Giới thiệu      |      Các anh hùng      |      Trang đầu

 

(ANH HÙNG NGUYỄN QUYẾT CHIẾN)

Anh hùng Nguyễn Quyết Chiến sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội trưởng xã Phú Hữu.

Năm 1965 Nguyễn Quyết Chiến vào du kích, đã đánh và chỉ huy du kích đánh trên 100 trận, diệt hàng trăm tên địch, thu trên 20 súng các loại. Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bám sát theo dõi chặt chẽ hoạt động của 1 đại đội Mỹ càn vào xã, ban đêm anh bò vào đặt mìn giữa đội hình trú quân của địch, thấy địch sơ hở, anh lấy 8 khẩu súng chuyển ra ngoài xong quay lại điểm hỏa mìn, diệt 1 trung đội Mỹ. Ngày 18 tháng 12 năm 1967, Nguyễn Quyết Chiến bí mật đột nhập nơi địch đóng quân dã ngoại, sau khi lấy được 4 khẩu súng chuyển ra ngoài thì bỗng nhiên địch sục sạo xung quanh, anh bình tĩnh, táo bạo, mưu trí vào hẳn bên trong trà trộn nằm cạnh địch vờ ngủ, chờ yên tĩnh mới đánh mìn diệt 20 tên địch. Trận ngày 20 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Quyết Chiến chỉ huy 1 tổ du kích tập kích địch đang trú quân trong xã. Sau khi bố trí mìn xong, thấy thời gian còn thuận lợi. Chiến xung phong vào lấy khẩu đại liên của địch, dặn lại nếu bị lộ thì anh em cứ điểm hỏa mìn, còn anh tìm cách đánh địch. Kết quả, vẫn lấy được khẩu đại liên, vẫn nổ mìn diệt 40 tên Mỹ, ta an toàn. Nguyễn Quyết Chiến luôn chăm lo xây dựng đội du kích lớn mạnh, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, luôn chủ động, tích cực phục vụ cho các đơn vị chủ lực vào đánh các căn cứ quân sự của Mỹ ngụy, tạo địa bàn vững chắc cho bộ đội hoạt động ở phía đông thành phố Sài Gòn.

Đồng chí đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba). Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Nguyễn Quyết Chiến được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

NGUYỄN QUYẾT CHIẾN-NGƯỜI ANH HÙNG DU KÍCH

LÊ BÁ ƯỚC

Trong ấp chiến lược Giồng Ông Đông xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, gia đình ông Nguyễn Văn Thể, hai bên nội ngoại, từ đời ông cố, ông sơ năm thế hệ kế tiếp nhau bám đất bám rừng, vợ ông – bà Võ Thị Ngọt hạ sinh ba cô con gái và độc nhất chú con trai Nguyễn Văn Sâm. Trong tình cảnh khốn cùng, từ lúc lên 7 đến năm 17 tuổi đời Sâm phải đi ở đợ, coi trâu, chăn vịt mướn phụ với mẹ cha nuôi gia đình. Đến năm 19 tuổi (1955) Sâm gặp cô Ba Nương cùng xóm kết nghĩa vợ chồng. Rồi theo luật của tạo hóa, có gà trống, gà mái lại đẻ ra gà con. Trong khó khăn thiếu thốn cả gia đình đùm bọc, nương tựa vào nhau, anh Sâm và chị Nương vỏn vẹn chỉ có cái chòi trống trước, trống sau. Lo làm ăn bươn chải ngày ngày cày thuê cấy mướn nuôi hai đứa con.

Lúc bấy giờ Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam thực thi luật 10/59. Giầy đinh của kẻ thù lại nện xuống mảnh đất quê hương giàu truyền thống yêu nước này. Một số thanh niên như Út Ngọc, Tư Bảnh, Tám Tâm, Năm Thời... liền trốn ra căn cứ Sở Dừa làm du kích, lập chi bộ. Còn Sâm, nặng gánh gia đình nên tự nguyện tham gia du kích mật, giao liên móc nối, đưa tin cho các anh chị suốt mấy năm liền hoàn thành nhiệm vụ không sơ suất lộ liễu điều gì.

Đến cuối năm 1965, giặc ra lệnh động viên, ráo riết bắt quân dịch, khó ai tránh né được. Tình thế cả miền Nam lúc này từ thành thị đến nông thôn ở lứa tuổi thanh niên chỉ có hai con đường, đi lính làm tay sai cho giặc Mỹ hoặc tìm cách thoát ra rừng, lên chiến khu đi theo cách mạng. Sâm từ giã vợ dại, con thơ, cha già, mẹ yếu tình nguyện gia nhập với đội du kích xã Phú Hữu. Để giữ bí mật cho gia đình, anh được đổi thành tên Nguyễn Quyết Chiến. Lúc này xã Phú Hữu trực thuộc sự chỉ đạo, chỉ huy của đặc khu quân sự Rừng Sác (Đoàn 10).

Năm 1966, lúc đầu anh làm đội viên, tham gia đánh một số trận kết quả được đề bạt xã đội phó và đến đầu 1968 là xã đội trưởng thay các đồng chí đã hy sinh. Trong bản thành tích báo cáo trước đại hội mừng công Phân liên khu 4 cuối 1969 có ghi nhận, du kích xã Phú Hữu đánh hơn 150 trận lớn, nhỏ, diệt 300 tên Mỹ, ngụy, thu nhiều súng đạn, riêng Nguyễn Quyết Chiến trực tiếp đánh 56 trận. Mới nghe nói, chỉ có 10 du kích mà chia đều thành tích mỗi người diệt 30 tên giặc Mỹ tưởng như là câu chuyện thần thoại, nhưng sự thực là với tài thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần, mưu trí sáng tạo anh em đã lập được kỳ công, mà trong này công lớn thuộc về người xã đội trưởng Nguyễn Quyết Chiến.

Tháng 8 năm 1968 đồng lúa từ Phước Khánh qua Phú Hữu đến Cát Lái vẫn tạm yên ắng, ngụy chỉ ở trong đồn bót, trong ấp chiến lược, còn Mỹ thì lúc nhúc ở Dã Chiến III, Nhà Bè dọc sông Lòng Tàu. Đoàn 10 tổ chức trận pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly, lần đầu tiên sát nách Sài Gòn – Gia Định, ở hướng Đông Nam từ trận địa bờ đập Phước Lương ta nã hai tấn rưỡi đạn vào dinh Độc Lập và tòa đại sứ Mỹ làm náo động cả nội đô. Chiến công này làm đau đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Bọn giặc tập trung lực lượng ra tay đối phó, vì cảm thấy không còn an toàn cho cơ quan đầu não của chúng. Chúng tung lữ đoàn 199 thủy quân lục chiến Mỹ hành quân lấn chiếm vùng sình lầy xã Phú Hữu để chốt giữ ở tất cả điểm cao như gò Bình Bát, gò Ô Môi, ngã ba Giồng Sắn. Tình hình chiến sự khu vực này hết sức căng thẳng nhưng cũng tạo cho du kích Phú Hữu có thời cơ diệt Mỹ.

Vào một đêm tối trời tháng 2 năm 1969, một tiểu đội lính Mỹ với chó béc-giê hung dữ chốt ở tại nhà ông Năm Tào ở Bến Ngự. Dưới sự chỉ đạo của Phó bí thư chi bộ Tám Tâm, xã đội trưởng Quyết Chiến chỉ huy du kích xã chia làm ba mũi, áp sát mục tiêu. Nhưng anh biết rõ là hiện còn có vợ chồng anh Trần Ai, cùng hai con nhỏ, lại là cơ sở của ta từ Cần Giuộc tỉnh Long An chuyển về ở nhờ trong nhà ông Năm Tào. Sau khi hội ý chớp nhoáng với anh em, Chiến thấy địch nhiều sơ hở, phải ăn cắp súng trước. Trong lúc địch ngủ say như chết, anh tuần tự êm ả lôi ra ba khẩu AR15 cứ mỗi lần một khẩu, đến lần thứ tư anh vòng ra phía sau khẽ gọi anh Trần Ai dậy, bảo vợ con vào hầm trú ẩn. Định bấm công tắc điện cho mìn nổ, anh lại thay đổi kế hoạch, không đánh DH10 e rằng cả Mỹ và người của ta thiệt hại, cuối cùng anh chỉ sử dụng 5 trái lựu đạn da láng tung vào diệt gọn tiểu đội Mỹ cùng con chó, và rút lui an toàn.

Tháng 8 năm 1969 lữ đoàn thủy quân lục chiến Mỹ 199 tổ chức càn vào khu vực Sở Dừa, Chiến tổ chức anh em du kích bám sát địch suốt cả ngày. Khi chúng trụ lại ở ngã ba Giồng Sắn, xã đội trưởng Quyết Chiến tổ chức lực lượng thành ba tổ, tổ một có Chiến, Trân và Đề, tổ hai xã đội phó Tư Bảnh chỉ huy, tổ ba do Tám Tân chỉ huy, mỗi tổ trang bị hai mìn Clâymo, một ĐH10, hai khẩu AK, hai khẩu AR 15 và 10 quả lựu đạn. Trời vừa tối, anh em đã bám sát các mục tiêu. Khoảng nửa đêm, Chiến và Bảnh hội ý để đội hình nằm ngoài, riêng anh luồn lách bí mật bố trí quả mìn Clâymo cách địch 7 mét căng hết dây ra ngoài và anh ra lấy trái mìn của tổ 3 đặt cách địch 5 mét. Đến quả DH10 của tổ mình chỉ đặt cách khẩu đại liên nửa thước. Quan sát thấy bọn Mỹ ngủ say như chết, tất cả đều quay hai chân ra phía bờ sông. Cho mìn nổ là chắc thắng, song anh thấy tiếc quá, trong lúc đơn vị thì thiếu súng hỏa lực mạnh, anh bò vào nhẹ nhàng nhấc bổng khẩu đại liên cùng với dây đạn 200 viên chuyền ra giao cho Tư Bảnh giữ. Anh kể: lúc này không sợ địch vì nằm sát nó, nắm chắc quy luật, nhưng chỉ sợ anh em mình bên ngoài chạm công tắc mìn nổ thì toi mạng.

Anh nông dân tuy văn hóa thấp nhưng sáng dạ và khéo tính toán, bằng lòng căm thù giặc cộng với quyết tâm chiến đấu như đúng với cái tên của anh nên nảy sinh ý tưởng táo bạo. Anh nghĩ toàn bộ lính Mỹ đang nằm ngủ sát mặt đất, nếu thổi mìn vào thì sát thương sẽ hạn chế. Anh quyết định đánh trước một quả lựu đạn da láng, cho địch nhốn nháo ngóc đầu dậy như tằm ăn lên, lập tức ba quả mìn cùng chấm điện nổ dồn, tiêu diệt toàn bộ. Chỗ nào nghe thấy tiếng rên, anh bồi thêm vào đó một băng đạn nhọn. Kết quả trận này du kích đã diệt gọn một đại đội Mỹ, thu 10 khẩu AR15 và nhiều đạn dược. Số còn lại không mang hết, các anh cho ém xuống lòng sông để sau này lấy lên sử dụng.

Sau trận đánh này toàn bộ lữ đoàn 199 phải rút hết khỏi địa bàn, chiều ngày 1 tháng 9 địch đổ xuống một tiểu đoàn biệt động quân thay thế, chốt tại gò Tử Địa. Sẵn súng đạn lấy được trong tay, Nguyễn Quyết Chiến hạ quyết tâm đánh bồi thêm trận thứ hai. Với hỏa lực đại liên, hai quả ĐH10, ba khẩu AK, anh chia du kích làm hai tổ, theo kế hoạch hợp đồng thì đại liên bắn kềm chế cặp bờ sông, yểm trợ anh em xung phong chiếm lĩnh. Nhưng vì chưa biết cách sử dụng nên lắp dây đạn ngược đầu, chỉ bắn nổ có một phát, địch phản ứng, một du kích bị thương. Quyết Chiến bình tĩnh xử trí tình huống, giao cho Tư Bảnh bắn kềm chế, còn anh lội cặp bờ kênh, vòng ra sau bố trí ĐH10 thổi vào, vừa giả vờ la to: Trung đội 1 bên phải, trung đội 2 bên trái,... xung phong... (thực tế chỉ có hai tổ). Trận này quân ngụy khiếp sợ, chạy tán loạn, ta thu được một đại liên, 12 khẩu AR15, một M79 phóng lựu, máy PRC25, một khẩu côn 12 ly.

Cũng vào một đêm tối trời tháng 9 năm 1969, một chốt có hai trung đội Mỹ đóng tại ngọn rạch Nhà Trường. Đội du kích tiếp cận, Quyết Chiến chỉ huy đưa ĐH10 đặt cách địch 5 mét nhìn rõ khẩu súng M72 (hỏa tiễn chống tăng cầm tay) vì chưa từng thấy, anh tưởng nhầm là cối 60, anh lại giở ngón sở trường “ăn trộm” như trước, nhấc nhẹ khẩu M72 chuyền ra phía sau, rồi anh bò vào hai lần nữa lấy thêm hai khẩu AR15, thấy dây đạn đại liên 200 viên mà không thấy súng, nghĩ là súng ở nhà đã hết đạn, anh bê luôn dây đạn. Sau cùng anh cho điểm hỏa hai quả ĐH10, loại mìn của xưởng quân giới (Đoàn 10) công suất rất mạnh, 500 viên bi được cắt từ sắt phuy 5 bay như tên bắn đụng vào đâu là xé thịt đến đó, va vào súng có thể gãy báng. Tiếp theo ném 5 quả lựu đạn da láng, kết quả diệt gọn một trung đội Mỹ, số còn sống sót chạy tứ tán ra đồng, ta an toàn rút lui.

Đây chỉ là những trận đánh nổi bật nhất của anh và nhiều trận đánh khác đã làm quân thù hoang mang khiếp sợ, nhân dân trong các ấp vui mừng phấn khởi, các đơn vị du kích bạn theo gương học tập. Với những chiến công trên, trong đại hội chiến sĩ thi đua toàn Miền (ở R) đầu năm 1970, Nguyễn Quyết Chiến được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và được cử đi dự học trường Quân chính Miền (H20) đến tháng 2 năm 1972 anh trở lại chiến trường.

Anh hùng Nguyễn Quyết Chiến có đặc điểm khác người là không thích mang súng ra trận, mà chỉ thích sử dụng ĐH10 và lựu đạn để đánh gần, mỗi trận lúc nào trong cái bòng mang trên lưng anh cũng có từ ba đến năm quả. Mấy năm liền riêng anh đã dùng 30 quả ĐH10 và 60 lựu đạn, với cự ly sát nách địch, đánh đúng vào đội hình của chúng lúc đang ngủ say, thật là những quả đấm trời giáng.

Ở anh, lòng yêu nước và ý chí chiến đấu thật tuyệt vời. Phẩm chất đó xuất phát từ cội nguồn của gia tộc đã từng gắn bó lâu đời với vùng đất Nhơn Trạch. Trong chiến đấu ở cương vị xã đội trưởng, anh luôn dẫn đầu đội hình, tin ở mình, lao vào trận địa, đi trước nhận phần khó khăn về mình. Trong đời thường, anh từng chắt chiu từng hạt gạo, hạt muối, trong chiến đấu anh cũng tính từng viên đạn, từng khẩu súng, với lòng ham muốn không mệt mỏi là làm sao lấy được nhiều súng đạn, diệt được nhiều giặc. Thông thường con người ta bị nặng gánh gia đình ảnh hưởng đến nhiệm vụ, nhưng với anh chỉ có con đường muốn thoát khỏi đói nghèo con đường duy nhất phải lao vào chiến đấu với quân thù, đánh địch để sớm giành được độc lập, thì mới có tự do no ấm cho gia đình và bà con làng xóm.

Lần bị thương thứ hai, đạn xuyên qua vai, phải về điều trị ở trạm xá Đoàn 10, chỉ được 30 ngày, vết thương chưa lành hẳn anh đã đề nghị với nữ quân y sĩ Kim Mến: “Chị Bảy cho tôi về sớm chút, nhớ chiến trường, nhớ anh em quá, lo không biết ở nhà đánh đấm ra sao”. Thế rồi anh lại khăn gói băng rừng trở lại căn cứ du kích về với đồng đội tiếp tục chiến đấu. Cái khó ló cái khôn và nghề dạy nghề, trong đội hình một đơn vị đặc công, nhưng Chiến chưa học một chữ nào về kỹ thuật, phương thức tác chiến đặc công. Vậy mà anh vẫn đánh giỏi như là chiến sĩ đặc công thiện chiến. Và anh Chiến đấu giỏi cũng còn phải nhờ vào công lao người vợ. Chị Nương kể:

– Suốt ngày tui phải đi kéo cá, mò tôm, nếu được nhiều bán mua gạo nuôi con, còn tiếp tế cho các ảnh nữa. Vậy mà mấy lần vô rừng thăm, ảnh lại còn “gởi” đứa nhỏ trong bụng tôi mang về, sanh thêm đứa thứ ba lúc còn đang khói lửa.

– Chị có sợ địch không?

– Quá nghèo đói rồi đi đâu bây giờ, hết còn biết sợ là gì, tối ôm con lên ngủ ở nhà ông nội sắp nhỏ, sáng đem về chòi đi kéo cá. Có một lần tụi nó bốc tôi lên trực thăng đưa về chi khu, nó cứ hỏi: “Bà có thương chồng không?” – Tôi nói: “Thương chớ, chồng con mà không thương sao được”. – Nó dồn tiếp: “Vậy chồng bà mang súng gì?” – Tôi nói không biết vì tôi chưa gặp chồng bao giờ, mà nếu gặp thì tôi cũng kêu ổng về phụ nuôi con. Không khai thác được gì hơn, chúng phải thả tôi về với mấy đứa nhỏ. Cuộc đời anh hùng Nguyễn Quyết Chiến không chỉ gian khổ bền bỉ trong chiến đấu mà còn ở cả việc kiên trì học tập rèn luyện, chấp hành mọi sự phân công của tổ chức không hề tính toán thiệt hơn.

Tháng 2 năm 1972 trở về huyện Nhơn Trạch với chức vụ huyện đội phó tham gia chỉ đạo đánh trận kho bom Thành Tuy Hạ. Trong lúc trùng trùng quân ta từ miền Bắc chi viện vào đánh địch giải phóng miền Nam thì Nguyễn Quyết Chiến được quyết định lầm lũi theo đường mòn Hồ Chí Minh đi ngược ra Bắc để học bổ túc văn hóa ê a từng chữ, thoát khỏi lớp 2, hoàn thành chương trình cấp II sau một năm miệt mài chăm chỉ học tập, anh lại được đưa đến học viện quân sự đèn sách ba năm liền.

Trong ngày vui miền Nam hoàn toàn giải phóng, vợ anh, chị Nương lo lắng mong chồng thì anh vẫn kiên trì học cho xong khóa đào tạo, rồi đến tháng 6 năm 1976 về nhận nhiệm vụ ở huyện đội Long Thành. Với hơn 15 năm chiến đấu, học tập từ một đội viên du kích, trở thành huyện đội trưởng. Ở cương vị nào anh cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng và quân đội giao phó.

Đến năm 1994 được điều động về phụ trách công tác Thanh tra của Tỉnh đội. Tháng 7 năm 1999, đại tá Nguyễn Quyết Chiến chính thức nhận quyết định về hưu, nhưng nào có được nghỉ. Do yêu cầu của tổ chức anh chuyển sang làm chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Nhơn Trạch nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Anh xứng đáng là người Anh hùng du kích của quê hương Đồng Nai.

L.B.Ư


>>Top