Nguyễn Một
Trên
gương mặt hiền lành, nở một nụ cười mãn nguyện, ông quay qua nói với con
gái:
Này con
gái, chỗ bến phà Xuân Sơn mà Thủ tướng làm lễ động thổ đường Trường Sơn
công nghiệp hóa, ngày xưa bố và đồng đội đã đặt lưỡi gạt đầu tiên khai
phá đường 20 Quyết Thắng...
1. Hù..
. h... ù.. . ầm. .. ầ.. .m
Tiếng
rốc két xé gió. Từng loạt, từng loạt.. . Cánh rừng bên động Phong Nha.
Đất Quảng Bình nóng lên hầm hập bởi được nung bằng bom đạn của Mỹ. Trong
lán trai cbỉ huy, tiểu đoàn trưởng cơ giới 19 tháng 8 đưa mắt nhìn quầng
lứa rốc két chớp sáng lòa trong cánh rừng trước mặt, bàn tay to bè nắm
chặt chiếc que chỉ huy quay lại nhìn các dồng đội, trông ai cũng có vẻ
căng thẳng. Giọng Bắc nhỏ nhẹ, nhưng cương quyết anh nói:
- Bằng
mọi giá, trong đêm nay chúng ta phải hạ lưỡi gạt đầu tiên, để mở lộ 20
này, các đồng chí ạ! Đây là con đường huyết mạch nối với tây Trường Sơn
để quân ta chi viện cho miền Nam. Đội cơ giới chúng ta phải tiên phong.
Trong cánh rừng kia các đại đội thanh niên xung phong đang chờ chúng ta
ra quân. Theo nguyện vọng của các đồng chí, tôi cử đồng chí Phong Lưu và
Quang Văn hai người con của miền Nam làm nhiệm vụ lịch sử này.
- Ngay
đêm nay ư? - Một đồng chí lái xe ngồi cuốI lán trại hỏi vọng lên.
Vâng.
Ngay đêm nay - Hoàng Hiếu cao giọng trả lời Chúng ta phải hoàn thành con
đường này đúng vào dịp kỷ niệm 76 năm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu.
Đồng chí Lưu có ý kiến gì không?
- Xin
tuân lệnh! - Anh lái xe ủi Nguyễn Phong Lưu dõng dạc trả lời, rồi đứng
lên cùng Quang Văn đi về phía chiếc C.100 của mình. Suốt đêm hôm ấy,
các anh đối mặt với bom đạn quân thù hoàn thành nhiệm vụ Đường 20 Quyết
Thắng được khởi công vào mùa khô năm 1965, giặc đang leo thang chiến
tranh, hàng ngàn tấn B52 rải thảm miền Bắc. Vùng đất Quảng Bình được coi
là "vành đai trắng” mỗi mét đường trên lộ 20 đều là cao điểm. Sáu đại
đội thanh niên xung phong gồm: C203, C201, C208, của Hà Tĩnh cùng C456,
C458, C459, C452 của Nam Hà, về sau tăng cường C4 của Ninh Bình, các đơn
vị thanh niên xung phong hầu hết là thiếu nữ trong đội tuổi 'bẻ gãy sừng
trâu", chị em sống rất vui vẻ, hồn nhiên. Cuộc chiến càng ngày càng ác
liệt, giặc Mỹ đánh hơi quân ta mở đường, chúng điên cuồng đánh phá.
Không thể làm ban ngày được, nên các đơn vị phải làm ban đêm. Chiếc C100
do tổ lái Lưu, Lang, Bì phụ trách luôn xung phong đi đầu. TạI trọng điểm
cua chữ A đã chịu hàng trăm lần B52 rải thảm. Hàng đêm chúng thả xuống
khu rừng trên năm trăm quả pháo sáng. Với khẩu hiệu "Lấy tim đường làm
chiến trường, quyết chiến điểm làm trận địa, máu chúng ta có thể đổ,
nhưng đường không thể tắc” C5 đã bám trụ của chữ A tranh giành từng phút
thời gian quý báu giữa hai trận bom để làm nhiệm vụ thông đường.
Đến km
45 giặc bắt đầu đánh phá ác liệt hơn, nhưng với quyết tâm phải thông
đường chào mừng ngày sinh nhật Bác, nên ban chỉ huy yêu cầu tiến sâu hơn,
nhanh hơn. Tổ máy của Lưu lại xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn này. Tối
hôm đó chiếc C100 ầm ì tiến sâu vào rừng, ba anh em máy trưởng, máy phó
và phụ máy phân công mỗi người một nhiệm vụ. Quá nửa đêm xe đến điểm tập
kết, Lưu phân công:
- Em
chịu trách nhiệm về kỹ thuật, anh Bì lo kế hoạch mở đường, anh Lang phụ
trách hậu cần nhé !
Anh
Hoàng Trọng Bì vốn là cựu binh thời chống Pháp nên rất nhiều kinh nghiệm
chiến trường, món chè rừng mà đội trưởng Hoàng Hiếu rất nghiện là do Bì
tìm ra. Trong ba anh em, Lưu là nhỏ tuổi nhất nhưng giỏi về kỹ thuật nên
được phân công làm máy trưởng. Lang và Bì rất quý cậu em giỏi giang và
dũng cảm của mình. Có lần Lưu bị sết rét trong rừng quật ngã, Bì cõng
anh về lán trại, tướng anh cao lêu khêu, khi đi đầu lại chúi về phía
trước, trông anh cõng Lưu leo dốc, chị em thanh niên xung phong nghịch
ngợm reo lên: "A! Lạc đà leo dốc tụi bây ơi! Thế là từ đó anh có biệt
danh là Bì lạc đà.
Lang
quê ở Thái Bình, tính tình vui vẻ, sôi nổI hồn nhiên, một câu nói của
anh là tạo ra chuỗi cườI giòn cho cả đội. Anh khéo tay, lại giỏi cải
thiện đời sống cho anh em. Lúc rảnh anh vào rừng kiếm rau, câu cá cải
thiện bữa ăn. Những ngày Lưu bị sốt nặng anh mang đến cho Lưu mấy cái
bánh dò nóng hổi, Lưu kinh ngạc thắc mắc.
- Ở
giữa rừng già anh kiếm đâu ra thứ này vậy?
Lang
đùa:
- Có
mấy anh em xung phong, thương cậu quá, hóa trang lội bộ ra Đồng Hới mua
về đó.
- Sao
còn nóng quá vậy anh?
- Thì
mấy em giấu trong người! .
Nghe
anh Lang nói, Bì chêm vào:
- Mày
ăn coi chừng ngọng đó!- Nói xong anh ôm bụng cười rũ rượi.
Lưu ngớ
ra mới biết mình bị lừa, đây ra Đồng Hới cả trăm cây số, giặc phong tỏa
rất gắt, đi lại rất khó khăn. Lưu giả bộ phụng phịu:
- Các
anh lừa em rồi, không nói thật em không ăn đâu.
Anh
Lang ngồi xuống lau mồ hôi cho Lưu rồi nói:
- Anh
làm đấy!
- Sao
anh có bột làm bánh.
- Thì
anh xay.
- Cối
đâu mà xay.
Lấy nón
sắt làm cối, dùng chốt máy nghiền ra, thôi chú ăn cho mau khỏe rồi ta
còn ra trận kẻo "con hổ xám" nó buồn. Biết chuyện này mọi người đặt cho
Lang biệt danh là bác phó cối. Cầm miếng bánh Lưu nghẹn ngào nói: "ước
gì sau chiến tranh ba anh em ta còn nguyên vẹn uống với nhau chén trà
trong vườn trái cây ở miền Đông anh nhỉ” Tiếc thay điều ước của Lưu đã
không thành hiện thực. Trong chuyến mở đường sau đó anh Lanh bị thương
nặng phải chuyển về hậu phương điều trị rồi không biết sự thể ra sao?
Qua bao
đêm dài thức trắng, chống chọi với cơn sết rét rừng đốt cháy cả tim gan,
nằm giữa trận địa B52 tàn khốc, ba anh em vân bình tĩnh khéo léo điều
khiển chiếc C100 lấn từng mét đường. Mặt đường vừa ủi xong lại bị bom
cày loang lổ, lại phải san lấp. Hàng đêm ba anh em chỉ uống nước cầm hơi.
Buổi sáng tranh thủ ăn một miếng lương khô , rồi cầm lọ thuốc đi tìm chỗ
vắng vẻ để trị ghẻ và hắc lào. Gần ngầm Ta Lê ở gần đoạn km 82 trên núi
có một hang đá rộng những lúc nghỉ ngơi Lưu leo lên hang đá rồi cởi quần
áo ra sức ghẻ cho dễ chịu. Lưu đã bị một phen hú vía, có một hôm đang
nằm hóng mát trong tư thế "cha sinh mẹ đẻ" bỗng có một em thanh niên
xung phong xuất hiện.Anh hốt hoảng chụp vội quần che vào người rồi hét
tướng lên:
- Trời,
con gái mò lên chi đây?
Cô bé
còn trẻ hồn nhiên giải thích:
Em đi
xem phật sống chứ bộ!
Nói
xong cô quay lưng bỏ chạy xuống núi, ném lại phía sau chuỗi cười giòn và
câu mắng yêu.
- Các
anh, đồ phải gió!
Trong
khi đó Lưu lúng túng mặc vội quần áo, trước những tràng cười như pháo nổ
của đồng đội trong hang đá.
Sau mới
biết cô gái đó tên Thược là y tá vào lán chữa bệnh cho anh em, thấy cô
có vẻ ngây thơ anh Bì nghịch bảo: "Trên núi có ngôi chùa của người Lào
có thờ Phật sống, lên mà coi".
Sau lần
gãp dở khóc, dở cười ấy Lưu tình cờ gặp Thược đang đi lạc trong rừng,
anh hết sức cảm động khi nhìn thấy gùi rau rừng trên vai Thược đã héo
nhưng Thược vẫn cố giữ bên mình. Thược cho biết, cô đi kiếm rau về cải
thiện bữa ăn cho thương binh bị lạc trong rừng hai ngày qua, may mà gặp
anh. Thấy hai người có vẻ thân nhau hơn. Anh Bì chọc:
- Em
Thược thương anh máy trưởng đẹp trai của chúng mình rồi!
Lưu
cũng rất quí Thược, cô ấy luôn hy sinh hết mình cho đồng đội, nhưng anh
coi Thược như cô em gái. Anh đã có vợ, phẩm chất của người chiến sĩ
không cho phép anh có ý tưởng hai lòng với người vợ tần tảo ở miền Bắc.
Thời
gian qua thật nhanh, không kể ngày đêm, máu xương đã đổ, con đường cũng
hoàn thành như dự kiến.
Ngồi
trong khe đá Lưu khẽ rùng mình khi nhớ chuyện cả đại đội thanh niên xung
phong lọt vào trận địa B52 và hy sinh gần hết chỉ trong một đêm. Công
việc còn lại của đội là cùng các lực lượng thanh niên xung phong bám
trận địa thông đường cho xe qua.
Từ hôm
mình vào đây đã gần hai năm rồi, Bì nhỉ?
- Ừ
chắc giờ này ngoài nông trường bộ đang vật heo đón tết. Tội cho con vợ
mày, vớ anh lái xe ủi lại dân tập kết tưởng "chồng cày vợ cấy" ai dè nó
lại xung phong vào mở đường Trường Sơn. Thế có khổ thân không chứ!
Lưu quê
gốc Hà Nam, theo cha vào Long Khánh làm cao su rồi tham gia cách mạng
tập kết ra Bắc, nên anh em vẫn coi anh như một người con của miền Nam
ruột thịt. Dạo ấy anh em miền Nam ra tập kết được coi là con cưng, được
đi học làm việc ở thủ đô. Lưu xung phong vào tuyến lửa nên anh em rất
quý. Những tưởng đi hai năm về gặp cha, ai dè giặc Mỹ nhảy vào. Ba anh
em trầm ngâm, hồi tưởng về quê hương. Máy bay giặc rút lui, bầu trời
trong xanh trở lại, giây phút bình yên giữa hai trận bom, không gian yên
tĩnh lạ thường. Bỗng dưng Lưu bật cười, Bì hỏi:
- Cậu
cười gì thế?
- À! Em
nhớ hồi mới tập kết mấy anh căng khẩu hiệu "Hoan hô cán bộ, bộ đội đồng
bào miền Nam tập kết muôn năm!" Ai dè thành tiên tri, mười năm rồI các
anh nhỉ?
Bì khẽ
nói:
- Bác
Hồ bảo: ~Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" thế nào cũng có ngày
chúng ta sẽ giải phóng miền Nam.
Chắc
chắn như thế. ánh mắt Lưu rực lên niềm tin, anh nhìn về cánh rừng trước
mặt. Câu chuyện thờI thơ ấu gian khổ, dưới cánh rừng cao su hiện về rõ
mồn một, như cuốn phim quay chậm.
2. Rừng
cao su mùa thay lá, cành cây vươn lên bầu trời đầy ắp ánh trăng, như
hàng ngàn đôi tay gầy khẳng khiu của những công nhân cùng khổ, đưa lên
kêu trời dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Ông Doanh nhìn cậu con
trai đang nằm co quắp trong căn chòi trống huơ, trống hoắc, giữa rừng
cao su lạnh lẽo. Gió lùa từng đợt tung lá cao su khô xào xạc, ánh trăng
rọi qua mái lá loang trên mặt thằng bé . Mấy cái niêu đất chỏng chơ đựng
đầy ánh trăng. ông thấy thương con trai quá đỗi, mới từng tí tuổi đầu mà
đã phải vất vả Ngày còn ở Hà Nam, mẹ mất lúc nó mới bốn tuổi. Sưu cao
thuế nặng lại bị bọn cường hào áp bức, cơm không có mà ăn, hàng ngày ông
cõng nó trên lưng đi làm thuê làm mướn cho địa chủ. Trời thương thằng bé
không sài đẹn gì cả, suốt ngày lê la hết bờ ruộng này đến bờ ruộng khác
mà nó cuí củi lớn lên. Năm 1937, Pháp về làng mộ công tra vào miền Nam
làm cao su, ông đăng kí và cõng con lên đường. Bọn Pháp đưa ông về đồn
điền ông Quế, tưởng rằng cuộc đời khá hơn, nhưng ông đã lầm, đời sống
của công nhân chẳng khá hơn gì so với những người dân quê ông. ông đưa
tay vuốt mái tóc rễ tre của cơn trai, thì thầm:
- Ngủ
ngoan con nhé, cha phải đi đánh thằng Pháp đây.
Gần đến
ngày giành chính quyền, không khí trong các đồn điền sôi sục hẳn lên.
Ông Doanh cùng các anh em công nhân đã sẵn sàng đánh Pháp đuổi Nhật. ông
kéo chiếc chiếu đắp lên người thằng bé, rồi cầm cây tầm vông rón rén ra
cửa. Lưu nằm yên, nghe lời thì thầm của cha, khi ông đưa tay sờ lên mặt
cậu muốn hôn lên bàn tay chai sạn của cha, cậu cắn môi rướm máu. Mấy hôm
nay cha đi vắng luôn. Đang vẩn vơ suy nghĩ, bỗng Lưu nhìn thấy bóng
người khẻ dở tấm liếp.Cậu bật dậy: .
- Ai đó?
- Dì
đây.
- A! Dì
Nhớn mà con tưởng ai. .
- Cha
con đi rồi phải không'
- Dạ,
cha đi rồi.
-Dì
mang cho con mấy gói cơm nóng đây, bữa nay không khéo có chuyện lớn đây.
Từ
lâu dì Nhớn coi Lưu như con, dì rất quý cha con Lưu. Hai dì cháu ngồi
thu lu ngóng ra rừng cao su.
Đoàng...
Đo ... àn...g Một loạt súng nổ vang phía Hàng Gòn. Cải hai cùng bật dậy,
dì Nhớn ôm mặt bật khóc:
- Cha
con với mấy bác bị phục kích rồi Lưu ơi!
Một lát
sau, hai bóng người dìu nhau về phía căn chòi. Dì Nhớn lao ra cửa, Lưu
chạy theo. Bác Lê Tri và ông Doanh người đầy máu.
- Cha!
- Lưu nức nở.
- Cha
không sao đâu!
Ông nắm
tay dì Nhớn:
- Nếu
tôi có bề gì, nhờ mình lo cho thằng Lưu.
Dì lau
nước mắt khẽ gật đầu, Lưu chợt hiểu quan hệ của cha với dì Nhớn. Nhờ sự
đùm bọc, chạy chữa của anh em công nhân cha và bác Tri qua khỏi. Cha gọi
Lưu và dì Nhớn đến dặn:
- Sắp
đến ngày cướp chính quyền, không thể bận bịu việc thê tử được, tôi nhờ
mình đưa thằng Lưu về Phước Thái lánh nạn, L ưu phải nghe lời dì.
Những
ngày ở Phước Thái sống bình yên bên dì, dì bán bánh cam, bánh của dì làm
rất ngon nên hôm nào bán cũng hết sớm. Rồi ngày cướp chính quyền cũng
đến, xóm làng rộn rịp hẳn lên. Dì Nhớn tham gia hội mẹ chiến sĩ, đi vận
động hũ gạo nuôi quân. Lưu xin gia nhập Đội thiếu nhi cứu quốc, chỉ sau
hai tuần sinh hoạt, thấy Lưu hoạt bát, lanh lẹ các anh trong ủy ban
kháng chiến chọn Lưu làm đội trưởng, hai mẹ con bận tíu tít cả ngày. Năm
Lưu được mười bốn tuổi, một buổI chiều mùa hè năm 1947, có người đàn ông
cầm thư của cha đến nhà, trong thư cha viết:
"Lưu
thương mến! Cha rất nhớ mẹ và con, nhưng nhiệm vụ cách mạng rất cấp bách
nên cha không về thãm con được. Nghe tin con và mẹ tham gia hoạt động
cha rất mừng. Nay con đã lớn cha xin cho con tham gia làm công nhân ở
xưởng vũ khí của công an Biên Hòa, được đóng góp thiết thực cho cách
mạng là điều mà con mong đợi bấy lâu phải không. Hiện nay chúng ta rất
cần vũ khí để kháng chiến chống Pháp lâu dài. Chúc con và mẹ luôn khỏe
mạnh.
Cha
của con
Nguyễn Kinh Doanh
Các bạn
trong đội tổ chức liên hoan chia tay Lưu. Dì Nhớn chuẩn bị cho Lưu đủ
các thứ cần thiết cho một chuyến đi xa. Đi một đoạn khá xa, dì vẫn còn
nhìn theo. . .
Xưởng
vũ khí nằm trong rừng, còn thiếu thốn mọi bề , lúc ấy ta chỉ mới đúc
được những quả lựu đạn bằng đồng, nhưng không khí rất vui và phân khởi.
Lưu được các anh hướng dẫn tận tình, nên chẳng mấy chốc Lưu đã thành
công nhân lành nghề.
Cùng
trong năm đó Pháp trở lại Đông Dương, tên chà lai Si cô Suacot đem quân
về càn quét vùng Đồng Nai. Với chủ trương 3 sạch "Giết sạch, đốt sạch,
phá sạch" của chúng, vùng Long Thành chìm trong máu lửa. Đầu năm 1951,
dì Nhớn bệnh nặng, cơ quan cho Lưu về phụng dưỡng mẹ. Là mẹ kế nhưng bà
đối xử với Lưu chẳng kém gì mẹ ruột, ân tình sâu nặng, cha đi chiến đấu
biền biệt, bà biết trông cậy vào ai. Gần hai năm làm rẫy nuôi mẹ , hết
lòng thang thuốc nhưng bà cũng không thoát được lưỡi hái tử thần. Người
mẹ kế tốt bụng đã trút hơi thở cuối cùng trong tay anh. Lưu gục khóc nức
nở, kể từ lúc mẹ ruột mất đến nay cậu mới khóc nhiều như thế. Trong nước
mắt, cậu khẽ kêu lên:
- Mẹ. .
. mẹ ... ơi!
Tiếng
gọi thiêng liêng mà dì Nhớn đã chờ đợi ở người con chồng suết mấy năm
qua.
Ba năm
sau, Lưu l~n tàu tập kết ra Bắc, lúc ấy cha đang ở trong bưng.. .
3. Bục.
.. bục... ầm. . . ầm. . .
Hàng
loạt bom nổ rền, mặt đất rùng rùng chuyển động. Đêm cuối tháng, trời tối
đen như mực, bỗng rực sáng lên bởi những quầng lửa đỏ. Lưu quay về thực
tại, Cự chồm lên hét vào tai anh:
- Đêm
nay, có đoàn xe của ta vào miền Nam, bọn Mỹ lại đánh lớn, hỏng cả đường.
Cự được
điều về phụ lái với anh và Bì. Lưu mím môi nhìn ra con đường thân yêu mà
anh và đồng độI đã tốn bao xương máu đổ ra. Đoàn xe quân ta kịp thờI nấp
vào vách đá. Loạt bom vừa ngưng, Lưu chồm lên khởi động chiếc C100. Cự
chộp Lưu:
- Lưu,
anh làm gì thế?
- Thông
đường!- Lưu buông câu ngắn gọn đầy vẻ cương quyết.
- Muốn
chết hả?
- Máu
chúng ta có thể đổ, nhưng đường không thể tắc! - Lưu nhắc lại câu khẩu
hiệu của đội TNXP 25
"Con hổ
xám” tên gọi thân thương các đồng độI đặt cho chiếc C100 của anh gầm lên,
lao ra đường. Đất đá đổ ngổn ngang, bom nổ chậm đen trũi nằm lổn nhổn
khắp nơi. Bất chấp nguy hiểm Lưu điều khiển "con hổ xám” của mình ngoạm
từng ben đất ngọt xớt. Sau ba giờ miệt mài, điều khiển xe, mồ hôi ướt
đẫm cả người, con đường đã thông. Trong lúc đang quay máy tìm chỗ giấu
bất thần giặc quay trở lại trút xuống loạt bom ngay đội hình thi công,
Lưu bỗng thấy mình nhẹ tênh. Bì hét lên:
-Thằng
Lưu bị thương rồi!
Những
bóng người ùa tới khi loạt bom vừa dứt.
- Đưa
Lưu vào hầm cứu thương! - Tiếng ai đó hét lên. .. mơ hồ. ..
- Không!
- Lưu tỉnh lại và chồm lên gì chặt tay lái lao về phía các hố bom giặc
vừa đánh, tiếp tục san đường. Khi ben đất cuối cùng gạt xuống, đội nữ
thanh niên xung phong C5 do Nguyễn Thị Liệu dẫn đầu, choàng dù trắng
đứng làm cọc tiêu đưa đoàn xe qua trọng điểm. Mồ hôi và máu chảy ròng
trên mặt, Lưu mỉm cười đưa xe vào vách đá, lúc này anh ngã vật xuống và
thiếp đi. Hai giờ sáng, loạt B52 lại ập xuống, khói bom khét lẹt, đất đá
ập xuống đầy cửa hầm, trên đồi cây cối cháy đỏ rực. Lưa và Cự lao lần
thứ ba đã thông đường.
Đêm hôm
ấy, cuối tháng ba năm 1967 tại trọng điểm k82 phía bắc ngầm Ta Lê, một
đêm trong số 1460 đêm bám trụ tại các trọng điểm mà anh không bao giờ
quên. Cả trung đội thanh niên xung phong đã vĩnh viễn nằm lại Trường Sơn
trong cái đêm kinh hoàng ấy...
Mấy
tháng trời trên cao điểm Ta Lê ác liệt anh đã vĩnh biệt bao nhiêu đồng
chí thân thương cùng vào sinh ra tử. Trước mặt là dãy Trường Sơn hùng vĩ
chắn tầm nhìn qua đất bạn Lào. Dưới chân núi, đồng bào dân tộc ở bản
Nọng Ma và bản Tà Bôi vẫn sống giữa mưa bom của giặc, để giúp đỡ bộ đội
thông đường. Những ngọi núi đá trơ trụi là chứng tích của chất độc hóa
học và bom đạn quân thù. Mỗi chiều Lưu thường ra khỏi hang đá để nhìn
cặp vợ chồng vượn âu yếm nhau trong khoảng rừng hiếm hoi còn sót lại.
Chúng tồn tại như để chứng minh cho sức sống mãnh liệt đầy kiêu hãnh của
núi rừng Trường Sơn. Anh đã nhìn thấy chúng tồn tại suốt năm mươi lăm
ngày đêm trong hang đá ở ngầm Ta Lê. Một cái hang đá chắc chắn do các
bạn thanh niên xung phong tìm ra. Giặc đánh phá ác liệt cả ngày lẫn đêm.
Sống trong hang đá mấy tháng liền không có thì giờ cắt tóc cho nhau,
trông ai cũng như người rừng. Cấp trên cử các chiến sĩ công binh về hỗ
trợ cho tổ máy của Lưu để gỡ bom thông đường. Đội cơ giới của anh vấp
phải bom từ trường, nên tiến độ chậm hẳn lại, đây ìà loại bom chuyên phá
hỏng cơ giới của ta và phá đường rất ác, khi nổ chúng tạo hố hình phễu
rộng đến 6-7m. Được sự hỗ trợ của trên, anh cùng anh em đã gỡ gần trăm
quả bom mỗi đêm. Trước đây anh có hề biết gì về bom đạn đâu, nhưng rồi
trong chiến tranh anh cũng phải mày mò để vượt qua tất cả. Bởi trước mắt
của anh chỉ có mỗi nhiệm vụ duy nhất là thông đường cho xe qua, anh
không còn sự lựa chọn nào khác. Đội cơ giới của anh có nhiệm vụ phối hợp
cùng C6, D25 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Giặc càng đánh phá, đường
ta càng rộng thêm.
4. Trời
mưa như "cầm chĩnh đổ", những cơn mưa Trường Sơn bao giờ cũng hung dữ,
nước ầm ào đổ xuống, bầu trời tối sẫm lại, mờ mịt, hoang dã, cách nhau
vài mét là không nhìn rõ mặt. Đêm nay lại nằm trong hang đá, Lưu không
nhớ rõ mình đã nằm trong hang đá bao đêm. Cứ mỗi lần nằm trong hang đá
những hồI ức lại hiện về. Anh nhớ những ngày thơ ấu, nhớ ngườI vợ hiền
tần tảo đang gò lưng trên đồng cà phê và cao su ở nông trường Phủ Quỳ,
nhớ cha chiến đấu ở miền Nam, nhớ những đồng đội đã hy sinh trên tuyến
đường đã đi qua. Nhưng tất cả những gì anh làm cho tuyến đường 20 Quyết
Thắng này anh lại không nhớ rõ. Sáng nay trong bản tin của ban 67 in
ronéo trên giấy đen, được gởi từ hậu phương vào, có bài viết về anh.
Những dòng chữ nhòe nước giúp cho anh biết anh cùng chiếc xe C100 đã mở
hàng trăm km đường, hàng ngàn ma đất đá, kéo hơn 400 xe bị lầy. Anh cũng
không nhớ nổi chiếc C100 đã cùng anh làm việc hơn năm ngàn giờ. Trước
lằn ranh của sự sống chết thờI gian trở nên mơ hồ. Những điều anh làm có
đáng gì so với sự hi sinh to lớn của đồng đội. Anh quên những điều ấy,
nhưng anh nhớ tiếng cười giòn tan của Thược, của Liệu, của những cô gái
đã vĩnh viễn nằm xuống ở tuổi hai mươi. Có người khi chết còn cầm trên
tay nhánh hoa rừng. Những chiến công trên con đường này thuộc về họ,
những cô gái mười bảy, mười tám từ ghế nhà trường, từ đồng ruộng bước
thắng vào chiến trường với trái tim đầy nhiệt huyết. Họ làm đường và giữ
đường suốt cuộc chiến tranh. Đường Quyết Thắng được mở ra trong lúc cuộc
chiến chống quân xâm lược Mỹ gay go và ác liệt. Con đường đi qua những
dãy núi hiểm trở, những cánh rừng trùng điệp, đương đầu với bom đạn ác
liệt của kẻ thù. Tuổi hai mươi hừng hực tinh thần yêu nước đã giúp họ
qua gian khổ, bệnh tật đói rét, bom đạn để chinh phục những dãy núi đá
tai mèo, cắt rách thịt da. . .
Lưu còn
nhớ sau này có một nhà báo yêu cầu ạnh viết những suy nghĩ của mình về
thành tích cá nhân, anh đã gởi lên những dòng tâm sự như tiếng nói chung
của đồng đội:
"Tám
năm trước đây, tôi được vinh dự cùng đồng đội lái máy đặt lưỡi gạt đầu
tiên mở ra nhánh đường trong hệ thống đường Trường Sơn mang tên Bác Hồ
vĩ đại Cùng với sự lớn mạnh của cách mạng, tập thể lái máy gạt chúng tôi
càng đông, càng vững. Bom đạn, mưa nắng càng ác liệt, chúng tôi càng
quyết tâm, càng thành thạo trong nghề nghiệp. Chúng tôi sung sướng đi
trong niềm vui đại thắng của cách mạng, của cả dân tộc. Những con đường
vào ra nối liền hậu phương, tiền tuyến thấm máu và mồ hôi của chúng tôi
đã góp phần nhỏ bé vào bước đi lên của sự nghiệp cách mạng. Ở ngay công
trường, chúng tôi được nhìn thấy đội ngũ trùng điệp của cách mạng và
được thấy tầm vóc vĩ đạI của nó. Chúng ta tự hào về Đảng ta, người đã
tạo ra những chuyện thần kỳ ấy, những chiến công chói lọi ấy.
Hiểu rõ
tầm quan trọng của những con đường đốI với cách mạng cả nước, chúng tôi
càng gắn bó với nhau hơn: càng yêu quí mỗi cỗ máy, từng giọt dầu. Tiến
vào thời kỳ mới, những chuyến đường vào ra lại phải đảm nhận những nhiệm
vụ nặng nề, to lớn hơn. Xe chúng ta ngược xuôi ngày càng nhiều. Muốn vận
chuyển nhanh và an toàn, mặt đường phải mở rộng xây đắp chắc chắn hơn
mới có thể bảo đảm thông xe các loại trong mọi hoàn cảnh, mọi thời tiết.
Đội ngũ thi công cơ giớI chúng tôi trước mắt và sau này vẫn giữ vai trò
xung kích, đi đầu trong nhiệm vụ khôi phục, củng cố đường cũ, xây đắp
đường mới. ước.mơ của chúng tôi xây được nhiều con đường mới cho Tổ quốc,
làm cho đất nước ta, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta luôn luôn mạnh
hơn, đẹp hơn. Chúng tôi đang cùng nhau học tập về nghề nghiệp để dùng
hết công suất máy, tốn ít nhiên liệu thành thục trong việc điều khiển
thi công, chúng tôi tăng hoạt động cho các cỗ máy trong đơn vị và tăng
năng suất đào đắp...
Ngày
nối đêm, chúng tôi đang sống và lao động trên những con đường, chính
những con đường trước mắt đang nhắc nhở chúng tôi đẩy mạnh tốc độ thi
công để tiếp tục phục vụ công việc của đồng bào, đồng chí đã .anh dũng
hy sinh trên những tuyến đường vẻ vang này. Chúng tôi nguyện đi tới bất
cứ nơi đâu cách mạng cần để làm những con đường mới..."
Những
lời chân tình của anh được chọn đăng báo, đồng đội vui mừng vì anh đã
nói được tâm nguyện cho họ, để thực hiện ước nguyện ấy sau khi đường
Quyết Thắng hoàn thành, anh đã xung phong ở lạI phục vụ chiến trường...
Mưa
càng lúc càng nặng, sấm chớp đùng đùng, cây ngã rào rào...
Ầm...
ầm... hang đá rung lên bần bật, một tiếng va đập chói tai. Lưu nhoài
người ra khỏi hang:
- Chết
rồi Bì ơi! Đá trên núi đổ xuống hư chiếc xe của mình rồi.
Trời
tạnh mưa, trông chiếc xe mới thảm hại làm sao, tảng đá đập gãỵ nát nhiều
chỗ. Hay tin, các đồng chí trong ban chỉ hu y ra lệnh bỏ xe, chỉ tháo
lấy máy. Suốt đêm nằm trong lán trại Lưu trăn trở không ngủ được, khi
nghĩ đến cảnh xẻ thịt "con hổ xám Trường Sơn - người bạn đường - đã vào
sinh ra tử với mình bao ngày đêm. Anh tính toán từng bộ phận rồi đi đến
quyết định táo bạo, phải cứu cho bằng được chiếc máy này. Mờ sáng Lưu
đến trại của anh Hoàng Hiếu, ngườI chỉ huy đã dậy sớm hơn cả Lưu, anh
ngồi xổm trên nền đất bên ấm trà rừng, không ngẩng lên, anh nói:
- Lưu
vào đây làm chén chè cho ấm bụng.
Sau khi
nhấp ngụm chè rừng đắng nghét, Lưu hắng giọng;
- Thưa
anh!...
Hoàng
Hiếu ngắt lời;
- Cậu
tính xin mình sửa lại chiếc C100 phảI không? Mình biết tính cậu mà. Mình
cũng không ngủ được vì nó đấy. Bỏ nó cũng tiếc thật, hơn bảy chục ngàn
chứ ít đâu, đất nước còn muôn vàn khó khăn, thôi tùy cậu, mình tin cậu.
Nghe anh Hiếu nói như mở cờ trong bụng, Lưu vội vã băng rừng đi tìm Huân.
Lưu nghĩ phải tìm cho bằng được anh thợ hàn này mới cứu được máy. Vượt 8
km đường rừng họ về trong đêm, anh và Huân hăm hở bắt tay vào việc. Một
chiếc lán nhỏ che bằng phên nứa được dựng lên giữa trọng điểm. Để tránh
địch phát hiện những đốm sáng từ các que hàn, Lưu mượn mấy tấm chăn về
quây thành buồng tối. Thấy lạ nhiều chị em thanh niên xung phong đến
chơi, họ gọi buồng tối của anh là Quán Phong Lưu.
Suốt
bốn ngày đêm không nghỉ ngơi anh và Huân đã làm cho "con hổ xám" gầm lên
trước sự khâm phục của anh em toàn đội...
Chuyện
Lưu cứu máy lan đi rất nhanh, Hoàng Hiếu hết lời khen ngợi. Trong báo
cáo gởi về cho cấp trên, Hoàng Hiếu đã nhận xét về anh lính lái xe ủi
của mình như sau:
“ Lưu
luôn giúp đỡ, kèm cặp đồng chí mình cùng tiến bộ, bản thân Lưu đào tạo
cho 4 đồng chí thành công nhân lái máy, nhiều lần vào sinh ra tử cứu máy,
cứu người. Có lần máy của đồng đội bị hỏng, Nguyễn Phong Lưu đã không
quản mệt nhọc, đêm đi làm, ngày băng dưới làn mưa bom 6,7 km để chữa máy
cho bạn. Có lần nước lớn phải lội qua suối tuy không biết bơi, nhưng anh
dũng cảm vượt suối 4 lần để vác phụ tùng cứu xe. Là một Đảng viên, đồng
chí hết lòng thương yêu đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình. Những ngày
thi công ở trọng điểm ác liệt, phải làm việc cạnh bom nổ chậm, anh để
anh em phụ lái ở lại chỗ an toàn, một mình xông vào trận địa... Có lần
trong vòng bom đạn anh vẫn lăn xả mang bằng được xác của các đồng chi
mình đã hy sinh...”Bản nhận xét của người chỉ huy được đăng trên bản tin
của ban 67, Lưu luôn giữ bên mình, không phải vì những lời khen ngợi mà
vì tình cảm của người chỉ huy mà anh nhất mực kính phục, con người trầm
tĩnh rất kiệm lời khen, nhưng hết lòng thương yêu đồng đội. Anh giữ nó
như lời động viên giúp anh vượt mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ...
5.Từ
buổi đầu mở đường dến nay đã hơn bốn năm, rày đây mai đó, với chiếc ba
lô con cóc trên vai với hai bộ quần áo bê bết dầu mỡ cùng chiếc C100
chậm chập bò lê từ đầu tuyến tới cuối tuyến, bom đạn quân thù không quật
ngã được anh mà hôm nay anh phải nằm co quắp trong hang bởi những cơn ho
xé ngưc. Sau mỗi cơn ho đến sốt rét hành hạ. Lưu đau đớn nhận ra sức
khỏe của mình ngày càng cạn kiệt. Cái chết không làm anh sợ, nhưng một
người lính Trường Sơn mà lại gục ngã bởi một căn bệnh thì chẳng hay ho
tí nào. Năm 1968 lợi dụng mùa mưa giặc Mỹ giở thủ đoạn mới đánh phá các
cung đường Trường Sơn. Anh đang nằm giữa cao điểm có địa thế vô cùng
hiểm trở, trên là núi cao, sương dày đặc. Máy bay giặc quần đảo liên tục
trên bầu trời, dùng đủ loại bom phá đường cỡ lớn đánh tọa độ liên tục.
Máy bay hết tốp này đến tốp khác trút bom đạn xuống từ đỉnh núi tới khe
suối. Cây cối bị đào xới ngổn ngang, mưa rừng ào ạt, đồi núi sụp lở hàng
vạn mét đất đá tràn xuống đường, bùn lầy nhão nhẹt. Người đi bộ không
tài nào bước nổi. Mặc cho bom rơi, núi lở, đồng đội của anh đang nhích
dần từng xen ti mét để thông đường, còn Lưu phải nằm trong hang đá. Suốt
bốn năm qua anh chưa thấy mình bất lực như vầy. Còn nhớ mùa mưa năm
trước tại cửa chữ A các đồng đội hy sinh vì bom bi của giặc, chính anh
đã xông vào trận địa mang xác các đồng đội ra giữa trận địa mịt mù khói
lửa. Khi ôm xác của Tuệ, người bạn đất Hoa Lư trong tay, anh tưởng mình
không thể chịu đựng được nữa. Cái xác chỉ còn cái đầu và bộ ruột lòng
thòng. Tuệ còn trẻ, trẻ nhất đội cơ giới. Những giờ nghỉ, Tuệ luôn kể về
cố đô Hoa Lư xinh đẹp ..của nó, lâu lâu nó lại mang hình người yêu ra
ngắm Đêm trước hy sinh, Tuệ nằm trong hang đá ôm Lưu và thủ thỉ : "Này
anh Lưu, người yêu em thích ăn trái cây lắm, mai mốt hòa bình anh về
miền Nam lập vườn, cưới nhau xong bọn em vào nhà anh ăn trái cây cho đã”
Vậy mà nó đã vĩnh viễn mang vào lòng đất Trường Sơn những ước mơ tuổi
thanh xuân. Nhớ sự hy sinh anh dũng của đồng đội, Lưu chợt nhận ra rằng
mình không thể chết. Anh cần phảì sống để tiếp tục cuộc chiến đấu. Lưu
cảm thấy sức sống mãnh liệt cuồn cuộn trong người, anh chôm dậy, lảo đảo
đi ra cửa hang...
Lưu mở
mắt nhìn thấy xung quanh anh những bóng áo màu xanh của chị em thanh
niên xung phong, cô Sỹ nhìn vào mặt anh và reo lên:
- Anh
Lưu tỉnh rồi, anh mò đi đâu vậy. May mà em bắt gặp anh ngoài rừng trước
lúc bọn Mỹ thả bom. Lưu mỉm cười và nắm tay Sỹ:
- Cám
ơn em đã cứu anh, hãy chữa bệnh cho anh, anh sẽ hết ngay mà. Thế là Sỹ
chích thật, sau khi cô ấy rút mũi kim ra anh bỗng thấy trời đất quay
cuồng, sau này anh kể cho nhiều người nghe không ai tin vì sao anh có
thể sống được bởi kiểu chữa bệnh vô tiền khoáng hậu ấy. Những ngày
Trường Sơn, Lưu luôn đốI diện với cái chết không hiểu sao anh luôn thoát
khỏI bàn tay tử thần trong đường tơ kẽ tóc. Còn nhớ có lần Lưu vào rừng
bắt cua, bắt cá để cải thiện anh chỉ mang theo có mỗi lưỡi lê. Đang bì
bõm dưới suối bỗng nghe mùi tanh lợm giọng, ngẩng đầu lên anh thấy con
hổ to bằng con bệ đang quắc mắt nhìn anh. Không còn cách nào khác, Lưu
chĩa lưỡi lê lên trời thủ thế. May sao lúc ấy có con càng tôm to bằng
bắp chân chạy ngang qua, con cọp gầm lên ngoạn vào cổ con càng tôm rồi
phóng đi lên tới sườn đồi nó còn quay lại nhìn anh bằng đôi mắt ngạo
nghễ của chúa tể sơn lâm.
Sau cơn
bệnh thừa sống thiếu chết ấy, Lưu xung phong lên mở đường qua đèo Yên
Ngựa, đây là đoạn đường khó , đỉnh núi cao hơn ngàn mét so với mặt nước
biển. Bên vách núi cheo leo là vực thẳm sâu hàng trăm mét. Chỉ huy có vẻ
ngần ngại lo cho sức khỏe của Lưu, nhưng anh quyết tâm quá nên cuối cùng
để anh lái máy vào cao điểm.Trong đội cơ giới đến thời điểm năm bảy mươi
chỉ còn tổ lái của anh là dày dạn kinh nghiệm nhất. Lưu vào cao điểm mới
trong những ngày đại quân ta tiến vào giải phóng miền Nam...
Trong
ngôi nhà đơn sơ, giữa khu vườn yên tĩnh, cạnh đền thờ Đức Thánh Trần
trên đường Nguyễn Văn Bé thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh, một ông
già ngồi chăm chú nhìn lên màn hình để xem chương trình ti vi đưa tin về
lễ khởi công xây dựng đường Trường Sơn công nghiệp hóa. Trên gương mặt
hiền lành nở nụ cười mãn nguyện, ông quay qua nói với con gái: "Này con!
Chỗ bến phà Xuân Sơn, nơi mà Thủ tướng làm lễ động thổ, ngày xưa bố và
đồng đội đã đặt lưỡi gạt đầu tiên để mở 20 Quyết Thắng. Nhanh quá ! Mới
đó đã hơn ba mươi năm rồi". Cô gái trìu mến nhìn bố và khe khẽ hát: "Đường
Trường Sơn năm xưa .. cha ông ta đã đi qua, bao suối sâu, đèo cao, bom
đạn phá. . .”. Đó là bài hát cô vừa dạy học trò mình sáng nay.
Tôi (người
viết bài này) , quen biết gia đình ông đã lâu, khi cô con gái út của ông
còn mang khăn quàng đỏ , lúc ấy tôi là phụ trách đội của em, bây giờ em
đã là cô giáo. Tôi không ngờ cha em - ông già nhỏ thó lọt thỏm giữa ồn
ào phố thị, hàng ngày cọc cạch đạp xe đi làm rẫy kia đã từng là một anh
hùng. Mãi hôm lễ khởI công xây dựng đường Trường Sơn cô gái mới đưa tôi
xem mẩu tin đăng tin trên tờ Quân Đội nhân dân số ra ngày 22 tháng 5 năm
1972 "công nhân quân giới Nguyễn Phong Lưu 8 năm lái máy, 5 lần bị
thương vẫn bám ở đường. Mấy ngày đêm liên tục phục vụ ở trọng điểm ác
liệt. Em cũng cho tôi coi tờ báo khác đăng toàn văn lệnh của chủ tịch
nước Tôn Đức Thắng ký ngày 7 tháng 6 năm 1972 phong tặng danh hiệu anh
Hùng Lao Động cho Nguyễn Phong Lưu 37 tuổi công nhân lái máy gạt đường
Quyết Thắng, đội thanh niên xung phong, ban xây dựng 67.
Những
bài báo ố vàng do mẹ trao lại, cô con gái cất giữ cẩn thận với tấm lòng
trân trọng và tự hào về người cha mình. Tôi tò mò hỏi chuyện, ông cười
và trao cho tôi tập nhật ký của ông. Từ văn bản với những dòng chữ khó
đọc, từ những mảnh báo ố vàng mà cô giáo Nguyễn Thị Thu Nga, con gái của
ông trao cho tôi, tôi đã dựng nên truyện ký này. Chắc chắn một con người
như tôi, thế hệ trưởng thành khi những biến cố chiến tranh đã trở thành
huyền thoại, khó có thể diễn tả hết được những gian lao mất mát và cả
cái được mà thế hệ cha ông đã trải qua. Tôi viết những dòng này bằng tấm
lòng ngưỡng mộ của kẻ hậu sinh đối với lớp cha anh, mong ông lượng thứ
cho sự mạo muội này.