Giới thiệu      |      Các anh hùng      |      Trang đầu

 

(ANH HÙNG NGUYỄN TRỌNG TÂM)

Anh hùng Nguyễn Trọng Tâm sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trọng Tâm là Trưởng ban binh vận thành phố Nam Định. Năm 1954, đồng chí được điều vào Nam hoạt động hợp pháp, làm công tác binh vận. Tháng 10 năm 1955, Nguyễn Trọng Tâm bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, nhưng Nguyễn Trọng Tâm vẫn giữ vững ý chí tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ nghỉ hưu.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trọng Tâm là Trưởng ban binh vận thành phố Nam Định. Năm 1954, đồng chí được điều vào Nam hoạt động hợp pháp, làm công tác binh vận. Tháng 10 năm 1955, Nguyễn Trọng Tâm bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, nhưng Nguyễn Trọng Tâm vẫn giữ vững ý chí cách mạng. Trong tù, đồng chí đã móc nối với bên ngoài để hoạt động, đã tổ chức, chỉ huy anh em cướp súng, phá nhà tù Tân Hiệp – Biên Hòa giành thắng lợi, giải thoát được gần 500 cán bộ ta bị địch bắt. Nguyễn Trọng Tâm đã góp phần xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của miền Đông Nam Bộ. Đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, diệt được nhiều địch, thu nhiều vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng. Trận đánh đầu tiên của đơn vị tiêu diệt chi khu Hiếu Lâm đã diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, thu gần 100 súng, trên 20 máy bộ đàm và hơn 10 tấn đạn. Đồng chí còn xây dựng cơ sở đầu tiên cho phong trào binh vận miền Đông Nam Bộ và chỉ đạo thí điểm thành công phá ấp chiến lược bằng 3 mũi giáp công. Công tác binh vận đã phục vụ cho việc xây dựng cơ sở ém lực lượng vũ trang xuống vùng sâu hoạt động sau tết Mậu Thân (1968). Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Trọng Tâm là Ủy viên kinh tài phụ trách thương nghiệp khu miền Đông.

Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Trọng Tâm được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

MUỘN MẰN HẠNH PHÚC

ANH HOÀNG

Đầu năm 1960, lúc tôi khoác ba lô từ Sư đoàn 338 về nhận nhiệm vụ mới ở Cục Dân – Địch vận (trong kháng chiến chống Mỹ đổi tên là Cục Nghiên cứu, nay là Cục Dân vận – Tuyên truyền đặc biệt) thì Nguyễn Trọng Tâm được “đánh đi” từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đã có mặt ở Nam Bộ hơn năm năm. Thời gian ấy, là khúc dạo đầu của đời chiến đấu ròng rã 21 năm của anh cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Phải, chỉ năm năm thôi, Bảy Tâm đã trải qua nhiều cảnh ngộ khá điển hình. Mỗi cảnh ngộ gắn liền với một sự kiện lịch sử mà anh là người trong cuộc, là nhân chứng sống.

Một năm hoạt động hợp pháp công khai trên địa bàn Biên Hòa – Bà Rịa với tư cách phái viên Ban Binh vận Xứ ủy Nam Bộ, anh là một trong những người đầu tiên dưới áo khoác cán bộ Mặt trận Liên Việt của tỉnh Biên Hòa, tiếp cận với ban tham mưu Bình Xuyên và Bảy Viễn, dẫn tới kết quả lực lượng Bình Xuyên tan rã, kéo được tiểu đoàn 3 của Bảy Môn ly khai Diệm ra rừng.

Bị địch bắt ngay tại nhà cơ sở, nhà má Tạ Thị Lộc ở hẻm cây Me thị xã Biên Hòa sau vụ phá rã Bình Xuyên, lần ấy vì bị sốt rét phải nằm lại hơi lâu dưới Bà Rịa mới trở về, Bảy Tâm vẫn đủ tỉnh táo trả lời những câu thẩm vấn của chúng. Địch lục soát nhà. Điều không may cho anh là cô con gái gia đình cơ sở có cất giấu một số bài hát kháng chiến mà anh không hề biết. Chúng mừng như bắt được vàng bèn cao giọng hỏi những thứ ấy của ai, ở đâu ra? Một ý nghĩ thoáng đến thật nhanh với Bảy Tâm. Để giữ an toàn cho cơ sở, anh nhận những tang vật ấy là của mình. “Những bài hát in sẵn của Văn Cao, của Lưu Hữu Phước thời ấy thiếu gì, thiên hạ thích hát và hay hát...” Địch đưa anh về cục nghiên cứu chính trị (P42), đưa tiếp sang bót Catinat. Sau những trận đòn thù tàn khốc, bầm tím thân thể, dập một quả thận mà mãi mấy chục năm sau nhờ siêu âm Bảy Tâm mới biết, địch vẫn không moi thêm được gì ở anh. Ở Ty cảnh sát đặc biệt miền Đông (PSE = Police spécial de l’Est), chúng thúc thủ vẫn không đủ chứng cứ kết tội anh. Chúng chỉ tình nghi Nguyễn Duy Đán với giấy chứng nhận của tổng ủy di cư cấp có thể liên quan đến những người kháng chiến cũ. Chúng tống ngược anh lên trung tâm huấn chính Biên Hòa. Một năm sau, nổ ra vụ phá nhà lao Tân Hiệp. Với vai trò bí thư Đảng ủy nhà tù, kế hoạch cướp súng giải thoát cho gần 500 đồng chí cùng bị giam cầm với anh đã thành công. Sau này, vào tháng 4 năm 1958, lúc đã trở ra rừng, một cuộc họp tại căn cứ Long Nguyên giữa các đồng chí Thường vụ Đảng ủy nhà tù gồm các anh Võ Văn Thuấn, Nguyễn Văn Thậm và Bảy Tâm với các đồng chí Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Chí và Phan Đức, Xứ ủy viên (tên thân mật gọi là Tám Cao, Sáu Ép, Tư Cần) đã đi tới kết luận: Đó là tiếng súng tiến công đầu tiên của ta báo hiệu chính sách tố Cộng, diệt Cộng của Diệm nhất định sẽ phá sản. Việc làm của các anh không những đúng lúc mà còn có ý nghĩa lớn, gây nên một tiếng vang chính trị mạnh mẽ. Điều đáng quý nữa là, từ sự kiện này, cách mạng có thêm súng, thêm cán bộ. Ta có thêm điều kiện để xây dựng các đơn vị vũ trang tự vệ ban đầu.

Trở ra rừng, Bảy Tâm làm trợ lý chính trị cho đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến, Trưởng ban quân sự Miền một thời gian, rồi anh trở thành một trong những cán bộ đầu tiên của các đại đội đầu tiên có mặt trong trận Tua Hai, trận tập kích quy mô lớn đầu tiên của ta vào một cứ điểm trung đoàn quân ngụy Sài Gòn. Cái đại đội 59 mà Bảy Tâm làm chính trị viên trở thành mũi chính trong hướng tấn công chủ yếu của trận đánh. Đó là đêm 25 rạng 26 tháng 1 năm 1960, chỉ còn hai ngày nữa là Tết, là bước sang năm Canh Tý.

Trận đánh Tua Hai ngày ấy không được tuyên truyền ồn ào. Đài tiếng nói Việt Nam chỉ đưa tin mà không bình luận. Buổi phát thanh chuyên mục dành cho sĩ quan, binh lính thuộc ngụy quyền Sài Gòn lại nhấn mạnh đến việc hàng trăm binh lính của trung đoàn 32 xé rào, bỏ trại về nhà ăn Tết trước lúc xảy ra trận đánh. Và khi ta tiến công, nhiều binh sĩ đã không chống cự, bỏ chạy tháo thân. 500 binh sĩ bị bắt tại trận, được thức tỉnh rồi tha tại chỗ. Để che giấu lực lượng ta, Đài còn nói rằng đây là lực lượng giáo phái Cao Đài và Bình Xuyên chống Diệm.

Mãi 40 năm sau, vào cuối năm 1999, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và Tỉnh ủy Tây Ninh mới có điều kiện hội thảo khoa học tổng kết trận đánh Tua Hai. Ý nghĩa thắng lợi của trận tập kích Tua Hai vượt khỏi phạm vi của một trận đánh thông thường. Nó thực sự là phát pháo lệnh mở đầu cao trào vũ trang đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ và toàn miền Nam.

Tất cả những gì về Bảy Tâm phải 18 năm sau khi về Cục tôi mới biết. Bấy giờ là năm 1978, đất nước sạch bóng quân thù đã ba năm. Bảy Tâm lúc ấy đang là Trưởng ty Thương nghiệp tỉnh Đồng Nai. Vào năm này, Nhà nước ta chủ trương phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho những ai lập công đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chọn được ba gương mặt tiêu biểu cho ngành binh địch vận.

Trong vòng bốn năm sau hiệp định Giơ-ne-vơ từ 1954 – 1957, Tổng cục đã lần lượt cử vào Nam hơn 40 cán bộ. Một phần ba số này nay là liệt sĩ. Số còn sống hầu hết đều trải qua bị địch bắt bớ, giam cầm, tù đày. Ba gương mặt được lựa chọn mỗi người mỗi vẻ.

Liệt sĩ Trần Bá, quê Quy Phước – Bình Định, Tỉnh ủy viên trước khi vào bộ đội, người cán bộ đầu tiên được phái đi với cương vị Phó ban Binh vận Xứ ủy Nam Bộ. Anh bị địch bắt năm 1958 và hy sinh trong tù sau năm năm bị giam cầm.

Thiếu tá Hoàng Thị Nghị, người con gái Đồ Sơn, chuyên trách công tác mật giao, giữ chặt các mối nội tuyến được phân công, hai lần bị địch bắt và đày ra Côn Đảo, nêu cao khí tiết một cán bộ hoạt động công khai hợp pháp kiên trung bất khuất, bảo vệ an toàn cơ sở đã không chút ngại ngần hy sinh một thời xuân sắc của mình.

Và anh, trung tá Nguyễn Trọng Tâm. Sau trận Tua Hai, do yêu cầu của tình hình, anh còn đảm nhiệm hoạt động vũ trang thêm hai năm nữa mới được đồng chí Tám Cao kéo trả về ngành binh vận. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, Bảy Tâm lại góp phần đáng kể vào hai việc lớn. Việc thứ nhất, đưa đại đội 200 của anh lên đón được một mũi của đoàn B90 – đoàn cán bộ hồi kết đầu tiên của Nam Bộ – từ Quảng Đức xuống, tại khu vực Nam Cát Tiên ngày nay, nối liền đường mòn từ Bắc vào Đông Nam Bộ. Xong nhiệm vụ đột xuất ấy, Bảy Tâm về làm chính trị viên Tiểu đoàn 500, sau đổi là Tiểu đoàn 800 mang tên hiệu Tiểu đoàn Đồng Nai, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của miền Đông Nam Bộ. Ngay trận ra quân đầu tiên, tiểu đoàn đã lập công xuất sắc: tiêu diệt chi khu Hiếu Liêm, thu một số lượng lớn vũ khí, đạn dược.

Từ cuối năm 1961, công tác binh vận được Trung ương Cục miền Nam xác định là công tác chiến lược, là mũi tiến công không thể thiếu trong ba mũi giáp công. Đồng chí Trần Lương, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được tăng cường vào Thường vụ Trung ương Cục với tên Trần Nam Trung (Hai Hậu), vừa là Bộ trưởng Quốc phòng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đồng thời đảm nhận chức vụ Trưởng Ban binh vận Miền. Tại hội nghị binh vận Khu miền Đông lần đầu tiên, Bảy Tâm gặp lại thủ trưởng cũ của mình. Mới đó, thấm thoát đã bảy năm. Ngày ấy, đích thân đồng chí Trần Lương và đồng chí Vũ Oanh, thủ trưởng Cục địch vận đã giao nhiệm vụ kết ngược vào Nam cho anh. Đúng là quả đất tròn! Thầy trò gặp lại nhau mừng không kể xiết.

Cho đến kết thúc chiến tranh chống Mỹ, Bảy Tâm dù qua nhiều cương vị công tác đã trở thành cán bộ chuyên sâu của ngành binh vận.

Là người xây dựng kế hoạch chống phá ấp chiến lược Bến Tượng, ấp chiến lược thí điểm của Diệm tại Đông Nam Bộ, sau khi được Khu ủy thông qua, với cương vị đội trưởng đội công tác, một lần nữa thống nhất việc triển khai kế hoạch với Sáu Trung, Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, anh lao ngay xuống cơ sở.

Bảy Tâm đã có những đóng góp nhất định trong bước đi ban đầu của kế hoạch. Lực lượng của cơ sở là chính. Cái gốc là dân vận. Gia đình binh sĩ đấu tranh hợp pháp không để dồn dân. Khi dân bị dồn, gia đình binh sĩ giáo dục con em nới lỏng kềm kẹp. Cơ sở nội tuyến trong dân vệ và thanh niên chiến đấu hỗ trợ và phối hợp phá banh.

Từ làm lỏng đến phá banh, phá rã, lực lượng bên trong là cơ bản. Quá trình chống phá ấp chiến lược thí điểm Bến Tượng mang lại nhiều kinh nghiệm quý khi nó bị phá rã hoàn toàn. Bấy giờ, ấp chiến lược là quốc sách của Diệm. Gom dân hòng tát nước bắt cá nhằm cô lập lực lượng vũ trang ta không bám được vào dân để chúng thực hiện ý đồ tiêu diệt Việt cộng. Ấp chiến lược Bến Tượng bị nhân dân Nam Bến Cát xóa sổ đã mở đầu cho một phong trào phá ấp chiến lược kéo dài cho đến tận những năm sau khi Dương Văn Minh đảo chính lật Diệm xong, Minh phải ngao ngán tuyên bố từ bỏ quốc sách ấp chiến lược.

Khi tham gia Tỉnh ủy Thủ Dầu Một cũng như sau này được tăng cường vào Phân khu ủy 5, Phân khu ủy Thủ Biên chuyên trách binh vận, Bảy Tâm luôn có mặt ở tiền phương, ở các địa bàn trọng điểm, ở các vùng xung yếu. Tác phong tỉ mỉ, thận trọng trong chỉ đạo và sâu sát cơ sở giúp Bảy Tâm ngày càng già dặn, vững vàng. Đồn Bến Thế do anh chỉ đạo ba lần bị diệt bằng nội ứng. Cứ điểm Tân An Xã và Phú Chánh do một đại đội bảo an đóng giữ bị tan tành vì nội công ngoại kích. Trong những chiến công này đều có một phần đóng góp công sức, trí tuệ của Bảy Tâm.

Vào cuối những năm chiến tranh, Bảy Tâm được rút về cơ quan Khu ủy miền Đông mới tái lập. Từ Phó văn phòng phụ trách quản trị, Bảy Tâm được điều sang Ban kinh tài lo công tác thương nghiệp. Anh đã vận dụng những bài học trong công tác binh vận, mạnh dạn tổ chức và sử dụng lực lượng gia đình binh sĩ nhằm giải quyết một khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ là thiếu gạo, thiếu hàng hóa tiêu dùng. Gạo được chuyên chở từ Km 125 trên quốc lộ 20 từ đường Tà Lài vào đến tận cửa khẩu. Cơ sở nội tuyến bảo đảm cho việc chuyên chở an toàn, có chuyện bất trắc thì nổ súng báo động theo mật lệnh. Những chuyến xe chở gạo, chở hàng hóa trong suốt một thời gian dài không hề gặp trục trặc. Có lẽ thành tích xuất sắc này là tiền đề để Bảy Tâm được phân công đảm nhiệm chức Trưởng ty Thương nghiệp Đồng Nai sau ngày miền Nam giải phóng?

Trong ba gương mặt tiêu biểu của ngành binh địch vận, Nguyễn Trọng Tâm xứng đáng được phong danh hiệu Anh hùng. Trước khi đề xuất với Tổng cục, đại tá Lê Diễn, Cục phó Cục Nghiên cứu vốn là một người chặt chẽ về nguyên tắc đã đích thân vào gặp Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai để trao đổi ý kiến, lấy thêm đánh giá nhận xét về Bảy Tâm và đã được Tỉnh ủy nhất trí hoàn toàn. Thế nhưng không hiểu sao một đảo lộn nghiêm trọng xảy ra. Tháng 10 năm 1978, Bảy Tâm đột ngột bị Mười Vân, giám đốc Công an tỉnh bắt tống giam.

Cùng đợt bắt ấy không chỉ có Bảy Tâm. Một số đồng chí như Ba Lan, Năm Trang (1) trong Tỉnh ủy cũng không thoát khỏi số phận trớ trêu này. Và còn nhiều cán bộ đảng viên khác nữa, như Tám Bửng, Chín Ngọc, Tư Minh, Năm Trường Sa...

Tổng cục Chính trị được tin hết sức ngỡ ngàng, không thể bỏ qua việc này. Cử người đi nắm tình hình thấy nguy cơ bắt bớ còn lan sang cả bên tỉnh bạn. Đằng sau vụ việc động trời này ẩn chứa cái gì?

Vụ án Mười Vân phải năm năm sau mới kết thúc. Đó là một vụ án tồi tệ mà các ngành chức năng ở Trung ương phải tốn nhiều công phu mới làm rõ. Tối mắt vì vàng, mê mẩn vì gái, bùi tai vì những lời tâng bốc phỉnh nịnh, Mười Vân là điển hình biến chất, sa đọa của một cán bộ địa phương đã lấn lướt quyền hành, nhẫn tâm trở giáo đâm thẳng vào lưng những đồng chí, đồng đội một thời của y, làm rối tung thêm tình hình kinh tế khủng hoảng đang rất khó khăn lúc bấy giờ của đất nước, gây xao xuyến lòng tin không nhỏ của nhân dân đối với cách mạng, đối với Đảng. Mười Vân cuối cùng đã phải đền tội chết.

Do sự can thiệp tích cực của Ban nội chính Trung ương, ngày 2 tháng 12 năm 1980, Bảy Tâm mới được tạm tha. Hơn hai năm bị giam cầm ở B6 (khám Biên Hòa cũ), anh đã trải qua những năm tháng cay đắng nhất trong đời.

Thời gian anh bị tạm giam không có ai để hỏi, để nói ra cho nhẹ bớt. Trong tù, đáng sợ nhất là nỗi cô đơn, sự trống vắng. Và mỏi mòn tinh thần rồi gục ngã. Hoặc không làm chủ được mình, có thể đập đầu vào tường mà chết cho rảnh nợ. Nhưng không, anh không thể dại dột, không thể để cho những ý nghĩ đen tối ấy đè bẹp mình. Anh tin rồi chân lý sẽ sáng tỏ. Người ngay chẳng có gì để sợ cả. Cây ngay không thể nào chết đứng.

35 tuổi anh mới lập gia đình. Đó là thời điểm anh về Mỹ Phước, Nam Bến Cát để triển khai kế hoạch chống phá ấp chiến lược Bến Tượng. Anh về tại nhà cơ sở, má vợ anh sau này. Bà có cô con gái thua anh tới 14 tuổi, bấy giờ là cán sự phụ nữ xã. Anh em trong đội công tác cặp đôi anh với cô. Các đồng chí ở địa phương cũng vun vào ủng hộ. Nhưng phải đến chuyến đồng chí Tám Cao có dịp đi công tác ngang qua, đồng chí đã nói thẳng với bà má: “Nhờ má lo cho thằng Bảy giùm, 35 tuổi rồi mà nó chưa vợ con gì ráo”, sau đó việc ấy mới thành.

Lấy anh, Hồng Điệp ít được hưởng hạnh phúc, vẫn xa anh đằng đẵng, vẫn bám trụ, cũng có lúc bị địch bắt bớ, giam cầm, đánh đập, phải điều lắng đi nơi khác, vì thế hoạt động hợp pháp không còn. Hai con trai anh cách nhau 10 tuổi. Và lúc này đây, khi anh đang trong hầm tối, vợ anh lại bụng mang dạ chửa, mấy mẹ con cô ấy xoay trở thế nào? Một nỗi xót xa mà anh không thể làm gì hơn được càng khiến anh phải vươn lên để sống...

17 tháng sau khi bị bắt giam, Bảy Tâm mới được gặp vợ và con gái út còn đang phải bồng ẵm vào thăm. Rồi sau đó mỗi tháng một lần, anh chỉ biết khuyên vợ cố chịu đựng. Vì tin chắc anh không có tội gì thì sớm muộn thế nào cũng được thả.

Một tuần trước khi được tạm tha, Bảy Tâm từ B6 chuyển về nhà lao Tân Hiệp, không phải cầm cố nữa.

Bảy Tâm được xe Tỉnh ủy vào rước ra do Chín Nam, Tỉnh ủy viên đến đón, thế nào lại trùng khớp đúng ngày 2 tháng 12 của 24 năm trước, lần phá nhà lao Tân Hiệp, một sự ngẫu nhiên càng khiến Bảy Tâm khó mà quên...

Được tạm tha, nhưng phải chờ sau khi vụ án Mười Vân xét xử xong. Mãi đến năm 1983, Bảy Tâm mới được xóa án hoàn toàn và mới được giao công tác trở lại. Thêm bảy năm xây dựng Công ty Công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu, Bảy Tâm lại một lần nữa chứng tỏ tài năng của anh trong lĩnh vực hoạt động kinh tế. Một cơ ngơi mới mẻ dần dần hình thành với nhà máy thuốc lá, nhà máy rượu và bia, với việc xuất khẩu hàng trăm tấn cà phê và hạt điều hàng năm, có năm nộp ngân sách hàng chục tỷ đồng.

Tổng cục Chính trị vẫn không quên Bảy Tâm. Vào lúc anh gần nghỉ hưu, đại tá Hoàng Bích, Cục phó Cục Dân vận – Tuyên truyền đặc biệt và một số bạn bè cũ của anh từ thời Cục Địch vận (chống Pháp) cùng vào thăm anh, mừng cho anh vẫn tỏ rõ bản lĩnh và phẩm chất, phong cách một cán bộ quân đội, đề nghị anh bổ sung hồ sơ thành tích từ năm 1975 trở đi để yêu cầu Nhà nước một lần nữa xét phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho anh.

Cũng như lần trước, Tổng cục Chính trị lại cử cán bộ vào Đồng Nai để thống nhất ý kiến đề xuất. Tuy nhiên, phải đến năm năm sau khi nghỉ hưu, năm 1995, Nguyễn Trọng Tâm mới được nhận danh hiệu vẻ vang này. Năm ấy, anh đã 68 tuổi.

Nghỉ hưu, Bảy Tâm có điều kiện chăm lo, phụ giúp với vợ làm kinh tế gia đình, nuôi các con anh lần lượt học hết đại học, lần lượt ra làm việc. Có thì giờ rảnh rỗi, anh tham gia hoạt động xã hội. Cùng đồng đội cũ về Bù Cháp – Lý Lịch thăm lại đồng bào dân tộc gặp Điểu Nổi (Năm Nổi) nay đã thành già làng và ôn lại chuyện cũ. Cái đại đội 59 ngày ấy đã được đồng bào giúp đỡ thế nào. Đi xuống Nhơn Trạch, Long Thành, đến các gia đình cơ sở như gia đình Năm Y, gia đình Mười Ánh Tuyết ở Phú Hội và Phước Thọ. Lại cùng Hai Thông ngồi ghe sang tận Phú Hữu và Phước Khánh. Có điều kiện, anh tổ chức anh em đại đội 200 cũ đi thăm lại nơi ngày xưa đón Tư Lạc, Ba Cung của đoàn B90. Và qua những buổi họp mặt tù chính trị, Bảy Tâm tìm được Năm Kúc, bí thư chi bộ nội tuyến ở Tua Hai. Anh dắt Năm Kúc lên tận Tây Ninh, được Tỉnh ủy Tây Ninh giúp Năm Kúc một khoản tiền để Năm Kúc chuyển gia đình từ Bình Định vào Đồng Nai sinh sống. Nhiều lần lên Sông Bé (1), anh mới lo xong việc chuyển hài cốt cho Tư Khiết, tù chính trị Côn Đảo trở về được bổ sung vào Ban Binh vận Tỉnh ủy, hy sinh ở Phú Chánh. Một bà mẹ cùng dân làng đấu tranh với địch được đưa xác anh về chôn cất ở nghĩa trang gần nhà, cạnh mộ con trai bà. Gia đình Tư Khiết lại ở tận ngoài Phan Thiết. Bảy Tâm liên lạc cả với hai đầu. Từ năm 1977, gia đình Tư Khiết đã biết tin, vậy mà phải đến 16 năm sau, việc chuyển hài cốt Tư Khiết mới xong. Mỗi lần lên Sông Bé, Bảy Tâm cảm thấy nhẹ lòng hơn khi gặp lại cha và chị của Nguyễn Thế Ca. Không ai khác, chính anh là người chủ động đề xuất với địa phương cấp ngôi nhà tình nghĩa đầu tiên ở thị trấn Phước Vĩnh cho cha của hai liệt sĩ, trong đó có Nguyễn Thế Ca, chiến sĩ bảo vệ của binh vận Phân khu 5.

Đến dự tang lễ má Tư Lộc, anh bồi hồi nhớ về những kỷ niệm lúc chân ướt chân ráo anh đến vùng đất lạ thành phố Biên Hòa này. Theo đường dây từ Sài Gòn, chị Khánh Phương, vợ Ngô Bá Cao (1), ôm con đưa anh lên tận bến đò Võ Sa để anh qua cù lao Mỹ Quới gặp Thường vụ Tỉnh ủy Biên Hòa hồi đó. Chị Tư Trừ, sau là vợ anh Bảy Khánh, đưa anh đến gặp anh Bảy (Võ Văn Khánh) nguyên bí thư Tỉnh ủy Bà Chợ hồi chống Pháp, Phó bí thư Liên tỉnh ủy miền Đông nằm tại Hóa An. Cũng vẫn chị Tư Trừ đưa anh đến gặp Hoàng Tam Kỳ, Bí thư thị xã Biên Hòa, để Hoàng Tam Kỳ giới thiệu anh về nhà má Tư Lộc. Bà nhận anh là cháu, gọi anh là anh giáo. Anh kêu bà bằng thím. Lần anh bị Diệm bắt tại nhà, má Tư Lộc cũng bị bắt. Tại bót Catinat, anh đã tìm cách báo cho bà biết rằng anh không khai gì có hại đến bà. Hai tháng sau, bà được thả. Và khi anh về nhà lao Tân Hiệp, bà vẫn đến thăm nuôi, tiếp tục là cơ sở của anh với bên ngoài cho đến khi phá khám.

Những người quen biết cũ rất nhiều, kẻ còn người mất, Bảy Tâm hầu như nhớ không sót một ai. Nhân nhắc đến vụ phá nhà lao Tân Hiệp, anh nói về Lý Văn Sâm. Lần đầu tiên, Bảy Tâm gặp Lý Văn Sâm (1) tại bót Catinat. Nhìn dáng người gầy gò của Lý Văn Sâm thương quá, Bảy Tâm lấy que vạch xuống đất động viên Lý Văn Sâm: “V.C (Việt Cộng) thà chết không khai”. Anh và Lý Văn Sâm cùng chuyển lên Tân Hiệp một lượt. Ở đây anh biết thêm Dương Tử Giang (2) bạn rất thân của Lý Văn Sâm. Cả hai được Đảng ủy nhà tù giao cho việc tuyên truyền lính gác trại. Dương Tử Giang rất năng nổ, nhiều sáng kiến. Không may, khi vượt ngục Dương Tử Giang bị địch bắn đuổi theo và hy sinh tại cổng trại. Mỗi lần về thăm nhà lao Tân Hiệp nhân kỷ niệm ngày phá khám, Bảy Tâm nhớ lại đến Dương Tử Giang, nhớ đến cặp bài trùng Dương Tử Giang – Lý Văn Sâm.

Sau khi được phong anh hùng, nhiều tờ báo, tạp chí ở Trung ương và khu vực viết về Nguyễn Trọng Tâm. Có thể do khuôn khổ bài báo, cũng có thể do kỹ năng người cầm bút, những việc mà các bài báo nêu lên là đúng, là có thật song cách thể hiện dễ gây ngộ nhận cho người đọc. Theo anh, đối với những sự kiện lịch sử tiêu biểu của từng thời kỳ, công lao nào cũng là công lao tập thể. Ví như việc làm tan rã lực lượng Bình Xuyên. Công đầu làm tan rã ba tiểu đoàn Bình Xuyên phải thuộc về nhân dân Rừng Sác, chủ yếu là nhân dân Phước Khánh. Hay như việc kéo tiểu đoàn 3 của Bảy Môn ra với ta, tuy Bảy Tâm có bàn bạc từ trước với Ba Trưởng, cố vấn chính trị của tiểu đoàn, chức danh này do Bảy Tâm đề xuất với Ban tham mưu Bình Xuyên và được Bảy Viễn chấp nhận, thì công lớn vẫn thuộc Ba Trưởng. Bảy Môn tin cậy Ba Trưởng biết anh có vợ ở Phước Long (Long Thành, nay là Nhơn Trạch) từng là cán bộ phong trào Việt Minh. Những ý kiến giảng giải về thời thế của Ba Trưởng đã thuyết phục Bảy Môn. Chính Ba Trưởng là người đề xướng dẫn tiểu đoàn 3 Bình Xuyên thoát vây ra sở cao su Ống Quế. Rồi bắn tin cho Bảy Tâm biết để liên lạc với binh vận Bà Rịa, với Tỉnh ủy Bà Rịa đưa tiểu đoàn này về rừng Giồng, Xuyên Mộc. Bảy Tâm đã kịp thời báo cáo việc này với các anh Hoàng Đạo, Phó ban binh vận Xứ ủy và Bảy Khánh, phụ trách binh vận của liên Tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ. Sau đó, theo quyết định của liên Tỉnh ủy, anh Ba Thuận (Phạm Thuận) Phó bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa đã đưa người xuống đón Bảy Môn và tiểu đoàn 3 Bình Xuyên trở lại chiến khu Đ. Ba Trưởng đã hy sinh trong chống Mỹ. Vợ anh được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Nhớ lại những tháng ngày đi về Long Thành làm công tác vận động lực lượng Bình Xuyên, Bảy Tâm kể:

– Đồng chí Thái, hiện đang sống ở Vĩnh Cửu, là người đưa mình xuống gặp Sáu Phô (Sáu Khánh), Bí thư huyện ủy Long Thành thời đó tại gia đình Năm Y. Lúc ấy, Năm Y đang còn dạy học ở Phước An. Kế hoạch xâm nhập Bình Xuyên được bàn bạc kỹ, Hai Thông chở ghe tụi này đến Phước Khánh... Sau nhiều lần tiếp xúc với ban tham mưu Bình Xuyên, cấp trên chỉ thị cho mình phải dấn thêm bước nữa, phải gặp cho được Bảy Viễn. Mình đã gặp và nắm được tâm trạng Bảy Viễn. Ông ta chửi Diệm là thằng chó đẻ ngay trong lúc trò chuyện với mình. Diệm đã tróc Bảy Viễn ra khỏi địa bàn Chợ Lớn phải chạy về Rừng Sác từ tháng 4 năm 1955. Bây giờ Diệm lại đang toan tính vây quét và tấn công tiêu diệt lực lượng Bình Xuyên. Bảy Viễn không thể như Trịnh Minh Thế (Cao Đài) về đầu hàng Diệm. Ông ta cũng hiểu là Pháp đang muốn bỏ rơi mình. Bảy Viễn căn dặn đại tá Tư Nhỏ, tham mưu trưởng Bình Xuyên, phải giấu kín việc ông ta gặp mình, chớ cho đám Lại Văn Sang, Lại Hữu Tài, Hồ Hữu Tường ở các ca nô neo đậu gần đó biết. Ông ta bối rối thú nhận chưa biết sẽ phải quyết định thế nào. Bảy Viễn đề nghị gặp cấp trên có thẩm quyền của mình rồi khi ấy mới lựa chọn. Chính vì yêu cầu này của Bảy Viễn mà các anh Hoàng Đạo, Bảy Khánh mới cùng với mình vào gặp ông ta. Mình không dự cuộc họp này mà phải lo tổ chức đảm bảo an toàn cho các anh ấy trở ra. Lúc này, Diệm đã triển khai chiến dịch Hoàng Diệu vây quét ở vòng ngoài. Sau lần ấy, Bảy Viễn tự tìm đường cứu lấy mình thoát lên Nam Vang. Ông ta có duy trì liên lạc với ta, gửi gắm Võ Văn Môn cho Mặt trận. Bảy Môn sau đã trở thành ủy viên ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khi Mặt trận ra đời.

Tôi nghĩ Bảy Tâm là một con người khiêm nhường khi cho rằng trong vụ Bình Xuyên anh chỉ làm nhiệm vụ của một sĩ quan liên lạc, chuyên làm công tác mật giao thôi. Anh không thích vơ vào, ôm tất cả công lao thành tích về mình.

– Với những thông tin không đầy đủ và không rõ ràng về các sự kiện lịch sử – Bảy Tâm nói tiếp – người đọc bây giờ dễ cảm nhận sai lạc, dẫn đến hiểu lầm. Việc xảy ra lại lâu quá rồi, chỉ người trong cuộc mới biết rõ, mình làm được những gì, như thế nào. Mà cũng có người quên, người nhớ, thậm chí nhớ lẫn lộn, lung tung. Lịch sử muốn được tái hiện chân thực đòi hỏi phải công phu lắm, nghiêm túc lắm. Lịch sử là khách quan, như nó đã diễn ra, song phải có cái nhìn khoa học mới thấy hết được nó, mới thấy đúng về nó. Như trận Tua Hai đó, sau 40 năm mới có điều kiện tổng kết vẫn còn có những đánh giá về chi tiết cụ thể rất khác nhau. Điều đáng mừng là về ý nghĩa lịch sử của nó thì mọi người đều mở rộng tầm nhìn hơn và đã nhìn nhận nó đúng như nó có. Nó không phải là một trận đánh thông thường, mà là phát pháo lệnh chính thức của Xứ ủy mở đầu cho cao trào vũ trang Đồng khởi lúc bấy giờ của toàn Miền.

Trò chuyện với Bảy Tâm nhiều lần, tôi càng hiểu anh, gọi đùa anh là trí thức bình dân cách mạng. Cái quý của anh là sự coi trọng tình người. Anh nhìn đời, nhìn người bằng một cái nhìn vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, vừa đằm thắm. Có lẽ do môi trường hoạt động binh vận dài ngày, cái mặt trận thầm lặng đánh vào lòng người, khiến anh vốn dĩ trung hậu càng thêm giàu lòng nhân ái? Lại nữa, xuất thân từ một gia đình nho học, cha là thầy đồ kiêm thầy thuốc, lớn lên được theo học hết ban Thành chung (trung học) do người anh cả sớm xa quê hương vào làm ăn ở tận phương Nam chu cấp, rồi tham gia khất thực, gặp được cách mạng và bị cuốn hút vào nó, cả một đời chỉ biết có cống hiến và cống hiến bởi đau cái đau mất nước của mình, anh rất ít nghĩ tới bản thân. Chỉ mãi đến lúc này Bảy Tâm mới tạm thảnh thơi với cái gia đình nhỏ bé của anh. Các con anh đã và đang trưởng thành. Tương lai thuộc về chúng. Cho dù đời sống thường nhật chưa phải là sung túc, song nếu so với nhiều người, anh cảm thấy vẫn dễ chịu hơn nhiều. Tất nhiên, hạnh phúc không thể chỉ đến với toàn những ngọt ngào. Nước chưa mạnh là do dân chưa giàu, nếu không muốn nói là không ít người còn quá nghèo. Bảy Tâm tâm sự:

– Thế giới chuyển biến rất nhanh, nhất là về khoa học kỹ thuật. Tốc độ phát triển đến chóng mặt. Thế kỷ 21 là thế kỷ của trí tuệ, của tri thức. Những cái đầu thông minh có thể có những ý tưởng không ngờ. Song người ta cốt nhất vẫn ở cái tâm. Tâm sáng thì mọi việc sẽ trở nên đẹp đẽ. Ngược lại tai hại cũng rất khó lường... Mình tin ở lớp trẻ. Thế hệ chúng ta không chấp nhận nhục mất nước, đã đi suốt cuộc chiến tranh 30 năm. Lớp trẻ bây giờ có nhiều thuận lợi hơn, một khi cảm nhận thấy đầy đủ về cái nhục đói nghèo và lạc hậu của Tổ quốc thì mình tin rằng lớp trẻ chắc chắn sẽ làm được như chúng ta đã làm. Và hơn thế nữa, đó cũng là hợp với quy luật thôi. “Con hơn cha là nhà có phúc”. Hạnh phúc của một dân tộc cũng vậy, lớp trẻ kế tục được cái bản lĩnh, cốt cách và xây lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, con đường đi tới còn gian truân lắm, chẳng đơn giản đâu, giải phóng xã hội kia mà. Cuộc sống lúc nào cũng đan xen thời cơ và thách thức là thế. Cần hiểu nó để biết cách thích ứng với nó mới mong tìm thấy hạnh phúc. Có phải vậy không? Hạnh phúc không tự nó đến bao giờ...

Về những điều Bảy Tâm thổ lộ, tôi mừng là ở tuổi ngoài 70 cái đầu anh vẫn tỉnh. Cũng như cái tâm sáng của anh. Bảy Tâm vẫn lo chăm chút cho đời sống gia đình thêm ổn định bằng tài trí của anh, mở mang một vườn ươm giống cây điểu cao sản trên đất rẫy vợ anh mua từ nhiều năm trước, tiến tới đào một ao thả cá bên một trại heo nhỏ có sẵn. Bảy Tâm cũng còn nặng nợ với nhiều hoạt động xã hội. Cái gì đã có góp sức thì anh vẫn cố làm, sẽ làm nếu có thể.

Anh vui với những công việc ấy. Hạnh phúc đến với anh tuy muộn màng song thực sự anh đã tìm được hạnh phúc.

A.H


>>Top