Giới thiệu      |      Các anh hùng      |      Trang đầu

 

(ANH HÙNG NGUYỄN THANH TÙNG)

Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, chỉ huy phó Đoàn đặc công 429, Quân khu 7.

Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thanh Tùng liên tục chiến đấu ở chiến trờng Nam Bộ. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đặc biệt, đêm 15 tháng 5 năm 1969, Nguyễn Thanh Tùng trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đoàn đặc công tiến công mãnh liệt căn cứ Tếch-ních, diệt và làm bị thương 800 tên Mỹ, 2 sở chỉ huy lữ đoàn, phá hủy, phá hỏng 22 khẩu pháo, 96 xe quân sự (có 43 xe tăng), 8 kho vũ khí, quân trang, quân dụng. Chưa đầy một tháng sau đó, Nguyễn Thanh Tùng lại chỉ huy đơn vị đánh căn cứ Tếch-ních lần thứ hai, diệt và làm bị thương 500 tên Mỹ, phá hủy 10 máy bay, 6 khẩu pháo, 41 xe quân sự (có 21 xe tăng), 35 lô cốt, 92 nhà lính, hơn 100 hầm ngầm, 3 kho đạn. Tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy 2 tiểu đoàn đặc công đánh thiệt hại nặng căn cứ Trảng Lớn do 1 trung đoàn địch đóng giữ. Năm 1972, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh 3 trận xuất sắc, thu nhiều hiệu quả: diệt 240 tên địch, phá hủy 6 khu thông tin tại trận đánh căn cứ Bà Dơn; trận đánh tổng kho Long Bình, đốt cháy và phá hủy 15.000 tấn bom, đạn; trận đánh sân bay Biên Hòa, phá hủy 90 máy bay. Trong Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân 1975, Nguyễn Thanh Tùng chỉ huy đơn vị đánh chiếm căn cứ ra-đa Phú Lâm và chi khu Tân Trào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng, 3 lần là Dũng sĩ. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Nguyễn Thanh Tùng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

HÀNH TRÌNH CỦA NGƯỜI ANH HÙNG

Nguyễn Quốc Hoàn

Cũng như những bạn bè trang lứa khác, Nguyễn Thanh Tùng lớn lên trong cảnh nước mất, dân lầm than nô lệ. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo thuộc ấp Bàu Sen, xã Hảo Đước, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Những người dân nơi đây luôn hướng tấm lòng son sắt thủy chung về cách mạng và Bác Hồ dù bị địch đàn áp khốc liệt.

Có một sự kiện ghi dấu ấn đậm nét suốt cuộc hành trình chiến đấu và công tác của Tùng mà suốt đời anh không thể nào quên. Đó là vào ngày 19 tháng 5 năm 1947, tại ấp Cây Trường, xã Hảo Đước. Nhân dân dựng lên một sân lễ rồi huy động tới vài ngàn người về dự mừng ngày sinh nhật Cụ Hồ Chí Minh. Trên khán đài có một chú cán bộ còn khá trẻ, người tầm thước, mặt hiền khô trong bộ đồ bà ba đen quen thuộc đứng lên diễn thuyết:

– Thưa quý cô bác, bà con. Hôm nay là ngày 19 tháng 5 năm 1947, nghĩa là sau ngày nước nhà độc lập chỉ hơn 20 tháng, tại ấp Cây Trường, xã Hảo Đước, trong tầm đại bác của giặc vì tỉnh lỵ Tây Ninh rất gần. Đặc biệt cách thành Nguyễn Thái Học do một đơn vị biệt động ngụy chiếm đóng không xa là bao. Nhưng chúng ta vẫn tổ chức cuộc mít tinh để chào mừng sinh nhật Cụ Hồ Chí Minh.

Người cán bộ nói chậm rãi, trìu mến và chăm chú nhìn bao quát sân lễ. Muôn cặp mắt già trẻ, trai gái đều dồn về người diễn thuyết, im phăng phắc. Bỗng nhiên, người diễn thuyết hỏi:

– Cô bác có biết Cụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là ai không?

Trong lúc chưa ai lên tiếng thì chính ông tươi cười giải thích:

– Thưa cô bác, Cụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người con yêu quý của nước Việt Nam ta, nhà chí sĩ yêu nước, hơn ba chục năm ròng rã xuất dương để tìm đường cứu nước, cứu dân khỏi lầm than nô lệ. Cụ chính là người thay mặt quốc dân đồng bào đọc bản tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội. Người chính là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta.

Ông vừa nói tới đây cả ngàn người đồng thanh hô lớn:

– Hoan hô Cụ Hồ. Hồ Chí Minh muôn năm, muôn muôn năm!... Tiếng hô kéo dài như sấm dậy.

Lần đầu tiên tại quê nhà chàng trai vừa ngoài tuổi trăng tròn, có khuôn mặt hiền dịu như con gái của Tùng được chứng kiến một cuộc mít tinh lớn như vậy. Mãi sau này anh mới hay người diễn thuyết đầy sức hấp dẫn ấy chính là đồng chí Hoàng Lệ Kha – Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, bị kẻ thù sát hại theo luật 10/59 dưới chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm. Sự hy sinh của ông là hình ảnh sáng đẹp của người chiến sĩ cộng sản.

Từ cuộc diễn thuyết ấy, mọi người dân từ vùng đất quê anh xa xôi mới có dịp hiểu thêm về Bác Hồ, về cách mạng, càng thắp sáng niềm tin vào tương lai đất nước, quyết không lùi bước trước mọi cuồng bạo của kẻ thù.

Ít lâu sau, ngày 4 tháng 4 năm 1948 từ vùng đất nghèo khổ mà lòng dân nhân hậu thủy chung này, Tùng ra đi kháng chiến ở tuổi mười bảy. Nhà nghèo lắm, có những tám anh em, Tùng là con cả của gia đình nên sắp nhỏ thường kêu một cách cung kính là anh Hai. Ông bà già thân mật lại xưng là Cậu Hai. Nhưng từ khi ở miền Bắc trở về Nam chiến đấu, anh em cứ gọi là Chín thành quen. Có người đoán chắc là theo thứ của vợ chăng? Không phải vậy. Hồi ấy anh chưa hề có hình bóng của một thiếu nữ nói chi tới vợ con, mặc dầu ở độ tuổi đáng ra phải có một tổ ấm uyên ương hạnh phúc. Song, quê hương còn bóng giặc anh đành gác lại mọi chuyện riêng tư vậy. Gần đây tôi có dịp hỏi lại chuyện này, anh cười vui mà rằng:

– Tầm tháng 12 năm 1962, đại đội 21 trinh sát về hoạt động ở ấp 3, xã Long Nguyên, Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Lúc ấy mình làm phó chính trị viên phó đại đội, thường hay tiếp xúc với dân và các đoàn thể bàn bạc công tác, gây dựng phong trào. Thấy mình vui nhộn xông xáo nhưng chưa biết tên, một số nữ thanh niên dò hỏi anh em đơn vị: anh ấy tên gì để tụi em biết mà kêu cho tiện? Mấy anh láu cá nào đó chỉ đại: các em cứ kêu anh Chính là được rồi! Xin nhắc lại: Chính chớ không phải là Chín. Nghĩa là chính hiệu chưa có vợ con gì ráo, các em cứ mạnh dạn mà tấn công. Đích thực hơn, sau khi làm việc, các chị hỏi: Xin lỗi, anh thứ mấy để mỗi khi ở trong ấp chiến lược có tình hình gì cần cung cấp, bọn em biết mà quan hệ cho tiện? Hồi ấy nhân dân đều bị địch dồn vô ấp chiến lược, chỉ một số cán bộ cốt cán vào ra hoạt động bắt mối. Mình nói: tôi tên Tùng, cứ thế mà kêu, tên cúng cơm đó. Song các chị lại đề xuất: cứ gọi anh Chính lực lượng là ổn – nghĩa là bộ đội chủ lực ấy mà. Thế rồi từ các cô gái tinh nghịch lan ra và mọi người cứ kêu lệch ra thành Chín – thứ chín trong gia đình. Kêu riết thành quen cho tới giờ luôn. Nhiều khi nghĩ lại cũng thấy vui vui, chiếm mất cả ngôi vị anh Hai tự lúc nào.

Là anh cả trong gia đình, các em sau còn nhỏ, nên Tùng sớm phải lao động giúp đỡ cha mẹ một số việc như làm cỏ, bón phân, đôi khi còn cày ruộng, đập lúa giữa trời nắng chang chang... Cũng vì thế, ý thức lao động và tính cần cù chịu khó sớm hình thành ở chàng trai mới lớn này.

Vài ngày trước khi lên đường tham gia kháng chiến, má Tùng – khi ấy đang mang bầu đứa em thứ tám, kín đáo đưa ra chợ bán mấy giạ lúa. Bán lúa mà cũng “kín đáo” ư! Vâng, vì má dè chừng cậu không đồng tình. Nhà nghèo, lại đông người, bán lúa rồi lấy gì mà ăn. Nhưng khi hay thì sự việc đã rồi.

Bán lúa mà cũng chỉ đủ tiền mua được một tấm áo vải đen dài tay, và một chiếc khăn rằn, không thể gắng thêm được chiếc quần cộc cho đủ bộ. Má nói trong nước mắt:

– Con lên đường mạnh giỏi, ráng công tác tốt để bằng anh em. Đừng lo nghĩ về gia đình. Tấm khăn này dùng khi tắm và thay chăn đắp lúc ngủ rừng cho đỡ muỗi mòng. Ráng nghe cưng, khi nước nhà độc lập, con trở về với ba má, với các em...

Má còn dặn:

– Con không được nghiện ngập gì cho cực nghe hông...

Đoạn sau tiếng má rưng rưng, nghèn nghẹn. Dường như má còn nói thêm đôi điều gì nữa mà Tùng không còn nghe rõ, cổ như nghẹn lại nhưng cố giấu những giọt nước mắt nóng hổi tràn mi. Còn ông Nguyễn Văn Sách, cha đẻ của Tùng – cứng rắn hơn, nhắc nhở:

– Trai nam nhi bước đi cho vững, như thế mới xứng là trai đó con!

Mỗi lần đọc bài thơ này Tùng không cầm được nước mắt. Bởi bài thơ ra đời vào thời điểm Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập, (ngày 20 tháng 12 năm 1960), kêu gọi con em miền Nam tập kết ra Bắc trở về quê hương chiến đấu.

Đơn vị Tùng lúc đó trung tá Nguyễn Thành Cộng làm lữ đoàn trưởng, anh Sáu Khâm, thiếu tá – lữ đoàn phó – tham mưu trưởng, anh Bảy Mai, thiếu tá – chủ nhiệm chính trị... Sau ba tháng rưỡi hành quân mới về tới chiến khu Đ ở Mã Đà. Điều quý giá là cả đoàn quân khá đông đảo ấy vượt gần 2.000 cây số bằng đôi chân trần, mang vác nặng trĩu vai mà chỉ rơi rớt lại vài trường hợp cá biệt. Lúc ấy Tùng đang là cấp thiếu úy, chính trị viên phó đại đội nhưng lại tình nguyện chia sẻ với tổ anh nuôi đeo cái soong quân dụng. Kể ra sự hòa đồng ấy cũng lắm cái thú vị bởi chỉ huy và nuôi quân tuổi đời xấp xỉ bằng nhau, nhiều khi có người tưởng Tùng là anh nuôi thực sự. Trong đội ngũ cán bộ khung này của lữ đoàn đa số là đã trung tuổi, phần nhiều là sĩ quan. Cấp úy, một số ít cấp tá, số còn lại là thượng sĩ, sàn sàn tuổi nhau. Có thể gọi chung là lính mùa thu trải hai mùa kháng chiến. Vũ khí trang bị cũng còn đơn sơ lắm.

 

Với bản tính hăng hái, lại được trang bị thêm nghề trinh sát đặc công nên qua các chặng đường trọng điểm phục kích ngăn chặn của địch, Tùng thường được phân công theo dõi, bám nắm đối phương để đoàn vượt qua. Tuy vất vả, nguy hiểm đến tính mạng nhưng anh thấy phấn chấn vì được rèn luyện thêm ý chí của mình.

Tại Mã Đà, đội hình này được chia làm hai khung cán bộ cấp tiểu doàn nhận quân số và bổ sung trang bị. Hai tiểu đoàn tiếp sau đó là đơn vị thực binh. Căn cứ thực tiễn chiến trường, hình thành cấp trung đoàn quân giải phóng. Từ đấy không còn phiên hiệu lữ đoàn nữa. do anh Nguyễn Thành Cộng làm trung đoàn trưởng, anh Bảy Mai chính ủy, anh Tạ Minh Khâm, tham mưu trưởng. Cũng cần nói thêm anh Tạ Minh Khâm sau này là đại tá, qua đời ngày 12 tháng 11 năm 1999. Ông từng chỉ huy trung đoàn, sư đoàn, đánh nhiều trận nổi tiếng, làm cho Mỹ, ngụy rất run sợ.

Nhiệm vụ chủ yếu lúc này là học tập chính trị, quán triệt sâu sắc tình hình cách mạng miền Nam, chuẩn bị chiến trường để đối phó lại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù. Nguyễn Thanh Tùng là một trong những cán bộ đầu tiên được điều về xây dựng đại đội 20 trinh sát trung đoàn, sau đó điều động về đại đội 21 – với tên gọi lúc ấy là B21. Sau vài ba tháng huấn luyện để trang bị nghiệp vụ chuyên môn cần thiết. Bước sang 1962, tổ chức thực hành chiến đấu nhỏ, chủ yếu là để làm quen với đối tượng tác chiến, hiểu biết thêm chiến trường. Nên có trận đạt hiệu quả tương đối cao, nhưng có trận mới chỉ đạt yêu cầu. Đặc biệt, chiến đấu nhưng phải bảo toàn lực lượng, tránh khinh suất để cán bộ, chiến sĩ đổ máu hy sinh trong khi chưa thật cần thiết. Cuộc chiến đấu chỉ mới là bắt đầu, mỗi người lính, dù từ miền Bắc trở về hay ở vùng địch tạm chiếm được giác ngộ đi theo cách mạng đều là con em nhân dân, tính mạng không thể coi thường được. Hơn nữa về mặt trang bị vũ khí của ta so với địch cũng còn quá chênh lệch. Đó là một thực tế về tương quan lực lượng. Vì vậy, một vài trận đánh kết quả chưa được như mong muốn cũng là điều dễ hiểu, không nên nóng vội, quy chụp anh em về ý chí. Điều quan trọng là luôn bồi dưỡng lòng trung thành với cách mạng, tình yêu Tổ quốc, ý chí căm thù quân xâm lược thì dù sớm hay muộn chiến công đang đón chờ phía trước.

Để gặt hái chiến thắng phải có thực lực, phải đấu tranh với kẻ thù không thể bằng lời nói mà bằng bạo lực, đấu tranh vũ trang. Theo sáng kiến của đồng chí Mười Cộng, trung đoàn trưởng – cần tổ chức xây dựng một đại đội chủ công làm lực lượng cơ động cho trung đoàn, được ưu tiên biên chế, trang bị khá. Từ đó đại đội 21 ra đời, biên chế thành hai trung đội bộ binh, một trung đội đặc công, một trung đội ĐKZ57, một tiểu đội đại liên và một tiểu đội trinh sát. Ban chỉ huy đại đội lúc đầu có năm người. Các anh Nguyễn Huệ, trung úy, đại đội trưởng, Trần Văn Đạt, trung úy chính trị viên, anh Trương Minh Thông, đại đội phó (anh Thông sau hy sinh ở chiến dịch Đồng Xoài) anh Hòa, đặc công được đào tạo bài bản từ miền Bắc về (anh Hòa cũng hy sinh rồi mất xác trong một lần đi trinh sát bị địch phục kích) và thiếu úy chính trị viên phó Nguyễn Thanh Tùng.

Nhờ xốc lại đội hình mà đủ sức tác chiến độc lập và cơ động. Đây là một tín hiệu vui của tất cả cán bộ, chiến sĩ.

Trận đầu ra quân của đại đội 21 là đánh thí điểm ấp chiến lược Bàu Bàng mùa khô 1962. Tùng đi với mũi chủ công. Trận này, ta giành thắng lợi lớn, bắt một tên, phá bung ấp chiến lược, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân nổi dậy chống lại tề ngụy ác ôn, diệt bọn đầu sỏ trở về quê cũ làm ăn. Từ đây quần chúng rất tin tưởng trước sự trưởng thành của lực lượng cách mạng. Ta bị thương nặng một đồng chí.

Sau trận ấy, đại đội “hạ sơn” xuống đồng bằng, đóng tại ấp 3, Bờ Cảng, xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Trung đoàn bộ cũng đóng khu vực này. Chính nơi này vốn là căn cứ như một cái nôi rèn luyện cho đại đội 21 trưởng thành vượt bực và lập công xuất sắc một số trận đánh tiếp theo. Và cũng từ đây, bí số thứ “Chín” của anh trở thành quen thuộc cho tới tận bây giờ. Tại căn cứ này, có một kỷ niệm nhẹ nhàng nhưng đầy ấn tượng vui thời trai trẻ mà giờ đây mỗi lần nghĩ lại, anh vừa cảm thấy buồn cười, vừa như thấy mình là người mắc lỗi “khù khờ” đến nông nổi. Không biết “đối tác” có cảm thông cho cánh con trai “vô tâm” như anh không? Chuyện được bắt đầu thế này:

Thời kỳ đơn vị đóng quân tại xã Long Nguyên, Bến Cát, Bình Dương để củng cố và xây dựng. Tại đây còn có các đơn vị bạn và trung đoàn bộ (Q762). Trong đó cơ quan an ninh tỉnh Bình Dương, do anh Ba Dễ phụ trách lại có một số chị em nữ. Thế rồi chuyện rắc rối mới xảy ra. Anh Tạ Minh Khâm – trung đoàn trưởng thỉnh thoảng gợi ý cho Tùng lấy vợ. Còn anh Ba Dễ giới thiệu cô Tám Quỳnh – y tá cơ quan – với Tùng mà hồi nào tới giờ chưa biết mặt nhau.

Vào thời điểm đơn vị đang đại hội chi bộ Đảng và sau đó chuẩn bị đi nhận nhiệm vụ mới cơ động về hướng Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa. Nghe thông báo Tùng có khách ở ngoài chưa biết là ai, khi gặp mới hay đó là một cô gái còn khá trẻ, khuôn mặt dễ thương, nét người thon thả nhưng chưa hề quen biết. Anh hỏi: “Cô gặp ai? Có việc gì?”. Cô ta tỏ ra bẽn lẽn và thực sự lúng túng:

– Em xin gặp anh Tùng bộ đội ạ!

– Anh Tùng nào? Ở đây có những ba Tùng. Tôi là một trong số ba người ấy. Có việc gì cô cứ nói.

Tôi mắc bận công chuyện lắm. Hay là cô cần gặp anh Tùng nào khác, tôi sẽ nói lại cho.

– Vâng! Nếu mắc bận thì anh vào giải quyết, em xin phép về.

Nói đoạn cô ta quay gót mà Tùng chưa lý giải được điều gì sẽ xảy ra.

Ngày hôm sau lại chính vị khách này tới nhưng có phần mạnh dạn hơn. Gặp Tùng, cô ta nở nụ cười rất tươi và nói:

– Nghe chú Ba cho hay là anh Nguyễn Thanh Tùng cần liên lạc với Tám Quỳnh (tên cô gái). Có việc gì hông... anh?

– Xin lỗi, tôi là Nguyễn Thanh Tùng đây. Nhưng cô có nhầm không đó. Tôi có nhắn liên lạc với ai là phụ nữ đâu. Một lần nữa, nếu cô nhầm thì nên bình tĩnh mà soát xét lại.

– Cái ông Ba này, buồn dễ sợ. Thế này mà cũng giục người ta đi cho bằng được... Kỳ cục thật đó...

 Tùng nghe Quỳnh nói như là hờn dỗi cái ông Ba nào đó một cách vô cớ mà anh thì lại quá thờ ơ. Quỳnh chào anh rồi quay gót trở về, mặt buồn rười rượi. Còn anh tức tốc trở vô đơn vị bắt tay vào công tác chuẩn bị, không hề nghĩ ngợi gì. Thế rồi đơn vị có lệnh lên đường “lật cánh” chuyển hướng hoạt động.

Kể từ ngày đó, trong tâm tưởng của cô gái trẻ Tám Quỳnh có bóng dáng của Tùng – một anh con trai “ngốc nghếch”. Vậy mà Quỳnh không hề giận anh. Ngược lại, còn nhớ, còn thương thêm cả vấn vương nữa chớ. Ít lâu sau, anh Tạ Minh Khâm, vừa như một người anh, vừa là người thủ trưởng hỏi Tùng và cũng để kiểm tra lại các lần giao tiếp:

– Tùng nè! Anh nói sao với Tám Quỳnh mà để con nhỏ nó buồn hiu vậy?

– Em có biết gì đâu... anh Sáu!

– Trời ơi! Mày làm “bể mánh” hết trơn rồi. Tao và Ba Dễ có ý sắp đặt cho Tám Quỳnh với mày, thế là hỏng ráo rồi còn gì! Anh đánh giặc thì xông xáo ngon lành mà việc tình tự với phụ nữ lại quá ư... dại khờ, anh Tùng ạ! Anh Sáu như được thể, cho Tùng một bài học.

– Anh mắng em thì em ráng chịu, chớ biết sao bây giờ anh Sáu.

– Anh Sáu nói vậy là tiếc cho chú em thôi. Cuộc chiến tranh còn lâu dài, gian khổ lắm. Biết rằng lập gia đình, có con cái thêm bận rộn, nhưng ai gặp dịp cứ tiến hành, tổ chức cho phép mà. Miễn là đừng nặng gánh gia đình mà chểnh mảng việc quân cơ đó chú em ạ – Nói đoạn anh Sáu cười, nét cười đôn hậu, nhân từ khắc sâu mãi vào tâm trí Tùng. Anh còn vỗ vai Tùng mà rằng:

– Nghe Ba Dễ cho hay, nhỏ Quỳnh nó thương mày lắm. Hơn nữa nó là con gái, ai dám ngỏ lời trước. Hai lần ấy là Ba Dễ giục nó ra gặp mày đó. Hóa ra cả hai lần nó đều chưng hửng, thất vọng. Sau khi mày đi rồi, nó khóc mà không ai hiểu điều gì xảy ra. Chỉ có Ba Dễ, thủ trưởng cơ quan nắm được nội dung thôi.

Nghe anh Sáu Khâm nhắc lại sự việc. Tùng như thấy mình mắc lỗi quá nhiều với Tám Quỳnh, lòng trỗi dậy nhớ nhớ thương thương thì cũng đã muộn màng. Không biết Quỳnh có thông cảm cho sự “ngờ nghệch” của anh không?

Cả một chuỗi tháng ngày sau đó, nhiều tin dữ đến với Tám Quỳnh là đơn vị Tùng hoạt động, chiến đấu liên miên. Có trận diễn ra không cân sức giữa ta và địch. Chúng tập trung lực lượng dồn đơn vị anh ra tận bãi biển Bình Châu, Xuyên Mộc, ai nấy chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi anh dũng hy sinh, trong đó có Tùng – chàng trai mà người con gái ấy đã thầm yêu, trộm nhớ. Nghe nói cô đã khóc ròng rã nhiều ngày liền. Quỳnh còn lập một bàn thờ tại gốc cây dầu thiệt bự và hàng ngày đi tìm hoa rừng cắm lên đó như để nhắc nhở kỷ niệm của người con gái chớm nở một tình yêu đơn phương với một người lính vô tư và trong sáng về lý tưởng chiến đấu. Tuy có buồn vì chút thất vọng ban đầu ấy nhưng suy cho cùng, Tám Quỳnh thấy lỗi không phải tại Tùng. “Giá như!... Giá như chú Ba Dễ và chú Sáu Khâm “tiết lộ” đôi chút với ảnh thì đâu đến nỗi nào. Đằng này gặp nhau đường đột quá, anh biết mình là ai, gốc gác thế nào. Lỡ mình là người xấu, đổ bể chuyện cách mạng thì sao? Ảnh thận trọng là đúng....

Mấy năm sau khi nghe tin Tùng hy sinh, Tám Quỳnh đem lòng yêu thương một anh cán bộ quân giải phóng và họ nên duyên chồng vợ tạo tổ ấm hạnh phúc. Nhưng thỉnh thoảng vẫn nhắc tới tên Tùng, bởi bóng dáng anh còn hằn sâu vào tâm tưởng của người thiếu phụ một thời đã đem lòng yêu thương anh.

Với tính tình cởi mở vui vẻ, hào hiệp, lại có phần bảnh trai và đánh giặc thật cừ, không ít cô gái là bác sĩ, văn công và nhiều đối tượng khác đem lòng cảm mến anh. Nhưng cuộc chiến khốc liệt như một cơn lốc cứ cuốn hút mọi tâm trí của Tùng. Cho mãi tới giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, cô gái Hồng Hoa duyên dáng, nét ngài nở nang, có mái tóc óng ả của xứ dừa đã đến với anh và nên duyên chồng vợ đúng với ý nghĩa “Hạnh phúc trăm năm, hạnh phúc nhà. Thắm tình non nước, thắm tình ta”. Từ lương duyên đó, anh chị đã tạo lập được một cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Trong cuộc đời chiến đấu Nguyễn Thanh Tùng có kỷ niệm khó quên, đó là trận đánh vào Bến Súc, khi đại đội của anh nằm trong đội hình trung đoàn, đánh địch trong công sự vững chắc. Lực lượng đặc công của đại đội luồn sâu đánh từ trong, một đại đội của tỉnh Bình Dương phối thuộc tiến công từ ngoài vào. Trận này thành công ở mức độ nhưng đã để lại những bài học quý.

Qua đợt hoạt động, quân số ít nhiều bị tổn thất, lùi về củng cố. Dịp này được bổ sung khá đông chiến sĩ mới từ các tỉnh miền Tây lên. Lúc này đại đội 21 trực thuộc Trung đoàn 762, mật danh là Q762 vẫn là chủ lực mạnh cơ động của trung đoàn và tiếp tục chiến đấu ở làng 2 Dầu Tiếng vào trung tuần tháng 12 năm 1963. Tại đây ta đã tiêu diệt một đại đội thuộc sư đoàn 5 của địch tại vị trí đóng quân của chúng, bắt sống tên chuẩn úy đại đội trưởng. Để kiểm chứng lại ý nghĩa và tính chất của trận đánh phá ấp chiến lược Dầu Tiếng. Thật may mắn, gần đây người thực hiện bài viết này đã tìm gặp được đại tá Trương Văn Đàn (Năm Đàn) nguyên Phó tham mưu trưởng Quân khu 7 đã về hưu, nguyên trung úy chính trị viên đại đội 21 – bí thư chi bộ trực tiếp lãnh đạo trận đánh này. Khi nhắc tới sự kiện trên, ông Năm Đàn kể lại như sau:

– Theo chủ trương của Trung ương Cục miền Nam là phải nhanh chóng tổ chức, xây dựng

lực lượng để từng bước phá thế kềm kẹp của địch, đưa dân ra vùng giải phóng. Thực chất lúc ấy, lực lượng vũ trang của ta còn rất mỏng. Trên cơ sở một số khung cán bộ từ miền Bắc trở về cùng với hai tiểu đoàn thực binh tăng cường tuy là rất quý nhưng so với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng thì... thật quả ít ỏi và hụt hẫng. Nắm vững chủ trương về chiến lược, trước đó nhiều tháng cấp ủy, ban chỉ huy khung đại đội chúng tôi tỏa về các địa bàn để tuyển chọn từng người lính. Anh Nguyễn Thanh Tùng được phái về tỉnh Biên Hòa gặp ông Trần Công An (Hai Cà) giúp đỡ để tìm quân... Rất may vào thời điểm ấy, một bộ phận nhỏ do miền Miền tổ chức tiếp nhận số con em từ các ấp chiến lược được cơ sở móc nối đưa ra căn cứ. Sau khi học tập giáo dục giác ngộ, số đủ tiêu chuẩn loại 1 về chính trị thì gởi lên R. Nhờ số này mà Miền tăng cường cho đơn vị. Cuối cùng thì chúng tôi cũng tuyển được 200 anh em đem về tổ chức, giáo dục, huấn luyện để tiến hành tác chiến. Quý biết bao nhiêu, số này thực sự chí cốt, một lòng một dạ son sắt thủy chung với cách mạng. Qua điều tra tìm hiểu, ai nấy đều có mối thù nhà, nợ nước thề không đội trời chung với lũ giặc cướp nước và bán nước.

Ngưng giây lát như để hồi ức lại những sự kiện đã diễn ra cách nay 38 năm, đại đá Trương Văn Đàn hồ hởi kể tiếp:

– Vấn đề lực lượng được coi như tạm ổn. Điều cơ bản tiếp theo là tổ chức, chỉ huy sao đây để tạo nên chiến thắng đối với kẻ thù thì khâu cán bộ cực kỳ quan trọng. Cấp ủy, chi bộ, ban chỉ huy cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Cuối cùng chọn đồng chí Nguyễn Thanh Tùng trực tiếp dẫn đầu mũi chủ công đánh vào khu vực trọng yếu ấp chiến lược Dầu Tiếng, nơi mà đối phương đặt nhiều kỳ vọng.

Về phần mình, trên cương vị là bí thư chi bộ, chính trị viên đại đội chịu trách nhiệm trước Đảng và sinh mạng của cán bộ, chiến sĩ vốn quý của cách mạng, con em nhân dân trao cho mình : Tôi trực tiếp hỏi Tùng, đồng thời là để thăm dò tâm lý anh ta trước một quyết định trọng đại nhiệm vụ thiêng liêng cao cả vì nghĩa lớn, rất có thể đổi lấy sinh linh trai trẻ của mình. Chờ tôi dứt lời, Tùng đáp lại một cách mạch lạc thể hiện niềm tin sắt đá:

– Thưa anh Năm, tôi hiểu rõ những gì anh nói không đơn thuần là ý tưởng cá nhân, mà đó là tiếng nói của Đảng, của tổ chức thật thấm đậm. Tôi nhận thấy mình thật hạnh phúc vì được tập thể trao nhiệm vụ vinh quang. Nguyện thề với Đảng thông qua đồng chí bí thư chi bộ, tôi quyết thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong trận đánh này!

Không biết vì xúc động hay để tỏ rõ quyết tâm của mình mà Tùng đứng vụt dậy, hai tay nắm chặt tay tôi làm cho tôi càng thêm sung sướng, tin tưởng và khâm phục một cán bộ như thế. Trước sự sống và cái chết mà cứ nhẹ tênh. Phẩm chất ấy dễ gì có được nếu không kết tinh từ sự giáo dục của Đảng, rèn luyện của quân đội cộng với tình yêu Tổ Quốc thiết tha. Đang trò chuyện mà tôi như nghe nhịp đập trái tim đầy tự tin quả cảm của một người em, người bạn, người đồng chí thắm thiết làm sao. Tùng gọi tôi một cách trìu mến đầy vẻ cả quyết:

– Anh Năm à! Em được nắm trung đội 1, làm nhiệm vụ chủ công. Đại đội còn tăng cường cả khẩu đại liên nữa, thật sung sướng quá anh Năm ơi. Em quyết tâm triệt để thực hiện tốt nhiệm vụ. Tận dụng mọi yếu tố bất ngờ, sẽ nổ súng đúng giờ G và giải phóng ấp chiến lược ngay trong đêm...

– Thay mặt lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, tôi ghi nhận và hết sức hoan nghênh tinh thần sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ của đồng chí!

Ngày hôm sau, trong một cuộc họp chi bộ mở rộng để chính thức bàn phương hướng lãnh đạo giữ vững quyết tâm ý tưởng, ý chí cho bộ đội. Lấy tinh thần xung phong nhận nhiệm vụ then chốt của trận đánh thắng lợi. Khi đề cập đến Nguyễn Thanh Tùng, một trăm phần trăm biểu quyết tán thành, giao trọng trách nặng nề ấy cho anh trước tập thể với một bầu không khí sôi nổi khác thường. Nhớ lại từ nhiều tháng trước cùng nhau len lỏi tìm kiếm, móc nối cơ sở để tuyển dụng đưa về từng thanh niên nhằm xây dựng đơn vị. Hôm ấy có thể là buổi họp đầy ấn tượng hơn cả đối với mọi người. Tùng chỉ nói mấy lời vắn tắt:

– Tôi xin cám ơn các đồng chí đã gửi gắm lòng tin, tôi quyết tuân lệnh và hoàn thành!

Ai nấy đều lắng nghe anh nói như sự ghi nhận một điều quá đỗi thấm đậm và càng dành cho anh mối thiện cảm quý mến, tin yêu.

Trước ngày xuất kích vào trận đánh, toàn đơn vị thực sự náo nức. Ai ai cũng ra công chăm chút khẩu súng, nâng niu từng viên đạn sáng bóng. Tại trung đội 1, Nguyễn Thanh Tùng đang cùng hai chiến sĩ xạ thủ đảm nhiệm khẩu đại liên 30 ta thu được của địch trong một trận đánh trước ngắm nghía, mân mê, thao tác lại từng chi tiết. Lúc này trông các anh với khẩu súng thân yêu chẳng khác nào như những người bạn thâm tình, tri kỷ. Họ say sưa đến mức tôi tới lúc nào mà không ai hay biết.

– Chà... thầy trò đam mê quá ta? Chuẩn bị kỹ càng chưa nào? – Tôi lên tiếng. Bỗng cả ba cùng hồ hởi:

– Tất cả đã ở trên bệ phóng chỉ chờ lệnh cấp trên đó.

– Đã lắm anh Năm, thao tác cho tốt, bình tĩnh, tự tin. Khẩu đại liên này lên tiếng thì... đối phương chỉ có làm mồi cho kỳ đà, lũ kiến là cái chắc. Hãy đợi đấy quân khốn kiếp! – Ờ, ờ, tôi cũng tin như vậy và cả đại đội ta đều có chung ý nghĩ ấy, mới xem mặt, gởi vàng vào các cha nội đó nghen. Nói đoạn, ai nấy cùng cười đắc chí. Thật phấn chấn nhìn phong thái những cán bộ như anh Tùng và các đội viên trước lúc vào trận đánh, trong lòng tôi tràn dâng một niềm tin tưởng quý mến.

 

Đêm hôm ấy trời không trăng nhưng đầy sao. Mùa khô, rừng miền Đông Nam Bộ đang kỳ trút lá, có những chiếc lá vô tình chạm nhẹ vào vai áo của Tùng và đồng đội. Những chú tắc kè sau nhiều giờ săn mồi no căng lại thi nhau lên tiếng râm ran đến là vui. Phía trước, ấp chiến lược Dầu Tiếng đang chìm ngập trong màn đêm bao phủ được mị dân bằng cái vỏ bọc “Quốc sách” của Ngô tổng thống và chính phủ bù nhìn nhưng thực chất là chế độ “gia đình trị” do Mỹ dựng lên để đàn áp phong trào cách mạng miền Nam.

Trời về đêm càng lạnh, hướng mục tiêu được phân công cho các mũi chỉ chờ hiệu kèn đồng nổi lên và pháo hiệu làm tiêu lệnh là tất cả xông lên theo quy ước chiến đấu đã thục luyện từ bấy lâu nay. Nhận rõ đối tượng tác chiến là quân ngụy cộng với vũ khí Mỹ. Trừ một số tên chỉ huy ác ôn say máu, trong đó cũng có không ít con em nhân dân bị thúc ép phải cầm súng đánh thuê. Cần tìm cách thức tỉnh họ trở về. Nếu mình công thức quá khó tránh khỏi tổn thất hy sinh bản thân và đồng đội. Điều quan trọng hơn là không hoàn thành nhiệm vụ cao cả Đảng, quân đội giao phó thì thật có tội lỗi với dân. Trong phút chốc một luồng suy nghĩ lóe sáng trong đầu người chính trị viên phó đại đội Nguyễn Thanh Tùng. Anh hạ lệnh cho toàn mũi chưa được lao lên ngay khi pháo hiệu còn sáng. Vì như thế, lúc vượt qua bãi trống, đối phương quan sát rõ, liệu chúng có để cho yên trước làn mưa đạn xối xả? Luồng sáng vừa vụt tắt, chớp thời cơ đối phương chưa kịp phản ứng là lúc anh dẫn đầu toàn mũi xông thẳng vào mục tiêu. Chỉ trong giây lát, cả một bãi trống đã lùi lại phía sau. Hàng rào ấp chiến lược được xây dựng bấy lâu của địch bị phá bung. Khẩu đại liên hỏa lực chủ yếu được anh nắm chắc, đặt đúng vị trí đã phát huy tác dụng hết sức hữu hiệu, kịp thời đè bẹp kẻ thù, tạo cơ hội cho các hướng xông lên. Quá trình phát triển vào trung tâm anh bắt được liên lạc với hướng do chính trị viên đại đội Trương Văn Đàn chỉ huy. Lúc này anh mới hay tin người chiến sị liên lạc thân thiết quê ở Bến Tre tên là Tre hy sinh khi pháo hiệu vụt sáng.

Tre ơi! Thế là từ đây anh em mình mãi mãi xa nhau. Trận đánh như một cơn lốc cuốn hút mọi tâm lực của Tùng, đặc biệt lại là hướng chính diện nhằm áp đảo quân thù. Thi thể của Tre được tổ chức đưa ra khỏi trận địa. Tùng càng nóng lòng được nhìn gương mặt của Tre lần cuối.

Cùng với tiếng súng tiến công vang rền của quân giải phóng, mũi binh địch vận cũng phối hợp kêu gọi anh em binh sĩ trong ấp chiến lược Dầu Tiếng thức tỉnh quay về với Mặt trận dân tộc giải phóng, với nhân dân.

– Hỡi tất cả những người dân thống khổ, hãy đoàn kết vùng lên phá bung ấp chiến lược trở ra vùng giải phóng. Đây là thời cơ thuận lợi sớm chớp lấy để thoát khỏi cảnh chim lồng cá chậu...

Lời kêu gọi có sức truyền cảm thúc giục vang vọng tới từng nhà, từng ngõ tối tăm. Bỗng nhiên cả ấp chiến lược rùng rùng chuyển động. Như chiếc lò xo bị nén bấy lâu giờ có dịp bung ra. Hàng ngàn lượt già trẻ thúc giục nhau trở về quê cũ làm ăn, bất chấp dưới làn đạn uy hiếp của bọn lính tìm mọi cách phong tỏa. Chỉ sau vài giờ, ấp chiến lược Dầu Tiếng trở thành hoang vắng, tiêu điều. Đây quả thật là một đòn cân não đối với tên quận trưởng gian ác, cùng bộ máy tàn bạo của chúng.

Nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị cơ bản đã hoàn thành. Các mũi tổ chức thu vũ khí, tăng cường tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân về chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng, và nhanh chóng thu dọn chiến trường. Lúc này Nguyễn Thanh Tùng không quên cương vị là chính trị viên phó đại đội. Anh trực tiếp bắt liên lạc với các bộ phận, đôn đốc nhắc nhở đưa thương binh, liệt sĩ về vị trí quy định mới thực sự yên tâm. Khi tất cả rời khỏi trận địa khoảng 4-5 cây số thì tới khu rừng Kà Tông, bên cạnh có một hồ nước lớn mát rượi, trong vắt dáng vẻ thật thanh bình. Tại đây, bộ đội được nghỉ ngơi chốc lát để lấy lại sức khỏe và chấn chỉnh đội hình. Lúc này ai nấy mới thấm mệt. Đến 3 giờ chiều cùng ngày thì về đến vị trí trú quân.

Lần đầu tiên bị một đơn vị Quân giải phóng đột nhập, tiến công làm hậu thuẫn cho quần chúng nổi dậy phá bung ấp chiến lược thực sự là đòn choáng váng đối với kẻ thù báo hiệu sự cáo chung của “quốc sách” ấp chiếc lược do Mỹ, Diệm gây dựng.

Tuy nhiên, kẻ thù không dễ khoanh tay ngồi nhìn khi bị đòn tiến công đau điếng của ta.

Một số đơn vị của địch nhanh chóng được tung ta đi hành quân càn quét tìm diệt đối phương. Vì thế trên đường trở về, khi qua gần khu vực đồn Cà Tông thì lập tức đơn vị gặp một tiểu đoàn ngụy chặn đánh. Đại tá Trương Văn Đàn nhớ lại:

– Mặc dù đã có dự tính đến phương án gặp địch nếu buộc phải tao ngộ. Nhưng thực tình lúc ấy không khỏi lúng túng. Điều cơ bản nhất là vũ khí đã cạn trong trận đánh phá ấp chiến lược đêm qua. Lực lượng địch lại đông. trang bị mạnh và hiếu chiến. Nếu đụng độ ta thương vong sẽ lớn hơn, Ông Năm Đàn kể tiếp: Trong lúc tôi và anh Huệ đại đội trưởng hội ý chớp nhoáng để quyết định hành động. Thì... cha nội ơi, Tùng đã kịp thời phán đoán và dẫn đầu một mũi thọc sườn, cắt ngang đội hình địch. Cú đánh khá hiểm và bất ngờ đã làm chúng tản ra, một số tên bị chết. Nhân cơ hội đó ta tổ chức vòng tránh vượt qua. Nói đến đây cựu đại tá dày dạn trận mạc, cao hứng mà rằng : anh Nguyễn Thanh Tùng đã hành động tuyệt vời, cứu đơn vị một pha thoát hiểm ngoạn mục, rồi ông cười đắc chí. Tiếng cười như còn mang hơi thở của của cuộc chiến đấu và sự biết ơn, quý trọng tình đồng chí sâu sắc đã sẵn sàng chia sẻ với mình lúc gian nguy.

Sau trận đánh, cấp trên chỉ đạo kịp thời rút kinh nghiệm để tìm ra những bài học quý. Bởi lúc bấy giờ – tháng 3 năm 1963, các trận đánh quy mô cấp đại đội chủ lực hỗ trợ cho quần chúng phá ấp chiến lược đạt hiệu suất cao như thế mới chỉ là hạn hữu. Vậy mà đại đội 21 đã làm được điều kỳ diệu đó nên tiếng vang càng xa thực sự gây tác động mạnh mẽ đối với phong trào cách mạng đang bừng cháy. Nhớ lại sự kiện này, đại tá Nguyễn Thành Công, nguyên trung đoàn trưởng đầu tiên quân giải phóng miền Đông Nam Bộ, năm 2001 tuy đã ở tuổi tám mươi hai, vẫn tỏ ra minh mẫn, khái quát lại trận đánh:

– Trận phá ấp chiến lược Dầu Tiếng kết quả ngoài cả dự định trên nhiều phương diện. Mà cái chất liệu đầu tiên để tạo sự tuyệt vời ấy là những người lính đầy thông minh và quả cảm. Riêng thiếu úy phó chính trị viên đại đội Nguyễn Thanh Tùng, trong cuộc giao chiến ấy đã xuất hiện những nét thật độc đáo hết sức quý giá mà trước sự sống và cái chết không phải ai cũng làm được. Theo ông Mười Cộng cũng như tập thể chỉ huy, lãnh đạo trung đoàn lúc đó thống nhất đánh giá. Cái nét tiêu biểu xuất hiện ở anh là việc xử lý tình huống. Nếu như. Vâng! Nếu như, khi tiếng kèn đồng xung trận nổi lên, kết hợp pháo hiệu vụt sáng Tùng cứ cho bộ đội ào ạt xông tới như bài bản đã học nhưng chưa được kiểm chứng thì liệu đối phương có để cho yên khi lực lượng ta băng qua bãi trống? Và thực tế điều gì sẽ xảy ra? Tùng đã không sao chép, công thức mà hết sức sáng tạo ra một “lối đánh” độc đáo. Kết quả tiết kiệm được sinh mạng đồng đội, giành chiến thắng vẻ vang. “Lối đánh” đó của Tùng thực sự là bài học quý giá cho các đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng sau này. Đó là cái tuyệt vời thứ nhất.

Còn ấn tượng thứ hai, thưa đại tá?

Bằng phong thái của một vị chỉ huy từng trải cộng với điệu nghệ vốn là một võ sĩ có pha chút khôi hài, đại tá như cao hứng:

– Cái tuyệt vời trước của Tùng vừa mới phát sinh thì cái sáng tạo tiếp theo lại nảy nở. Đó là anh đã nhạy bén trong phán đoán tình huống để xử lý rất kịp thời và hiệu quả. Nhờ thế mà mau chóng tổ chức lực lượng, chia lửa cứu nguy cho đơn vị khi bị tao ngộ chiến trên đường lui quân. Bằng không máu có thể đổ nhiều hơn và hậu quả khôn lường. Ngừng giây lát như để hồi tưởng thêm về ký ức, đại tá điểm một câu như là minh chứng cho các nhận định đánh giá từ lâu về một cán bộ ưu tú:

– Từ những trận đánh đầu tiên, cái phẩm chất anh hùng đã tiềm ẩn trong con người trông vẻ bình dị, đáng yêu ở Tùng. Và cứ thế, đối với Nguyễn Thanh Tùng theo năm tháng thử thách, chiến công nối tiếp chiến công dày thêm lên.

Với kết quả trên nhiều phương diện của trận đánh, tập thể đơn vị và Nguyễn Thanh Tùng đã được cấp trên khen thưởng xứng đáng.

Tuy nhiên, trong trận tao ngộ ấy, ta bị thương vong mấy đồng chí và mất một khẩu cối 60ly. Đây là bài học sâu sắc khi tổ chức lui quân, dễ có phần chủ quan, sơ hở. Nhiệm vụ trước mắt là tập trung lãnh đạo, giữ vững quyết tâm cho bộ đội để bước vào hoạt động mới. Tiếp theo, cuối năm 1963, đơn vị lại tham gia thực hiện trận đánh mới. Đó là đánh đồn Bến Súc, xã Tân An, huyện Bến Cát.

Đánh theo yêu cầu nên công tác chuẩn bị gấp. Lực lượng phối hợp có đại đội Phú Lợi hoạt động vòng ngoài. Kể lại các sự kiện, ông Năm Đàn vẫn còn nhớ rất rõ: khi ta nổ súng tiến công vào lúc 4 giờ 30 phút sáng nhưng không thành công mà lại bị thương vong nhiều hơn. Chính bản thân mình cũng bị thương trong trận ấy. Giữa lúc đại đội trưởng còn phải nắm đơn vị để nhằm kịp thời xử lý mọi tình huống. Thương binh, liệt sĩ đang nằm tại trận địa, trời lại sắp sáng, lực lượng địch còn đông... Lúc này mặc dầu bị thương, một viên đạn xuyên vào người làm nhức nhối toàn thân, nhưng tôi vẫn đủ tỉnh táo nói với Hai Tùng:

– Anh thay vị trí tôi (chính trị viên đại đội) vừa làm nhiệm vụ giải quyết chiến trường. Tổ chức đưa nhanh thương binh, liệt sĩ ra ngoài, tuyệt đối không được để sót!

Lúc ấy tôi nhìn Tùng như một con sóc, thoắt ẩn, thoắt hiện kiểm tra đôn đốc thực hiện mọi công việc hết sức mau lẹ. Thương binh, liệt sĩ đều được đưa ra trước khi trời sáng. Tôi cũng nằm trong số đó. Thời gian tôi nằm viện điều trị vết thương, mọi công tác lãnh đạo, chính trị tư tưởng, động viên tinh thần, tổ chức lực lượng đều do Tùng đảm trách. Ấy thế mà đâu ra đó. Sau khi xuất viện trở về, nhìn không khí đơn vị vui tươi, phấn khởi, lòng tôi cũng rất vui. Cũng lúc này tôi được thông báo đi nhận công tác khác. Còn nhận ở đâu, làm gì chưa hay thì đúng ngày 31 tháng 12 năm 1963 không thể nào quên ấy, trung đoàn lệnh cho đại đội chặn đầu ở Cầu Xéo để tạo điều kiện cho tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 5 bạn tiêu diệt tiểu đoàn 32 Cọp Đen ở ngã ba Cầu.

Khẩu đại liên 30 – hỏa lực chính được Tùng bố trí nơi tiện lợi nhất đúng ý định cấp trên. Chờ cho địch dẫn xác vào đúng tầm, đúng hướng thì ra lệnh nhả đạn. Những tên lính Cọp Đen vằn vện trở thành bia thịt, xác chồng lên nhau thật thảm hại. Vừa lúc ấy, tiếng kèn đồng nổi lên, các đơn vị bạn xông tới hợp điểm tiêu diệt, bắt sống địch và thu dọn chiến trường. Xóa sổ một tiểu đoàn thiện chiến khét tiếng ác ôn như tiểu đoàn Cọp Đen, quả là một sự kiện hiếm thấy lúc bấy giờ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ cũng như toàn miền Nam.

Theo ý định của trên dụ địch ra để tiêu diệt. Cuộc nghi binh thành công buộc địch hành quân bằng cơ giới vào trận địa đón lõng của ta, bất ngờ vồ một mẻ lưới ra trò. Thế là từ Bờ Cảng đơn vị hành quân trong đêm qua xã Thanh Tuyền, huyện Bến Cát. Nơi đây có cầu Vũ Bình mục tiêu địch thường bắn pháo, cần đề phòng rủi ro. Bộ đội tới đích an toàn, bố trí trận địa, đào công sự, nghi trang cách sở chỉ huy trung đoàn khoảng 1 ki-lô-mét. Tùng tới nơi trực tiếp báo cáo về quân số, vũ khí với cấp trên. Lúc này anh Sáu Khâm trung đoàn trưởng, anh Năm Quảng chính ủy (anh Năm Quảng sau này là Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) đều biểu dương tinh thần chấp hành mệnh lệnh của đơn vị và nhắc nhở Tùng về động viên bộ đội sẵn sàng chiến đấu cao và giữ bí mật trận địa.

Tùng vừa đi vừa chạy để kịp về đơn vị phổ biến nhiệm vụ thì địch đã nổ súng với đơn vị bạn ở phía trước. Trung đoàn trưởng hạ lệnh: đại đội 21 nhanh chóng cơ động về phía địch đang nổ súng, bố trí đội hình bắc lộ 30 vừa bảo vệ Sở chỉ huy trung đoàn vừa tiếp cận mục tiêu, khi gặp địch thì bao vây tiêu diệt chúng! Bố trí đội hình xong, đang phổ biến nhiệm vụ cho các trung đội trưởng thì địch đến, Trung đội 1 báo cáo:

– Phía trước có đông người, rất có thể là địch!

Với tính thận trọng, Tùng nói:

– Khoan nổ súng, hãy quan sát kỹ, đề phòng trinh sát ta.

Vừa dứt lời địch nổ súng, Tùng hạ lệnh:

– Các trung đội trưởng về đơn vị chiến đấu, giữ vững đội hình, đánh chắc thắng!

Anh phân công anh Dực, đại đội phó trực tiếp nắm trung đội 3 vận động đánh vào sau đội hình địch. Qua một vài loạt súng không nghe thấy địch bắn nữa!

Sao lại có hiện tượng này? Chẳng lẽ địch chỉ bắn vậy sao? Hãy đề phòng chớ mắc mưu chúng. Lúc này Tùng đang đứng ở đội hình trung đội hai nằm giữa đội hình đại đội. Bằng linh cảm của mình, Tùng nhắc nhở các mũi: đề phòng hỏa lực mạnh của đối phương! Quả không sai. Chỉ trong nháy mắt, Thống – một tiểu đội trưởng vận động lại báo cáo: ở bụi tre phía trước có ổ trung liên địch.

– Được! Đồng chí dùng hỏa lực tự có của tổ diệt trung liên địch. Ba khẩu súng trường mới nổ được vài viên đạn mà không thấy địch phản ứng. Thống dẫn tổ xung phong. Ba anh em vừa vận động lên thì súng địch nhả đạn. Cả ba đều bị thương, rất may không ai hy sinh. Ngay lập tức, Tùng ra lệnh trung đội một dùng hỏa lực kiềm chế ngay trung liên địch để băng bó cho thương binh thì phía trước súng nổ dữ dội. Thế là tiểu đoàn biệt động quân sừng sỏ của địch tuần trước chạm trán với đại đội 21, nay lại đụng độ với một tiểu đoàn của ta. Đại đội anh trên tư thế sẵn sàng vận động chiến, cắt đội hình địch để “chia lửa” với bạn.

Vận động chiến nghĩa là vừa vận động vừa chiến đấu, hình thức tác chiến này anh em chưa quen nên không khỏi dè dặt. Hơn nữa, đã 12 giờ trưa mà chưa có lấy hột cơm vào bụng. Thêm vào đó đồ đoàn lỉnh kỉnh. Là người chỉ huy còn lại duy nhất của ban chỉ huy đại đội, anh hết sức lo lắng trước diễn biến tâm lý của bộ đội nên một mặt Tùng tăng cường động viên, mặt khác kèm theo biện pháp thích hợp để việc chấp hành mệnh lệnh có hiệu quả hơn, Anh ra lệnh:

– Tất cả dồn đồ đạc lại cử người trông coi, bảo vệ. Cơm nước tính sau, sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ!

Thấy anh kiên quyết, hơn nữa qua nhiều trận đánh kể cả những lúc gay go nhất anh đều có mặt đi đầu nên ai nấy tin tưởng tuân lệnh. Tùng vừa dứt lời thì tiểu đoàn 1 cùng bộ phận trinh sát trung đoàn gặp địch, nổ súng loạn xạ.

Trung đội 1 xuất kích! Anh đang đứng trong đội hình trung đội 2. Anh em báo cáo: có trung liên địch xuất hiện. Tùng quan sát rõ khẩu trung liên địch thấp thoáng bên cành lá, liền ra lệnh cho ba chiến sĩ nhằm mục tiêu diệt tên xạ thủ. Nhưng khổ nỗi khẩu súng trường bá đỏ cổ lỗ nổ đì đạch không đủ sức uy hiếp. Càng thấm thía cái khổ trong đánh giặc mà thiếu vũ khí. Khi ta xuất kích, chính ổ đại liên này gây không ít trở ngại. Nhưng khi hỏa lực địch xuất hiện, một bộ phận của trung đội 3 đánh tạt sườn, hỏa điểm chúng cùng bọn xung lực bị tiêu diệt. Ta thu một đại liên, 24 súng các loại, sáu máy thông tin.

Lúc này trận đánh đang phát triển thuận lợi. Nhưng quan sát địa hình Tùng nhận định có thể lực lượng địch còn trụ lại, anh ra lệnh tiếp tục truy quét đến cùng. Thật mừng, nhân lúc đó bắt liên lạc được với cánh anh Nguyễn Thới Bưng chỉ huy (anh Nguyễn Thới Bưng lúc đó là tham mưu trưởng trung đoàn cùng đi với một tiểu đoàn, sau này là Trung tướng – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Lúc này cách nhau một con suối nhưng bị cây cối che khuất. Từ bên kia anh Nguyễn Thới Bưng hỏi với sang:

– Ai đó, đơn vị nào?

Tùng trả lời:

– Đại đội 21 đây... Chín Tùng đây...

Biết quân ta đã hợp điểm, lập tức anh Nguyễn Thới Bưng hạ lệnh thổi kèn xung trận và bắt sống thêm 80 lính ngụy ra đầu hàng. Tiểu đoàn Cọp Đen biệt động quân hung hăng là vậy, một thời tác oai tác quái cả một vùng đã bị các anh xóa sổ. Trông những tên tù binh thật thảm hại. Trong chiến công chung này, đại đội 21 thật hãnh diện vì đã góp phần xứng đáng, tập thể đơn vị cũng như Nguyễn Thanh Tùng đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì.

Là người trong cuộc, đại tá Nguyễn Văn Quảng – nguyên Chính ủy Sư đoàn 9 – nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đánh giá về ý nghĩa của trận đánh này như sau: Trung đoàn 2 đánh thắng trận đầu ở miền Đông Nam Bộ, diệt tiểu đoàn 32 biệt động quân “Cọp Đen” ngụy khét tiếng tại Đường Long, Thanh Tuyền, bắc Bến Cát (1). Đây là tiểu đoàn sừng sỏ đầu tiên của quân ngụy bị diệt trong chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.

Ngày 31 tháng 3 năm 1963, địch mở cuộc hành quân càn quét lớn vào vùng căn cứ kháng chiến ta. Trung đoàn 2 thiếu một tiểu đoàn nhưng có một đại đội cơ động rất mạnh. Đó là đại đội 21 – Q762. Quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy và Ban chỉ huy trung đoàn là phải chặn diệt một mũi trong cánh quân của địch. Cách đánh của trung đoàn phải thật kiên quyết, dũng cảm và thông minh. Các đơn vị đều sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt gọn tiểu đoàn địch này, thu bắt địch triệt để, làm chủ trận địa, đánh gãy cuộc hành quân của chúng. Hình thức tác chiến là: chặn đầu thật chắc, khóa đuôi kín, bao vây chặt, đột phá dũng mãnh, “băm nát” đội hình địch, quyết dứt điểm.

Trận đánh kết thúc. Miền điện hỏi có “dứt điểm” hoàn toàn không? “Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”. Kinh nghiệm đó được nâng cao thêm rất phong phú trong các chiến dịch tiếp sau.

Thật lý thú, đại đội cơ động rất mạnh ấy và người cán bộ trực tiếp chỉ huy (vượt cấp) lúc đó là thiếu úy Nguyễn Thanh Tùng cùng đồng đội đã đột phá dũng mãnh “băm nát” đội hình địch, buộc chúng phải chuốc lấy thất bại thảm hại.

Đồng chí Lê Trọng Tấn (1) cũng rất tâm đắc nói với trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm : trận diệt tiểu đoàn 32 Cọp Đen được anh em khen ngợi không phải ý kiến của một mình tôi mà cả ý kiến của nhiều anh em cơ quan Bộ Tổng tham mưu cũng đều rất thích thú... Còn sau này, trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, trong một cuộc gặp gỡ tình cờ tại sở chỉ huy chiến dịch, đồng chí hỏi Nguyễn Thanh Tùng:

– Cậu là người trực tiếp chỉ huy đại đội cơ động mạnh của trung đoàn 2 tham gia diệt tiểu đoàn 32 Cọp Đen ngụy ở Đường Long, Bến Cát năm 1963 phải không?

– Thưa, dạ! – Tùng trả lời mà toàn thân nóng ran. Anh nghĩ lung: làm sao ổng biết “ta”? Biết bao việc lớn mà ổng nhớ tới những sự kiện về mình. Hay là, hay là... một loạt câu hỏi còn lơ lửng làm Tùng có phần bối rối. Đồng chí Lê Trọng Tấn nói thêm:

– Tôi được nghe anh Sáu Khâm nói về cậu, nay ta gặp nhau, biết nhau nhé. Gắng lên anh bạn tiểu đoàn trưởng trinh sát thân mến... – Nói đoạn ông cười rất sảng khoái.

Được đồng chí Lê Trọng Tấn động viên, Nguyễn Thanh Tùng thấy mình thật là may mắn, hạnh phúc. Anh thầm hứa sẽ vượt qua mọi khó khăn, ác liệt để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp lại lòng mong mỏi của cấp trên.

Sau ít ngày củng cố, nghỉ ngơi, Miền lại quyết định đại đội 21 phối hợp với Q762 (Q761 phiên hiệu của Trung đoàn 1 khi ấy đang đóng ở Tây Ninh) làm lực lương cơ động mạnh đánh ấp chiến lược Bến Cầu. Lúc ấy ở đây chỉ có một trung đội địch chiếm giữ. Nhưng điều quan trọng là đánh lực lượng tăng viện khi ấp chiến lược bị tiến công. Đúng như nhận định của trên, sáng hôm sau địch hành quân chi viện, gặp phải đội hình đại đội 21 và một tiểu đoàn bạn. Vừa mới chạm súng với ta, địch đã tháo chạy tán loạn để thoát thân, chỉ dùng phi pháo dội tới tấp cho đến chiều tối. Trong trận này, tuy chưa diệt được nhiều sinh lực địch nhưng đã phá âm mưu tái lập ấp chiến lược Bến Cầu để kềm kẹp nhân dân ta của địch.

“Đời chúng ta... đâu có giặc là ta cứ đi...”. Câu hát ấy đối với Nguyễn Thanh Tùng và đại đội 21 thật gần gũi và thân thiết lạ. Như cánh chim không mỏi, sau trận Bến Cầu, đại đội của Tùng được trên tăng cường hoàn chỉnh, lại được bổ sung thêm một trung đội để vận chuyển đạn dược. Từ huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh các anh lại băng rừng, vượt suối về Xuyên Mộc để giải phóng Bình Châu. Lúc này Nguyễn Thanh Tùng vừa được đề bạt chính trị viên, cùng với anh Thông đại đội trưởng lãnh đạo, chỉ huy đơn bị. Đời lính thật là thú vị, lên rừng, xuống biển, coi thường gian khổ, hy sinh, luôn lạc quan yêu đời, tin tưởng và tất thắng. Vì thế mà anh đã tâm đắc, tự nhủ với lòng mình bằng những vần thơ của ai đó sáng tác:

“... Dẫu hy sinh cho Tổ quốc ta ơi

Máu thắm đỏ lời ca bay vào đất

Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc

Mảnh gỗ đơn sơ để khắc tên mình...”

Xã Bình Châu thuộc huyện Xuyên Mộc, giáp huyện Hàm Tân, là xã cuối cùng của tỉnh Bà Rịa. Dân cư thưa thớt chỉ tập trung đông hơn vào mấy khu vực: trung tâm xã, chợ và bến cá. Là một xã ven biển có chiều dài từ 7 – 8 ki-lô-mét. Để án ngữ một địa bàn trọng yếu, địch lập nên ấp chiến lược có một đại đội tề ngụy ác ôn và địa phương quân quản lý khống chế, được bố trí làm ba khu vực: một đồn đóng trung tâm Bình Châu, một bộ phận ở cảng cá và một điểm sát biển nhằm kiểm soát gắt gao ngư dân ra vào. Đặc biệt, đề phòng lực lượng cách mạng trà trộn hoạt động.

Điều khó khăn trở ngại của ấp chiến lược Bình Châu nằm xa chi khu huyện Xuyên Mộc và xa cả các đơn vị cơ động nên bọn giặc ở đây luôn nơm nớp lo sợ nếu bị tấn công rất dễ bị cô lập và tan rã.

Nắm vững đặc điểm này, qua một vài lần điều tra, nghiên cứu, nắm thời cơ, đơn vị xuất kích. Địch không kịp trở tay đối phó. Ngoài số tên bị đền tội, bọn còn lại tìm đường thoát thân. Bình Châu được giải phóng, bãi biển tươi đẹp nên thơ này lại là nơi tiếp nhận những chuyến tàu chở vũ khí bí mật từ miền Bắc thân yêu xa xôi tiếp sức cho miền Nam. Cũng từ đây, lần đầu tiên đại đội anh được ưu tiên mấy cây súng trường bá đỏ. Lần thứ hai nhận bốn khẩu tiểu liên AK với những viên đạn đồng đỏ thắm. Chao ơi, tình Nam nghĩa Bắc chia sẻ ngọt bùi cay đắng... thấm đậm lắm thay! Các anh luôn nghĩ: mình thuộc diện ưu ái số một được đón nhận mặt hàng chiến lược đặc biệt này. Còn biết bao đồng chí, đồng bào đang đỏ mắt đón chờ từng khẩu súng, viên đạn! Kẻ thù thì bạo ngược, tàn ác, mà ta thì lại chưa đủ súng đạn để tự vệ mình và tiêu diệt địch! Đó là nỗi bức xúc của nhiều đồng bào, đồng chí trong một thời gian dài...

Đêm đêm những đoàn bộ đội, thanh niên xung phong hỏa tuyến cứ hối hả bốc giỡ giải phóng nhanh những mặt hàng trên con tàu không số. Hàng hóa quý giá ấy hối hả chuyển đi muôn ngả chiến trường mà kẻ thù không thể nào hiểu nỗi.

Từ đây anh có dịp gặp ông Mười Thà, tỉnh đội trưởng Bà Rịa. Các anh rất vui vì có ông Mười Thà, ngược lại ông Mười cũng phấn khởi khi gặp quân chủ lực Miền để cùng nhau phối hợp chuẩn bị đánh vào chi khu Đất Đỏ. Sau khi điều nghiên xong, hạ quyết tâm chỉ chờ hành động thì nhận được chỉ thị của Miền thành lập tiểu đoàn trinh sát 46, lấy đại đội 21 làm nòng cốt. Anh được đề bạt chính trị viên phó để tham gia chiến dịch Bình Giã, tiếp đó chuẩn bị đánh Đồng Xoài. Lúc này đại đội 21 được phân làm hai. Các loại hỏa lực Q762 rút về chỉ trang bị gọn nhẹ mang tính chất trinh sát đặc công. Mỗi trung đội đi về một hướng. Trung đội ở Bà Rịa do anh Tâm chỉ huy (anh Tâm sau này làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 5) để đi điều nghiên cùng anh Vũ Ba từ trên Miền xuống. Một cánh khác đi với anh Mười Cộng từ chiến khu Đ ra Hoài Đức, Tánh Linh cắt thẳng về Bình Châu – Xuyên Mộc để báo cáo. Sở chỉ huy chiến dịch đã về dưới Bình Châu. Khi ấy anh Mười Cộng cũng về tác chiến Miền. Còn anh đi với một trung đội nghiên cứu chi khu Hoài Đức, Tánh Linh, đơn vị hải thuyền địch ở Bình Thuận. Sau đó bố trí một lực lượng nhỏ ở lại bám nắm địch, số còn lại trở về Bình Châu tham gia đánh Bình Giã. Chuyến công tác Bình Thuận thuộc Khu 6 cũng thật gian nan: thiếu gạo trầm trọng, phải kiếm củ, quả, lá cây rừng thay cơm, nhưng vẫn bám nắm địch, hoàn thành nhiệm vụ. Trên đường đi, một cán bộ tên Dựa vừa mới đề bạt trung đội bậc trưởng, vết thương ở phổi bị tái phát rất nặng phải nằm lại ở Long Khánh. Do thuốc thang thiếu thốn không đủ để chăm sóc, ít lâu sau anh đã hy sinh. Còn khi vượt qua đường 20, không may gặp địch, thêm một đồng chí tiểu đội phó bị thương, nên phải tổ chức khiêng cáng nhiều ngày ra tới Tánh Linh, gửi vào trạm y tế. Do đó nỗi vất vả, gian nan tăng gấp nhiều lần. Nhưng Nguyễn Thanh Tùng không những khéo động viên mọi người đồng cam cộng khổ mà bản thân anh cũng kề vai san sẻ với chiến sĩ và cấp dưới. Kết quả chẳng những đã đưa được thương binh về tới đích an toàn mà còn chấp hành nghiêm chỉnh thời gian để kịp bước vào nhận nhiệm vụ mới. Giữa lúc các bộ phận trinh sát có nhiệm vụ đặt đài, theo dõi địch, đưa đường, bảo vệ các đồng chí chỉ huy... đều hoàn thành tốt. Kết thúc chiến dịch, trở về chiến khu Đ củng cố, Phòng Chính trị Miền xuống truyền đạt: yêu cầu Nguyễn Thanh Tùng sang giữ cương vị tiểu đoàn phó. Khi mở chiến dịch Đồng Xoài, anh được đề bạt lên làm tiểu đoàn trưởng.

Từ 11 tháng 5 đến 22 tháng 7 năm 1965, ta mở chiến dịch Đồng Xoài thuộc tỉnh Bình Long, Phước Long (hướng chính) để thăm dò sức mạnh đối phương của Mỹ, ngụy, vừa tạo thời cơ tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng.

Để phục vụ chiến dịch, lực lượng tiểu đoàn trinh sát 46 được triển khai các hướng cho các sư đoàn. Anh Duyên tiểu đoàn trưởng cùng một bộ phận đi trực tiếp với Sở chỉ huy chiến dịch do đồng chí Hoàng Cầm làm tư lệnh. Còn Nguyễn Thanh Tùng trực tiếp đi với một trung đội trinh sát đột nhập để đánh chiếm núi Bà Rá.

Những ai đã từng hoạt động chiến đấu ở đây trong những năm chống Mỹ, cứu nước đều có thể hình dung được tầm quan trọng và tính chất lợi hại của vị trí này. Đỉnh núi Bà Rá có độ cao 723 mét so với mặt biển. Lợi dụng thế cao và hiểm trở của địa hình, Mỹ, ngụy chọn nơi đây đặt đài chỉ huy điều không và đài quan sát pháo binh rất tiện lợi. Chính vì vậy chúng cắm chốt một trung đội trinh sát kỹ thuật được trang bị đầy đủ máy móc hiện đại dưới sự điều hành trực tiếp hàng ngày, thậm chí hàng giờ với bộ tổng tham mưu ngụy ở Sài Gòn. Đặt đài quan trắc sử dụng máy quang học có thể quan sát cả một vùng rộng lớn mọi động thái của đối phương, gây trở ngại không ít các hoạt động của quân ta.

Phải đột nhập, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu các phương tiện khí tài quan trọng của chúng để tăng cường trang bị cho ta khi thời cơ cho phép. Đặc biệt dùng mưu trí đánh lừa địch, bắt giữ chiếc máy bay trực thăng khống chế giặc lái đưa về vùng căn cứ của ta ở Bù Na – một ấp chiến lược vừa bị đặc công đánh chiếm và giải phóng.

Trước mắt, có nhiệm vụ tiềm nhập lên núi, lợi dụng địa hình đặt đài quan sát để 8 giờ sáng ngày hôm sau quan sát được tiểu khu Phước Long và Sở cao su Phú Riềng.

Nhận nhiệm vụ, tâm trạng anh rất mừng xen lẫn nỗi lo. Mừng là được cấp trên tin tưởng giao cho mình nhiệm vụ đặc biệt bày. Nhưng lo nhất là địa hình hoàn toàn mới lạ, từ trước tới giờ chưa một ai đặt chân đến. Địch bố phòng ra sao cũng chưa hình dung được. Song, có một điều là vững tin vào bản lĩnh của mình và tất cả cán bộ, chiến sĩ ai cũng có đầy đủ ý chí quyết tâm, sẵn sàng xả thân vì nhiệm vụ cao cả. Sự bạc nhược, hèn nhát không có chỗ đứng trong đội ngũ những con người đã được tuyển chọn qua thực tiễn đối mặt giữa cái sống và cái chết.

Từ Bù Na nơi vị trí giấu quân vào chân núi còn khá xa. Lợi dụng một chiếc xe tải của dân chở heo, nhưng thực tế là xe của cơ sở tổ chức đón rước anh em ta, nhờ vậy đỡ được quãng đường và tiết kiệm thời gian. Khi tới gần chân núi thì trời đã sẩm tối. Sau khi nghỉ ngơi, ăn lương khô để lấy lại sức khỏe rồi trải bản đồ, địa bàn định hướng để đi góc phương vị. Nhìn thì gần mà khi luồn rừng, đặc biệt là ban đêm cực kỳ gian khổ. Chưa kể đến sên vắt leo bám đầy mình và chân tay. Tuy vậy, điều lo lắng hơn cả là nguồn nước uống. Có thể dăm bảy ngày hoặc vài tuần tắm một lần, nhưng nước uống không thể thiếu từng bữa. Vì vậy, khi lên lưng chừng núi gặp con suối nhỏ, anh chỉ thị mỗi tổ ba người thì hai người mang nước vào bồng còn một đưa đồ đoàn cá nhân. Thậm chí khi tới nơi giấu quân, chấp nhận ngủ chồng người trên người dưới để rút tăng hứng nước mưa cho cuộc bám trụ có thể kéo dài. Thật may mắn, mơ được ước thấy, một cơn mưa đột xuất giữa mùa khô càng làm cho ai nấy thêm khoan khoái về tinh thần, hơn nữa có thêm nguồn nước mát để phòng xa qua các “thùng” tăng đầy căng. Tất cả chỉ thị phát ra đều được anh em chấp hành triệt để, càng nghĩ anh càng thương hơn cấp dưới của mình.

Cơn mưa vừa dứt thì có một chú rùa từ đâu xuất hiện: to bành, nặng hàng chục ký lô, mai xù xì, chân mốc thếch, đầu gồ ghề dễ chừng nó đã nhiều năm tuổi. Anh em cùng chung tay lật ngửa rùa lên để quan sát. Ai cũng lấy làm tiếc rẻ, nếu như lúc bình thường gặp được thế này thì tốt biết mấy...

Trời về khuya, trên núi cao càng thêm lạnh. Trừ người làm nhiệm vụ cảnh giới, còn lại đều chìm sâu vào giấc ngủ. Đời lính đáng yêu sao, coi thường gian khổ, đạp lên cái chết thật thanh thản, nhẹ nhàng. Riêng anh, giấc ngủ cứ chập chờn, vì bao tình huống chiến thắng hoặc thất bại đang còn chờ phía trước. Tiếng côn trùng rả rích như kéo chiều sâu của cánh rừng vào đêm thăm thẳm.

Mờ sáng hôm sau, theo thói quen của người lính trinh sát, khi thức dậy không ai bảo ai, xóa mọi dấu vết đề phòng địch đi lùng sục phát hiện, nghi vấn và tất cả trở lại tư thế sẵn sàng chiến đấu. Anh phân công đồng chí Lượng, trung đội trưởng dắt một tổ chọn địa điểm đặt đài quan sát về hướng Phước Long. Xong đâu đó, Lượng điện báo cáo:

– Đài quan sát rất rõ tiểu khu Phước Long và Sở Cao su Phú Riềng.

Nhận được thông tin này anh mừng đến nôn nao. Mừng hơn nữa, một lực lượng ta lên sát hông địch mà chúng không hề hay biết mũi dao nhọn sắc đã kề cận cổ. Từ đây, anh điện báo về cho Sở chỉ huy chiến dịch những gì mà đội quân “sơn cước” đã thu thập được. Và Sở chỉ huy cho hay: nhận định ở trên thế nào địch cũng đổ quân xuống Phú Riềng! Ta bố trí lực lượng bủa một mẻ lưới để bắt chúng phải đền tội.

Ba giờ chiều, Hồng, đại đội trưởng về báo cáo: tôi đã cùng anh em tiếp cận tới gần và quan sát rất rõ đỉnh núi. Anh thận trọng hỏi thêm Hồng với số người cùng đi một vài chi tiết rồi hạ lệnh sẵn sàng xuất kích. Nhằm lúc trời đổ mưa lớn, nước chảy tràn trề không thể vẽ sơ đồ lên mặt đất, mà xòe bàn tay chỉ hướng tiến công và mục tiêu đảm nhiệm cho từng tổ và cá nhân.

Khi đi đem theo hai khẩu trung liên, nhưng xét thấy nặng nề, cồng kềnh quá đành để lại tại vị trí dừng chân, chỉ mang theo hai khẩu tiểu liên AK cùng cơ số đạn và dao găm, súng trường, rồi bắt đầu tiếp cận quân địch.

Lúc này cơn mưa vừa tạnh, như được tưới mát, vô số con vắt lại có dịp hoạt động. Nó bật tanh tách như châu chấu qua kẽ lá rồi bám dính đầy người. Thật là một sự trái nghịch nhau, trong khi ai nấy đang cần tranh thủ thời gian và đòi hỏi sự bí mật rất cao. Chỉ một cành củi gẫy cũng đủ phát ra tiếng động làm cho địch chú ý. Vậy mà than ơi, vắt bám kín mình mẩy cần phải gỡ, bằng không chúng thi nhau hút máu đến căng tròn thì tai họa nhường nào! Biết thế, mà đành phải chấp nhận: vắt bám đầy. Mặc! Máu tứa. Mặc! Tất cả cho chiến thắng kẻ thù. Thế rồi dường như không ai còn chú ý đến loài vắt quái ác đang bòn rút không thương tiếc cơ thể của mình nữa. Cứ thi gan với chúng. Đi sát bên anh là một báo vụ viên đảm nhiệm chiếc máy PRC 25 của Mỹ do đại đội 21 thu được của địch từ trận trước. Máy làm việc cần mẫn và thông suốt, vừa giúp anh liên lạc thường xuyên nhận chỉ thị mệnh lệnh từ Chỉ huy sở, vừa theo dõi địch khi chúng mở máy làm việc về trung tâm bộ tổng tham mưu ngụy tại Sài Gòn và tiểu khu Phước Long.

Là người chỉ huy trực tiếp, một giây lát suy nghĩ vụt lóe trong đầu, anh nhận định. Đây là thời cơ tuyệt đẹp, không thể chần chờ. Phải biến yếu tố tinh thần, ý chí quyết tâm cộng với vũ khí thành sức mạnh. Đó là cơ hội tốt nhất và... ra lệnh: Đánh! Khi trinh sát không thấy công sự nhưng khi thực hành chiến đầu thì lại có công sự và giao thông hào. Có ý kiến đề xuất: dùng lựu đạn ném phủ đầu. Anh không đồng tình, làm như vậy hao tốn vũ khí mà hiệu quả không cao.

Trong giây phút hồi hộp ấy, anh ra lệnh cho Hồng, đại đội trưởng tập trung hai khẩu AK bắn tên chỉ huy và tên lính thông tin. Từ loạt đạn đầu, thằng chỉ huy gục ngay tại hầm làm việc, còn tên lính thông tin kịp nhảy xuống hầm thoát chết, hồn vía lên mây. Trong lúc địch còn ngơ ngác chưa biết chuyện gì đang xảy ra thì anh em đồng loạt xông lên khống chế các tên còn lại, chúng không kịp trở tay đối phó. Một vài anh nhanh tay định giật mấy chiếc tăng khá tốt của địch để dùng. Anh ngăn lại không cho và nảy ra ý nghĩ hết sức táo bạo. Anh hạ lệnh cho tên lính thông tin của địch vừa bị ta bắt sống làm theo ý mình. Tất cả anh em lấy quần áo của địch mặc vào vào bố trí theo đội hình tác chiến bao quanh điểm cao. Sở dĩ phải làm như thế là để nghi binh, khi máy bay trực thăng đến, chúng tưởng đó là quân Việt Nam Cộng hòa. Anh áp đảo tên lính thông tin bằng một khẩu lệnh dứt khoát:

– Anh đã bị bắt, nhưng cách mạng sẽ khoan hồng cho anh nếu anh lập công chuộc tội.

Mặt nó như không còn hạt máu, miệng lắp bắp dạ... dạ em làm y lời các ông. Nó còn xưng:

– Thưa, em là trung sĩ truyền tin, thuộc tiểu đoàn thông tin bộ tổng tham mưu, dân di cư Bắc 54, vừa đi học ở Vũng Tàu về. Hãy tha tội chết cho em, em làm mọi điều theo yêu cầu của quý ông.

– Nó run rẩy mếu máo như khóc vậy.

Anh nói:

– Anh báo về cấp trên của anh là Việt cộng đột nhập, chúng tôi nổ súng chống lại, ta có mấy người bị thương. Đề nghị cho trực thăng lên gấp để cấp cứu và đưa nước xuống để dùng.

Tên lính lập tức làm theo. Cấp trên hắn hỏi lại:

– Việt cộng đột nhập từ hướng nào?

Chín Tùng bảo nó trả lời:

– Hướng đông bắc, hướng đông bắc! (nhưng thực ra ta đột nhập từ hướng khác để đánh lạc hướng chúng).

Sau một hồi “trao đổi” nhưng kỳ thực trinh sát kỹ thuật của chúng từ bộ tổng tham mưu ngụy Sài Gòn đã nhận thấy căn cứ cao điểm núi Bà Rá đã bị ta đánh chiếm. Chúng cho máy bay phản lực mang bom xăng tới hủy diệt hòng chặn đường lui quân của ta.

Không thể mắc mưu địch, anh liền hạ lệnh cho anh em gom 14 tên tù binh địch giải xuống triền núi và thu toàn bộ trang bị kỹ thuật bao gồm: sáu máy thông tin PRC 25, PRC 10, PRC 6. Đặc biệt trong đó có một máy trắc địa loại trinh sát tầm xa cho pháo mặt đất. Số khí tài này đã góp phần bổ sung trang bị cho các cấp chỉ huy của quân giải phóng.

Chiến dịch Đồng Xoài mở màn từ 11 tháng 5 đến 22 tháng 7 năm 1965 thì kết thúc. Tiểu đoàn 46 trở về hậu cứ suối Bà Chiêm, chiến khu Dương Minh Châu để củng cố chuẩn bị cho đợt hoạt động mới, đồng thời bảo vệ vòng ngoài của Bộ Chỉ huy Miền. Lúc này, Nguyễn Thanh Tùng lại được chỉ định đưa một bộ phận trinh sát về hướng Biên Hòa để điều nghiên các căn cứ quan trọng như tổng kho Long Bình, sân bay Biên Hòa. Ở đây, anh may mắn gặp được đồng chí Trần Công An (Hai Cà) tỉnh đội trưởng, sau này là đại tá, Anh hùng quân đội, anh Bích tư lệnh pháo binh Miền, anh Chín Chước – trợ lý tác chiến Miền. Được sự giúp đỡ của các anh để chuẩn bị nhiệm vụ chiến lược Xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu chủ yếu được chuẩn bị lúc ấy là sân bay Biên Hòa, tổng kho Long Bình, quân đoàn 3 ngụy, tiểu khu Biên Hòa và một số khu vực khác. Bằng sở trường nghề nghiệp, các anh đã đeo bám nắm tình hình địch, vẽ sơ đồ lên phương án tưởng định, một tháng bay vèo khi nào không hay. Xong xuôi đâu đó, anh trở về tiếp tục chỉ huy đội quân trinh sát hướng An Điền, An Tây – nam Bến Cát xuống tới Sài Gòn. Cùng đi có anh Châu Thái Hùng – cánh T4 Sài Gòn – Gia Định – chuẩn bị để đưa lực lượng cho Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Công việc bao gồm: chuẩn bị địa hình, địa vật cánh rừng cao su Ri Nết, bắc Bến Súc, sau đó về An Nhơn Tây kéo qua cầu Sài Gòn. Đây là ba căn cứ lõm giữa mênh mông sự kiềm tỏa gắt gao của đối phương.

Công việc của anh quá quen thuộc. Đó là vẽ sơ đồ, đánh dấu vị trí giấu quân cho các đơn vị, đặt các chốt trinh sát bảo vệ địa bàn. Đường hành quân qua các địa hình rừng chồi, có nơi địch ủi bình địa trống trơ. Lúc này anh không nghĩ là mình đang đứng trên đầu cơn bão tố sắp nổ ra nay mai.

Quân địch đã mở liên tiếp những trận càn mà những ai yếu bóng vía nghe cái tên đã nổi gai ốc: bủa lưới, phóng lao, trên đe, dưới búa gồm hàng vạn quân, hàng trăm máy bay, xe tăng, cỗ pháo... vào trận hòng bẻ gãy xương sống Việt cộng. Xung quanh Sài Gòn địch bố trí vòng trong, vòng ngoài, phòng ngự có chiều rộng và chiều sâu đề phòng ta tấn công.

Nguyễn Thanh Tùng nhớ lại: để thực hiện cho chiến dịch Gian-xơn Xity, địch đã chuẩn bị nhằm vào căn cứ bắc Tây Ninh. Đó là khu rừng già bằng phẳng, có quốc lộ 22 đi qua Cam-pu-chia, có đường số 4 đi từ biên giới về núi Bà Đen, Tây Ninh, có tỉnh lộ từ Cần Lê đi qua sóc Con Trăng, đi qua Bố Túc, Cà Tum. Có sông Sài Gòn, suối Bà Hảo, suối Tha La. Địa hình rất tiện cho hành quân cơ giới. Căn cứ trong rừng già nhưng có nhiều trảng trống tiện cho nhảy dù và đổ quân bằng trực thăng. Vài tháng trước ngày hành quân, Mỹ cho rải chất độc hóa học làm rụng hết lá cây rừng chỉ còn lại chà khô trơ trọi. Chỗ nào nghi là có công sự vững chắc, chúng thả chất độc có hơi cay vài tháng sau vẫn không ở được. Địch còn dùng máy bay B52 liên tục đánh phá căn cứ, hòng diệt sinh lực ta mấy tháng trời. Chúng còn xây dựng các bàn đạp để tiến công như: Dầu Tiếng (Sở chỉ huy chiến dịch), Suối Đá – Tây Ninh, Trảng Lớn, Hớn Quản – Lộc Ninh, bố trí các trận địa pháo 175 ly để chi viện.

Anh kể tiếp: “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, Dưới sự lãnh đạo tài tình của Bộ Chính trị – Trung ương Đảng, của Bác Hồ, của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Chỉ huy Miền đã sớm phát hiện ý đồ đen tối và nham hiểm của địch, từ đó tỉnh táo chuẩn bị thế trận chiến tranh nhân dân tại căn cứ không có dân thật là một kế sách hết sức độc đáo. Ta biến các cơ quan thành các cụm chiến đấu từ cơ quan dân y, văn phòng Trung ương Cục. Các cơ quan Bộ Chỉ huy Miền tổ chức thành 13 cụm, phân công khu vực chiến đấu kiên quyết bám trụ không được rời. Ở khu vực được phân công, từ thủ trưởng đến anh chị em lo việc ăn uống đều được trang bị AK, súng B40, B41 để chiến đấu. Thế là chúng ta đã sẵn sàng cho cuộc đọ sức có một không hai ấy.

Thế rồi từ mờ sáng 22 tháng 2 năm 1967, khi mặt đất còn loang khói của những trận mưa bom (200 lần chiếc B52 – mỗi chiếc chở 30 tấn bom), địch bắt đầu hành quân bằng nhảy dù, đổ bộ đường không bằng trực thăng ở hai huyện Cà Tum và Tà Đạt sát biên giới Cam-pu-chia, kết hợp cơ giới và bộ binh sư đoàn 25 - Tia chớp nhiệt đới, trung đoàn 11 thiết giáp đánh bằng nhiều mũi theo trục lộ 22, lộ 4, Sóc Ky. Trong thế trận đã bày sẵn chúng tới đâu cũng bị ta đánh, cơ giới bị cháy, trực thăng bị bắn rơi, các căn cứ yểm trợ lẫn chỉ huy sở cũng bị pháo ta bắn.

Tối 28 tháng 2 năm 1967, sau một tuần địch không chiếm được vị trí nào. Tướng Oét-mo-len than thở: “Chẳng thấy bóng một tên du kích đâu cả nhưng bất cứ ở đâu đều bị du kích chặn đánh”.

Đầu tháng 3 năm 1967, các đơn vị thiện chiến của địch buộc phải rút ra co cụm trên các trục lộ giao thông để bảo đảm tiếp tế. Ngày 3 tháng 3 năm 1967, từ thủ đô nước Mỹ phát đi những tín hiệu chẳng lành: “Hành quân thất bại, tốn kém 25 triệu đô la, quân số thương vong quá mức dự định, từ 5 phần trăm lên 12 phần trăm rồi 16 phần trăm. Tinh thần binh lính quá căng thẳng... Hành quân không có tác dụng hỗ trợ cho bình định và quân đội Sài Gòn vẫn bị đánh”. Ngày 18 tháng 3 năm 1967, tức sau 18 ngày đêm lực cạn sức mòn, Bộ chỉ huy Mỹ ra lệnh rút lui bảo toàn lực lượng để chuẩn bị cho đợt 2. Việc kết thúc đợt 1 là ngoài ý định của quân Mỹ. Giai đoạn 1 thực sự là một tấn thảm kịch mà quân Mỹ phải trả với giá hàng ngàn tên bỏ mạng, hàng trăm xe bị phá hủy, hàng trăm máy bay các loại bị bắn rơi.

Ngày 18 tháng 3 năm 1967 địch bắt đầu hành quân giai đoạn 2. Ngay từ ngày đầu huyện Bà Hảo và Dương Minh Châu đã bị diệt hàng trăm tên vừa đổ quân. Đợt 1 Sư đoàn 9 đã đánh ở Đồng Pan, Tà Xịa, Đồng Rùm. Qua đợt 2, Sư đoàn 9 quyết đánh địch các trận thật đau. Ngày 19 tháng 3, Trung đoàn 3 đánh địch trên đường 13 – vị trí tập kết của địch. Sư đoàn 9 đã tung ra các trận đánh lớn kết thúc 53 ngày đêm chiến đấu.

Với 45 ngàn quân và hàng ngàn máy bay, hàng ngàn xe bọc thép, hàng ngàn khẩu pháo tấn công trên diện tích 15.000 ki-lô-mét vuông, sử dụng 3000 tấn bom, đạn nhưng cuộc hành quân (Gian-xơn-Xity) kết thúc với kết quả đáng bu