cho biết:
- Hồi
sáng có 4 thằng công an Biên Hòa do Hai Bản cầm đầu, đi xe Jeep xuống
hỏi con. . .
Ở lại
không yên rồil May sáng hôm đó Bảy Bông đi vắng, nếu không chắc tù lần
nữa, biết ngày nào ra. Anh bàn với và vợ tạm lánh xuống Sài Gòn trú nhà
người quen. Ở nhà, bà Tám Vân tìm cách móc với anh Năm Hoa. Đầu tháng
10/1959, bà nhắn Bảy Bông về rừng Trâm Muối (gần sở cao su Phủ Thanh).
Quần áo, tăng võng chuẩn bị sẵn, ông Ba Thái đón anh đưa lên căn cứ của
bộ phận phụ trách quân sự thuộc tỉnh Biên Hòa ở chiến khu Đ.
Để
tránh địch gây rắc rối cho gia đình, bà Tám Vân và chị Thu Hồng - vợ của
anh phao tin: " Bảy Bông đăng lính sư đoàn 7 ở miền Tây". Một thời gian
nữa, hai người tung tin: " Bảy Bông mất tích".
Bảy
Bông chưa được bố trí công tác gì nên rảnh rỗi. Anh có thì giờ hồi tưởng
lại quãng đời hơn hai chục năm qua, từ lúc có hiểu biết tới nay. Hồi
trước, anh nghe một số người nói: "Nam kỳ là nơi dễ ' klếm sống, đất làm
ăn chơi thiệt". Anh thấy ý kiến này không đúng. ông bà nội anh gốc gác ở
xóm Bình Tự, vì không có ruộng đất, phải qua xóm bến đò Kho (làng Bình
Đa) bên kia Rạch Cát, trần thân móc lõm khai phá đồi hoang trồng khoai
mì, trồng khóm. . . nuôi gia đình gần chục miệng ăn. Ba má anh cần cù
nổi tiếng, vì quá nghèo, thương nhau chỉ ráp lại chung sống, không có
điều kiện tổ chức cưới hỏi theo đúng tục lệ địa phương. Hai người quanh
năm suốt tháng độI nắng lửa mưa dầu bán mặt cho đất, bán lưng cho trời,
ra sức chỏi đá ong, mỗi ngày làm ra dăm bảy chục viên đều phải bán hết
cho chủ vựa He (vì không có tiền mở đường và bến bãi riêng chọ thương
lái miền Tây đến ăn hàng) để nuôi gần chục người con. Từ năm cha Bảy
Bông đủ mười tám tuổi (1921) đến Cách mạng tháng Tám 1945, suốt 24 năm
liền, ông không một lần ra chợ Biên Hòa vì không tiền đóng thuế thân dù
là hạng vô sản 1,5 đồng (đủ mua nửa tạ gạo), nếu sớ rớ bị phít (cảnh sát)
xét hỏi thì cầm chắc ngồi tù hai tuần lễ ! Tuy ông Năm Kí thuộc thành
phần trốn xâu lậu thuế song ban hội tề không dám thúc ép tận thu, họ
ngán ông võ cao cường, dân anh chị trong vùng từng tôn vinh là quận Kí.
Mấy người bà con làm bồi bếp ở sân bay Biên Hòa thu gom cơnl thừa, phơi
khô dồn thành bao hơn chục kí, lâu lâu gửi về giúp gia đình anh đông
người vào những lúc thắt ngặt: ôi cơm khô đáng lê chỉ biết nấu cho heo,
nhớ lại sao mà ngon đến thế! Đến năm cha hơn bốn mươi, nhờ sự giúp đỡ
hào hiệp của người bà con, gia đình mới mua được đôi trâu gầy, thuê năm
mẫu ruộng gần bụi tre sụp của ông bang Phúc (người chợ Biên Hòa) mỗi mùa
đong cho chủ ruộng 50 giạ lúa tô, Bảy Bông mới trở thành nông dân thực
thụ.
Cách
mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, làng Bình Đa (nay thuộc làng An Bình)
sống những ngày hộI tưng bừng hồ hởi chưa từng có. Nhưng hơn hai tháng
sau giặc Pháp trở lại tái chiếm tỉnh lị Biên Hòa. Quê hương Bảy Bông trở
thành căn cứ cách mạng nổi tiếng thời chín năm, như mũi aao nhọn chĩa
sườn kẻ địch. Giặc càn bố ìiên miên. Ông Năm Kí dắt anh Ba Li đến gặp
ông Lê Thoa đầu năm 1946, nói thật giản dị:
- Bây
giờ tôi già rồi, cho thằng con đi thay cha! Tôi xin giao nó cho ông,
chừng nào độc lập hết giặc thì ông cho nó về!
Đêm hai
tháng bảy âm lịch Đinh Hợi ( 17/8/1974) anh Ba Li cùng mấy đồng chí cùng
đơn vị, phối hợp vớI du kích xã Tam Hiệp đưa một đoàn công voan (đoàn
công tác đông người) băng qua quốc lộ l ở khu vực quán Chín Nếp (gần cầu
Săng Máu). Các anh lọt ổ phục kích của lính bót Nhà thương điên, Ba Li
và hai đồng chí hy sinh. ông Năm Kí và du kích xã lặn lội ba đêm liền
kiếm thi hài con, đem về an táng. Rồi dắt tiếp anh Năm Hoa giao cho ông
Lê Thoa:
- Cho
nó đi để nó trả thù cho anh nó !
Anh Năm
Hoa vào đội biệt động Biên Hòa, tham gia đánh bót Long Điềm, ném lựu đạn
thành Kèn, đánh kho dầu Phước Lư. .. Anh được bố trí ở lại bám trụ hoạt
động, không đi tập kết. Năm 1956 anh tham gia diệt tên Sự mật vụ ác ôn ở
ngay Bình Đa. Địch lùng bắt ráo riết, nên đầu năm 1957 anh được thị ủy
Biên Hòa cho đi thoát ly lên đơn vị C.250 của tỉnh ủy Biên Hòa. Ông Năm
Kí là đáng viên mật, cán bộ ban bảo vệ căn cứ của xã Tam Hiệp và huyện
Vĩnh Cửu. Tháng 6/1956, địch mở chiến dịch Trương Tấn Bửu, điên cuồng tổ
chức "tố cộng, diệt cộng" ở miền Đông Nam bộ. Hai giờ ngày 2/8/1956, Ha.
Bản chỉ huy một xe lính về xóm Bình Xương bắt ông. Bà níu kéo giằng ông
lại chúng đẩy luôn bà lên xe. Ông bà bị đưa về tiểu khu Biên Hòa để điều
tra, khai thác. Hai bữa sau, chúng thả bà, cho bà gặp mặt ông. ông bị
đánh gãy tay, áo quần tơi tả bết máu, nhưng không khai gì khiến bọn lính
gác hết sức nể phục. Sáng 10/8/1956, một xe lính chở ông về lò gạch ở
bìa rừng chồi An Hảo (bây giờ là chân đồI Nhà máy đường Biên Hòa) thủ
tiêu. Bà hay tin, cùng ba con gái, con dâu (đều đang có bầu) tới xin xác
ông về chôn cất. Cả gia đình đau đớn khôn cùng. Anh Năm Hoa - lúc đó
chưa lên chiến khu - về nhà, đứng lặng, nhìn về phía An Hảo qua Rạch Cát,
nói với vợ:
- Anh
chưa chăm sóc được ba thì ba đã mất; anh cũng không lo được gì cho em,
kinh tế gia đình thiếu thốn trong lúc em mang bầu. Cuộc đời thật đầy
đắng cay, chua xót!
- Mai
đây sinh con đặt tên nó là gì?
- Dù
trai hay gái, cứ đặt tên là Đắng! (Nguyễn Thị Đắng nay đã là thiếu tá
công tác ở Sở công an Đồng Nai).
Tranh
thủ những lúc anh Năm rảnh rỗi, hai anh em Bảy Bông trò chuyện cùng nhau.
Nhờ vậy, Bảy mớI biết anh Năm cùng đồng đội tiến hành nhiều đợt diệt ác
phá kềm, làm sạch địa bàn quanh vùng đơn vị đứng chân. Các anh hồi đầu
có nhiệm vụ chủ yếu là vũ trang tuyên truyền, nhiều lần chặn xe đò từ
Tân Uyên đi lên Đồng Xoài, Bà F.B trên đường 8 và 16, giải thích ngắn
năm mười phút về chủ trương đấu tranh hòa bình thống nhất đất nước, tố
cáo tội ác Mỹ - Diệm đàn áp khủng bố những người kháng chiến cũ... Tiến
thêm bước nữa, các anh chủ động tiến công địch, phá dinh điền Hiếu Liêm,
đánh trại be Hiếu Liêm, đánh trận Lò Than, đánh trận dốc bà Nghĩa, đánh
trạm xá trạI cùi Bến Sắn, lấy thuốc và dụng cụ y tế, đánh Phú Riềng,
đánh Bù Đăng lấy gạo, đánh Dầu Tiếng, đánh Bến Củi thu hàng triệu đồng.
. .
Anh Năm
bàn với Bảy Bông sẽ đề nghị cấp trên bố trí cho học thêm văn hóa để sau
vào ngành thông tin. Bảy phân vân: trình độ mình thấp, học đến bao giờ
mới được trực tiếp tham gia công cuộc giải phóng miền Nam? Nhiều lần gặp
gỡ, trò chuyện với anh Ba Đạo (Nguyễn Ngọc Ánh), cán bộ quân giới từ
thờI kháng chiến chín năm, người chế trái thủ pháo cho anh em đánh trận
Nhà Xanh. Anh Ba cho biết:
- Đấy
là trái thủ pháo vỏ chế bằng hai lon sữa bò hàn chì, nhồi gần một kí
thuốc TNT, gắn kíp Mk.2. Thủ pháo này đánh trong nhà kiên cố phát huy uy
lực sát thương mạnh . . .
Anh Ba
Sắc, một trong sáu chiến sĩ đặc công đánh Nhà Xanh, mặt còn nám đen vì
ảnh hưởng thủ pháo nổ, kể lại cho Bảy Bông:
- Huề
cầm trái thủ pháo chạy trước, tao bám sau cách vài mét. Mấy thằng Mỹ từ
trên lầu chạy xuống, Huề ném trái vào bọn nó ; vì ở quá gần nên bị sức
ép dội ngược, hy sinh tại chỗ , tao chỉ bị thương, miểng còn găm trong
người, mặt nám thuốc:. .
Gần
cuối tháng 11/1960, quân báo ta nắm được tin một tiểu đoàn lính Nùng
thuộc sư đoàn 5 của Voòng A Sáng chuẩn bị càn lớn vào vùng Bà Đã . Để
kích thích tính hung hãn liều chết, lúc ra trận, chúng mang theo nhiều
rượu, nốc ngà ngà say, vừa nổ súng vừa thục mạng hò hét xông tới. Ban
quân sự liên tỉnh miền Đông chỉ đạo một bộ phận C.250 và một phần C.380
(của Thủ Biên) phối hợp du kích các xã Mỹ Lộc, Thường Lang, Đất Cuốc...
chuẩn bị chống càn. Anh Năm Hoa dù bị thương từ trận lò Than chưa lành
hắn, vẫn được cử tham gia chỉ huy trận đánh.
Sớm
ngày 28/11/1960 (mùng 10 tháng 10 Canh Tý), bộ đội và du kích đào hố cá
nhân ngụy trang kỹ dọc đường kiểm. Anh em chôn sáu đầu đạn I05 li, 6
trái cối 81 cách quãng nhau. Theo kế hoạch, khi mìn nổ, chặn đầu và khoá
đuôi, chia cắt vụn lực lượng địch thành nhiều khúc thì ta đội nắp hầm
bung lên ném một loạt lựu đạn, thủ pháo rồi sung phong xáp lá cà, nhào
tới dùng rựa chém tiêu diệt địch. Hỏa lực kết hợp bạch binh sẽ làm địch
kinh hoàng khiếp vía. Khẩu đạn liên MG.30 trợ chiến sẽ bắn chéo để quét
nhóm nào chống trả, chạy trốn.
Tám giờ
sáng, địch tiến vào trận địa đầy chủ quan, mặt tên nào tên nấy đỏ lơ đỏ
lửng, mùi men phả nồng nặc. Mìn ta chỉ nổ giòn hai trái, sáu trái nổ bụp
tét đôi, bốn trái không nổ. Không bị chia cắt và tiêu hao như dự kiến,
địch điên cuồng chống trả. Quân ta ào lên ném lựu đạn, vung rựa chém lia
lịa. Chỉ trong ít phút ta hoàn toàn làm chủ trận địa song ba đồng chí hy
sinh, trong đó có anh Năm Hoa. Dịch tháo chạy tán loạn, ta thu một số vũ
khí, quân trang trong đó có hàng chục bi đông rỗng hoặc đầy rượu. Anh em
khiêng thi hài các liệt sĩ về ; tự tay Bảy Bông tắm rửa, tẩm liệm cho
anh ruột và an táng anh bên bờ Suối Cái. Cả đơn vị thương khóc anh Năm,
có người bỏ ăn. Trước mộ người anh, Bảy Bông thề sẽ trả thù cho anh và
đồng đội, rồi xin ra trận. Các đồng chí lãnh đạo như Sáu Chí, Tám Vên
Vên, Mai Chí Thọ không cho vì sợ anh nôn nóng sẽ hy sinh tiếp, gia đình
anh đến khi ấy đã có ba liệt sĩ. .
Bảy
Bông chính thức được tính tuổi quân từ tháng 9/1960. Mỗi cán bộ, chiến
sĩ thường có bí danh, anh bèn lấy luôn tên con trai là Nguyễn Văn Huệ
nên từ đó anh em gọi anh là Bảy Huệ. Lãnh đạo cử anh về xương C. 0 đóng
ở bàu Sắn bên bờ suối Linh (chiến khu Đ). Trưởng xưởng là anh Hai Sơn (Lưu
Văn Ổn), anh Ba Đạo phụ trách về hóa chất. Lúc Bảy Huệ về, xưởng có đúng
10 người, trong tay anh em chỉ có chiếc rựa gãy cổ. Để cất chiếc chòi lá
lấy chỗ tạm nương thân, anh em mài sắc rựa để cắt lá, chặt cành nhỏ ...
và lượm một mảnh bên của chiếc ôtô đập bẹp làm xà ngang đào lỗ . .. Anh
Ba Khánh tiếp tục lòn về Tân Uyên chở lên một số kềm, búa, đe. . . ông
Hai Phương là thợ rèn bị bắt cóc lên để hướng dẫn anh em làm nguội. Công
trường C.10 hình thành buổi đầu như thế, nhanh chóng làm mìn, thủ pháo
và lựu đạn. Nhớ lạI anh Năm Hoa và hai đồng chí hy sinh trong trận ngã
tư Bù Rụ (ở Bà Dã) vì trái không nổ, Bảy Huệ nguyện cùng tập thể sản
xuất trái bảo đảm tốt 100% để giảm xương máu cho đồng chí mình.
Sắt
thép không hiếm như thời chín năm chống Pháp, xác xe địch rải rác nhiều
nơi. Đạn cối 81 và đạn pháo 105 bị tịt kiếm cũng dễ, anh em du kích chỉ
chỗ nhiều địa điểm. Địch hủy bom quá đát bằng cách dùng máy bay mang lên
tập ném ở bàu Cá Sấu (Tà Lài); bom lép khá nhiều. Anh Tám Trình có kinh
nghiệm tháo nhiều bom đạn, được cử làm trưởng ban sưu tầm. Một tổ chất
nổ, trong đó có Bảy Huệ cắt rừng chiến khu Đ lên bàu Cá Sấu lần nào cũng
dào được một vài trái. Phải nắm vững cấu tạo các loại kíp bom: có loại
ta dùng dụng cụ vặn đầu nổ ra rất an toàn, có loại địch lắp kíp chống
tháo, chỉ xoáy hai ba vòng bom phát nổ liền. Cục quân giới Miền có một
trường hợp tổn thất khi nghiên cứu tháo kíp các loại bom Mỹ. Bom cỡ lớn
chứa khối thuốc nổ đủ nhồi nhiều mìn và thủ pháo. Bảy Huệ và đồng đội
bàn phương án thực hiện lấy thuốc nổ an toàn nhất: cưa bom. Việc này đòi
hỏi tinh thần cần cù, bền bỉ, không thể ẩu tả nóng vội.
Bảy Huệ
và một đồng dội ngồi cưa vỏ bom bằng gang dày. Các anh thay nhau: Một
người cưa, một anh phải nhỏ nước liên tục cho mạch cưa không bị nóng lên.
Cái khối thuốc nổ hàng trăm, mấy trăm ký bị kích thích mà lên tiếng, có
thể đào thành đìa đường có bán kính hàng chục mét. Thần chết rình rập
từng giây, mỗi lần ngồi bên trái bom, Bảy Huệ đều có cảm giác xung trận,
thần kinh căng thẳng, chấp nhận hy sinh để bộ đội du kích có đủ vũ khí
diệt địch. Họ thường dặn nhau: không dược ẩu tả mà chết lãng nhách! (Đơn
vị quân giới 814 của Miền một lần do kỉ luật an toàn không tết, mười
người xúm lại coi anh tháo một kiểu bom lạ. Trái phát nổ, cả tiểu đội đó
không còn ai. Bài học đau xót này được phổ biến ngay cho toàn ngành quân
giới). Chỉ khi vỏ gang tách đôi, khối thuốc nổ bên trong lộ ra, bấy giờ
bảy Huệ mới thở phào nhẹ nhõm... vỏ bom cắt thành từng miếng, rèn rựa và
cuốc, các thứ này bén hết xảy!
Khi bộ
đội ta đi tập kết, ông Chín Qùy ở lại, được đích thân ông Tám Nghệ giao
chôn một số vũ khí trong rừng làm vốn về sau. Xưởng C.10 hỏi, tính móc
lên sửa để trang bị cho bộ đội, không hiểu sao ông Chín không chỉ chỗ .
Sau anh em xăm được khoảng 80 trái bazômin. Thuốc bị ẩm qua bảy, tám năm
chôn cất, anh bàn tính tháo bỏ thuốc nổ clorat cũ, lấy vo nhồI thuốc bom
mới. Anh Hoàng Bá - bí thư chi bộ công trường không cho vì sợ clorat
nhạy nổ, anh em hy sinh trong hoàn cảnh cả xưởng chỉ có mười người. Bảy
Huệ suy nghĩ: đem trái bazômin ngâm xuống suối, thuốc ướt mềm, khó mà nổ.
Biết mình là dân tay ngang, bắt đầu làm, anh hồi hộp dữ. Trống ngực đánh
thình thình song tin chắc làm thế không hề hấn gì, anh lấy cây xầm dẻo
làm hình chiếc muỗng bẹt dài, kiên nhẫn cạy từng chút clorat rớt vụn
xuống nước suối. Anh không reo lên "ơrêca" như Acsimét song mừng hết
biết khi trái đầu tiên cạy an toàn! Chỉ một tuần, anh xử lý được bốn
chục trái, anh em khác cạy số còn lại , an toàn tuyệt đối. Nhồi thuốc
mới và lắp kíp thì dễ ợt! (tháng 9/1961, tiểu đoàn 800 dùng một số trái
này đánh tỉnh Phước Thành, trái nổ ròn rã, tên tỉnh trưởng Nguyễn Minh
Mẫn - con nuôi Ngô tổng thống đền tội tại trận). Bước đầu Bảy Huệ thực
hiện đúng lời hứa với lãnh đạo và anh linh các liệt sĩ trận ngã tư Bà Rụ
(Bà Đã).
Địch
thả bom bươm bướm ở cánh đồng bàu Chân Ra (suối Mã Đã) hòng gây thương
vong ngăn cản đồng bào và chiến sĩ đi gặt lúa. Loại bom này khi rơi
xuống, xòe các cánh, dây thiều đồng hồ của kíp bung hết cỡ, ta chạm phải
thì kích nổ liền. Anh Tám Trình (có kinh nghiệm từ hồi chống Pháp) và
Bảy Huệ được cử đi phá loại bom rình nổ này. Sau khi nghiên cứu, bàn bạc,
các anh thấy dùng axit clohydric trộn axit sunfuric pha loãng nhỏ vào bộ
phận đồng hồ và kíp thì dây thiều đứt từ từ, kíp bị lủng, trái bom sẽ bị
vô hiệu hóa. Thống nhất cách làm xong, anh Tám đi trước hết sức chậm,
cắm tiêu báo hiệu vị trí từng trái bom không để sót. Bảy Huệ đi sau,
dùng ống chích bơm vài giọt axít vào bộ phận kíp. Qua một đêm , thứ vũ
khí chết ngườI không còn gây hại cho ai; các anh nhẹ nhàng gỡ lấy mang
về , lắp ngồi nổ mới để gài bảo vệ khu vực công trường.
Hạt nổ
là bộ phận tuy nhỏ nhưng không thể thiếu của mìn, lựu đạn, thủ pháo. Lúc
đầu, xưởng C.10 loay hoay mua lá đồng thau, cắt rồi gò uốn bằng tay
nhưng không thành thành công vì sản phẩm không cùng kích cỡ. Nếu có máy
dập khuôn thì hạt nổ đều tăm tắp. ở trong rừng già chiến khu Đ, lấy đâu
ra chiếc máy quí báu đó? Chợt Bảy Huệ nghĩ cách lấy hạt nổ khỏi đít vỏ
đạn (vương vãi khắp nơi). Dùng đinh đục ra thì hạt nổ ( của vỏ đạn bắn
ra) bị lủng. Loay hoay ít lâu, Bảy Huệ mới tìm ra cách lấy vừa dễ , vừa
nhanh: đổ đầy nước vào vỏ đạn, gọt miếng gỗ vừa khít miệng (vỏ đạn), kê
lên miếng sắt (làm đe) có lỗ to bằng hạt nổ, gõ một nhát nhẹ , thì hạt
nổ tụt ra. sau đó sửa lại (gõ đáy hạt nổ cho phẳng, dũa mỏng bớt. . . )
rồi nhồi thuốc vô là xong. Với sáng kiến nhỏ này, anh được tuyên dương
chiến sĩ thi đua quân khu năm 1961.
Để chế
lôi quản, ta mua lá đồng thau về cuốn, dùng đèn khò hàn lại, lấy các sợi
thép ở talông ô tô làm lò xo, lắp bộ phận cơ khí và dây cháy chậm vào. .
. Chế Fulminat thủy ngân không dễ: tay người nào ra mồ hôi không được
vào làm, người không kiên nhẫn đằm tính cũng không được làm việc này.
Hóa chất trộn thủ công từng lượng nhỏ, tay cầm chiếc lông gà đảo chậm và
nhẹ (nếu đảo nhanh và mạnh tay thuốc sẽ nổ ngay!). Thuốc nổ của kíp phải
đảo kỹ, nếu không, trái nổ không đều hoặc lép. Kíp điện làm bằng dây may
so rất mảnh, cắt ra uốn bảy vòng theo cái mẫu, cuốn lại rồi dùng đồng hồ
AVO đo, dúng chỉ số mới lắp vàp kíp. Dây cháy chậm của thủ pháo và lựu
đạn se giây Tàu bạch bằng tay được thử rất kĩ, vì nếu không kỹ có thể
làm trái lép hoặc nố cướp. Trái nổ cướp trên tay chiến sl thì tai hại
biết bao! Mà trái lép trong chiến đấu, hậu quả cũng khôn lường; xương
máu anh em đổ vì lỗi của quân giới như trong trận ngã tư Bù Rụ (Bà Đã)
không thể tái diễn! Các anh Ba Dạo, Tám Trình là những người thầy quân
giới đầu tiên của Bảy Huệ, ân cần chỉ bảo anh và các đồng chí khác -
những người chưa có chút hìểu biết gì về kỹ thuật thật chân tình cặn kẽ.
Tuy văn hóa thấp, chỉ mới học hết lớp một, lớp hai song Báy Huệ là người
đằm tính, đã tiếp thu khá nhanh những điều được truyền thụ. Chỉ nửa năm
sau, anh đã có thể cầm tay chỉ việc, phổ biến kinh nghiệm làm vũ khí tự
tạo: đạp lôi, kíp đầu ban... cho anh em các công trường quân giới cấp
huyện, cấp tỉnh cử về học. Sau này, nhiều học viên của anh lập công hiển
hách ở các địa phương, đó là những hạt nhân quí báu của phong trào chiến
tranh nhân dân miền Đông Nam bộ.
Từng
bước trưởng thành trong sản xuất, Bảy Huệ được đề bạt làm trưởng ban hóa
chất của C.10 (năm 1962), rồi trường xưởng B.8 (năm 1967).
Báo của
ta và đài phát thanh giải phóng hàng ngày loan tin chiến thắng khẩp các
mặt trận kể từ hồI tết Mậu Thân 1968. Nhìn toàn cục, tình hình đầy phấn
khởỉ: ta buộc Mỹ phải hòa đàm ở Paris, Mỹ ngưng ném bom ở miền Bắc, tổng
thống Johnson thôi không ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ nữa, bộ trưởng
quốc phòng Mỹ Mac Namara từ chức, tổng tư lệnh Mỹ ở Việt Nam
Westmoreland bị bãi nhiệm.. . Nhưng sau đó địch điên cuồng phản kích, mở
liên tục các đợt bình định, đẩy các lực lượng cách mạng ra xa đô thị,
các trục đường giao thông quan trọng. Ngay bộ phận quân giới Miền và
quân khu cũng chuyển sang phía Bắc đất Miên. ở góc rừng chiến khu
Đ, nơi đặt xưởng B.8 (do Bảy Huệ phụ trách), địch đánh phá ác liệt chưa
từng có. Anh em phải chôn giấu máy móc và chỉ giữ lạI các dụng cụ nhẹ,
tạo nên "xưởng gùi trên lưng". Xe tăng Mỹ cày dọc cày ngang chiến khu Đ.
Từng tiểu độI lính "ky binh bay" của sư đoàn "Anh cả đỏ" dàn hàng ngang
càn nát "thánh địa hồi kháng chiến chín năm". Chúng đi phía trước, cán
bộ chiến sĩ xưởng B.8 lòn sau lưng, lượm đồ hộp Mỹ mà ăn. Xưởng chia đôi:
một nửa về suối Cái, Lò Than, Nhà Nai (Tân Uyên) do anh Ba Đạo chỉ huy,
một nửa vẫn ở suối Linh, Bà Hào (chiến khu Đ) do Bảy Huệ phụ trách.
Nhưng địch đánh phá ác liệt quá, nếu cứ trụ bám ở bờ Bắc Sông Bé thì sớm
muộn bộ phận của Bảy Huệ sẽ không còn ai, không phục vụ gì cho chiến
trường. Anh suy tính kỹ, hội ý vớI mấy đồng chí đảng viên, quyết định
chuyển phân xưởng qua bờ Nam Sông Bé, bám thắt lưng địch thì sống để còn
tìm cách sản xuất được vũ khí cho chiến sĩ ta đánh địch.
Tháng
8/1969, trước khi đưa anh em sang sông, anh biết rõ hầu hết đồng đội là
dân Tây Ninh không quen sông nước, chỉ cậu Chất ngườí miền Bắc khi được
hỏi, trả lời chắc nịch:
- Em
biết lộil
Đứng
trước dòng lũ Sông Bé cuồn cuộn, nhiều cây to nhỏ chảy phăng phăng, Chất
hoảng hồn khi bảo cậu ta dìu đồng đội qua sông (Chất không hiểu lộ.
nghĩa là bơi, tưởng chỉ qua khúc sông cạn, chân giẫm tới đáy mà đi).
Bảy Huệ bảo anh em chặt hai cây tre dài, kẹp nách mỗi đồng chí rồi dùng
dây thun cột chặt hai cánh tay (như kiểu người ta xóc cua), cằm kê lên
chiếc bòng nilông chứa quần áo và dụng cụ (làm phao). Kiểm tra lần cuối
thấy chắc chắn, anh nhảy xuống nước trước tiên, giong sợi dây dù dài mất
mét lôi cái xóc 11 người qua sông. Cặp bờ Nam an toàn, thật mừng hết
biết! Nhưng lại xảy chuyện "động trời": anh Mười Đệ , phó chủ
nhiệm hậu cẩn phân khu 5 lên suốI Linh kiểm tra, thấy thư Bảy Huệ để lại
địa điểm xưởng bị bỏ, đoán già đoán nơn: " Báy Huệ dẫn hơn chục anh em
trong đơn vị đi đầu hàng rồi!". Chuyện đầu hàng, chiêu hồi khi ấy không
hiếm, đến như Tám Hà trung tá phó chính ủy phân khu 1 còn ra chiêu hồi
nữa là ! Ít bữa sau, Bảy Huệ về bộ chỉ huy phân khu 5 gặp anh Mười, cái
tin chết người tự nhiên hóa giảí.
Phân
xưởng của Bảy Huệ đặt sát chốt Mỹ ở Cây Dừng (bờ Nam Sông Bé). Địa hình
nơi này trống lỏng vì bom pháo, chất độc khai quang. Đường đi nguy hiểm
chưa phải là bom pháo; trái cây khô hoặc cành cây khô rớt bất ngờ có thể
gây chết người. Hầm của xưởng phải đào âm dưới lùm cây tam lang, nóc
trồng cỏ Mỹ cho tiệp màu môi trường chung quanh. Bom pháo ì xèo suốt
ngày đêm nhưng cách xa hầm vài trăm mét. Giữ bí mật là vấn đề sống còn
ví các anh ở sát nách địch. Lính Mỹ không xăm xoi, tuần tiễu đến đây, có
lẽ chúng đánh giá đó là vùng đất không người. Anh em đói gạo, đói muối,
một số bữa ăn lá bướm. Móc với bộ phận xưởng ở Giác Lạc (do anh Ba Đạo
chỉ huy), được một ít gạo lức cũng đỡ. Gian khổ đến mức anh em thấy mạng
sống mỏng manh chỉ tính từng phút, từng giờ chứ không ai dám tính bằng
ngày. Anh Bảy Huệ thử tinh thần đồng đội bằng cách một lần nêu lên ý
kiến:
- Đói
quá thế này, ra chiêu hồi mới sống nổi!
Từ nơi
đứng chân, chỉ cần xuôi dòng Sông Bé vài bốn cây số thì tới bót Lạc An.
Hàng ngày, máy bay địch phát loa chiêu hồi, chiêu hàng ra rả với bao lờI
hứa hẹn vật chất hậu hĩnh khiến ai không vững vàng sẽ dễ dàng bỏ hàng
ngũ. Hai phần ba quân số của xưởng thấy người cầm đầu nêu ra ý đó , đồng
ý xen lẫn phân vân. Một phần ba kiên quyết nói: "Không!" Bấy giờ anh mới
nói rõ:
- Tôi
thử các đồng chí thôi.!
Ai định
trốn ra đầu hàng, anh em bắt lại, giao về cho phân khu đưa đi cải tạo.
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, phân xưởng B.8 của Bảy Huệ vẫn tìm mọI
cách sản xuất mìn ĐH, thủ pháo, lựu đạn. Các anh cắt vỏ thùng phuy cuốn
làm vỏ trái, rấc hàn the rồi đặt thanh thau (hàn) lên lò rèn cho thau
chảy ra để ghép mối, lượm thùng đại liên Mỹ làm vỏ mìn gạt chống tăng,
đào bom pháo lép lấy thuốc nổ nhồi trái.. . Có một thời gian ngắn, trái
làm ra không ai đến nhận. Phân khu chỉ đạo các anh gài trái đánh xe tăng,
xe bọc thép Mỹ ở đường Ba Sinh (Bình Mỹ). Nhóm ba người:
Huệ,
Thắm, Tạo diệt một xe M. 113; một nhóm khác diệt bốn xe...
Năm
1970, Mỹ bắt đầu rút quân, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến
tranh", lính Sài Gòn đánh nhau bằng tiền và vũ khí Mỹ, do Mỹ chỉ huy.
Địch tập trung lực lượng bình định vùng chúng đã bình định để đảm bảo an
toàn cho việc xuống thang. Chiến khu Đ ít bị càn quét và bom pháo hơn
trước. Xưởng B.8 lại về Vàm Mã Đà với nhiệm vụ chính: sản xuất mìn ạt
đánh xe tăng, xe bọc thép. . . Tháng 10/1970, Bảy Huệ dẫn đầu một nhóm
bốn người qua Campuchia lên quân giới Miền xin vật liệu. Chuyến đi ba
tháng đầy gian nan, mấy lần cận kề cái chết do bom pháo địch. Song điều
Bảy Huệ nhớ nhất là lời biểu dương của đại tá Lưu Dương trưởng phòng
quân giới Miền:
- Các
anh gan quá! Đứt tay mà không cần y tá băng bó. Các anh tự lực sản xuất
đánh địch rất dũng cảm.. .
Vì chỉ
có bốn người nên vật tư mang về chắng được là bao.
Tháng
10/197 l, đồng chí Hai Hồng Lâm ký quyết định đề bạt Bảy Huệ làm tiểu
đoàn phó, điều đi xây dựng xưởng OX. 1 của quân khu 7 (đặt ở bàu Năng vô).
Trang bị bây giờ tốt hơn trước, xưởng có nhiều máy chuyên dùng kể cả máy
phát điện, vật tư khá dồi dào, làm vũ khí DB.20 pháo kích sân bay hoặc
đánh đồn bót, ĐH. 10, thủ pháo, lựu đạn...
Từ giữa
tháng 3/1975, khi bộ đội chủ lực giảI phóng chi khu Định Quán rồi Dầu
Giây, toàn bộ cán bộ, chiến sĩ xưởng OX. l được lệnh tập trung ra QL.20
làm nhiệm vụ thu gom súng đạn, pháo và các trang thiết bị quân dụng của
địch...
11 giờ
30 ngảy 30/411975, mấy chiếc xe ca chở đơn vị về tới bùng binh trước ty
cảnh sát Biên Hòa. Quê hương Bảy Huệ hoàn toàn giải phóng , thay đổi
nhiều so lúc anh đi. Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Mừng này còn tưởng
mừng nào hơn!
Hòa
bình đã trở lại, đất nước thống nhất liền một dải. Những người chiến
thắng bây giờ mới có dịp xả hơi, bắt đầu nghĩ đến tương lai hạnh phúc
bản thân. Song anh Bảy Huệ còn công tác tại phòng hậu cần Quân khu 7,
phối hợp cùng hậu cần Miền bù đầu tổ chức thu gom ở khắp địa bàn Quân
khu 7 các khí tài, trang thiết bị quân sự cùng đủ loại vũ khí của địch –
cái chết tiềm ẩn trong đó - cất vào kho. Ai cũng tưởng đây là công việc
chẳng có gì đòi hỏi hy sinh dũng cảm.
Tháng
5/1976, một kho lớn chứa hàng chục ngàn trái M.79, mìn, lựu đạn... ở
trong kho Long Bình gặp sự cố bất ngờ. Một sợi dây điện cao thế chạy
ngang nóc kho bị đứt lơ lửng, đầu dây thỉnh thoảng quẹt vào mái tôn xòe
lửa. Anh em coi kho báo cáo gấp cho Bảy Huệ. Anh chạy xe Honda tới hiện
trường. Không còn ai ở đó, tất cả chạy xa kho. Thỉnh thoảng gió thổi,
đầu dây điện quẹt mái tôn lại xoèn xẹt tóe lửa. Anh suy nghĩ cách giải
quyết chỉ một giây, gọi Sơn, bảo kiếm một cây khô làm thang để leo lên
mái, cầm cành khô đó quèo đầu sợi dây cao thế văng ra mắc vào hàng rào
kẽm gai. Khi mối hiểm nguy không còn, anh mới lấy khăn tay lau sạch mồ
hôi đẫm trán.
Ít bữa
sau, anh đứng kiểm tra các chiến sĩ đồng đội trẻ măng vô tư hồn nhiên
bốc xếp cất mìn các loạI và lựu đạn ở một kho khác. Chợt anh phát hiện
trong một thùng mở nắp có trái lựu đạn mất chốt gài. Phản xạ nhanh như
chớp, anh vội chụp lấy, bóp chặt cần bật rồi kêu anh em kiếm cái chốt
gài lại cho an toàn. Khi mối hiểm nguy không còn, bấy giờ anh và các
đồng độI mới hoàn hồn, mồ hôi vã ướt đầm lưng áo. Nếu trái đó bị xê dịch
mà "lên tiếng” thì tiểu đội coi kho, trung độI bốc xếp và cả Bảy Huệ đều
tan xác cùng một dãy ô tô chờ đến lượt xuống "hàng".
Tháng
3/1977, ông Tư Lạc chỉ huy phó tỉnh đội Đồng Nai cho nhân dân bốc xếp
đạn pháo, đạn cối, mìn chiến lợi phẩm... vào một kho lớn ở Bình Đa. Anh
Bảy Huệ góp ý:
- Để bộ
đội làm cho bảo đảm, lỡ địch gài trái thì chết!...
Ý kiến
trên bị bỏ qua, kết quả kho bị nổ, hơn một tiểu đội quân dân du kích hy
sinh, một số ô tô bị phá hủy. Đạn và miểng văng tung tóe khắp một khu
vực có bán kính gần cây số, tiếng nổ làm rung chuyển cả thành phố Biên
Hòa. Nhìn kho cuồn cuộn khói lửa, Bảy Huệ chạy xe Honda tới nhưng chỉ
bất lực đứng nhìn.
Anh phụ
trách thu gom mìn nhảy của Mỹ (khi giẫm trúng, trái nhảy cao ngang tầm
ngực mới nổ, gây sát thương chắc chắn), cho gỡ ngòi nổ. Đồng chí Hai Đấu
(Huỳnh Ngọc Đấu) phụ trách cục tác chiến Miền ra lệnh hủy hết. Anh nghĩ
"tiếc của", ta muốn có số mìn như thế phải tốn bao nhiêu tiền của, công
sức, vật tư (gang đúc, thuốc nổ. ..) nên cho giấu bớt 1.500 trái. Khi
xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, lính Pol Pot đánh Tây Ninh, Sông
Bé, anh đem số mìn nhảy này tặng anh Ba Sang - phục trách quân giới tỉnh
Sông Bé lúc đó - mang gài dọc biên giới. Diệt được một số lính Khmer đỏ
xâm nhập.
Bảy Huệ
được chuyển từ phòng hậu cần Quân khu 7 về phòng hậu cần tỉnh Đồng Nai.
Vào dịp gần cuối năm 1977, .một nhóm cán bộ chính trị Quân khu và mấy
đồng chí cán bộ Bộ quốc phòng lên đây, tranh thủ hỏi chuyện khoảng hai
tháng trời về những việc anh đã làm. Anh xuất thân nông dân, trình độ
văn hóa thấp, có sao kể vậy. Các anh ghi ghi chép chép, thẩm tra kĩ và
viết giúp anh bản thành tích "Chắc cấp trên định công nhận mình là chiến
sĩ thi đua đây!.” Anh nghĩ: những đóng góp của bản thân cho cách mạng đã
thấm vào đâu so với nhiều đồng chí khác trong đơn vị C.10, B.8, OX. 1
chớ đừng nói so sánh vớI cả ngành quân giới, nhiều anh là bậc thầy mình,
họ có những cống híến xuất sắc cho ngành, cho chiến trường...
Tháng 11/1978, anh thực sự bất ngờ khi được Quốc HộI và Nhà nước tuyên
dương là ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.