Trương Bá Tuấn
Những
năm đầu sau giải phóng, ông Lê Văn Lập đã là một nông dân sản xuất
giỏi, có nhiều thành tích xuất sắc ở xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh
Đồng Nai. Ngay từ hồi đó, bà con mến phục đã tặng cho ông nhiều danh
hiệu Vua: Vua cao lương, Vua khoai lang, Vua rau cải...
Qua
phong trao làm ăn tập thể nông nghiệp, ông càng có dịp đóng góp công sức,
trí tuệ và cả tấm lòng được nhiều hơn. Từ vụ lúa Đông Xuân 1978 - 1979
đầu tiên đến năm 1984 ông đã 05 nãm liên tục được bình chọn là chiến sĩ
thi đua cấp tỉnh, liên tục là đại biểu Hội đồng Nhân dân ba cấp.
Khi
tỉnh bàn chuyện đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động
cho ông, Ban nông nghiệp Tỉnh ủy cử đồng chí Trần Thị Minh Hoàng cùng
nhiều cán bộ của tỉnh về gặp bà con trong HTX. Cùng đi có nhiều cán bộ
lãnh đạo của huyện Thống Nhất và của xã Hưng Lộc. Không chịu báo trước,
mờI trước như huyện đã chỉ đạo. Đợi khách đến, ông Ba Lập mới cho người
đi mời. Hơn ba chục xã viên đến họp, ngồi chật nhà, chen chúc cả ra
ngoài hàng ba. ..
Sau khi
biết yêu cầu của đoàn, muốn được trực tiếp nghe bà con xã viên nói về
ông phó chủ nhiệm Hợp tác xã Lê Văn Lập, không khí buổi họp nhộn nhạo
hẳn lên, ai cũng muốn giành phần nói trước.
Anh Năm
Lai còn đang tuổi thanh niên, xin mở đầu, nói giọng từ tốn: "Chuyện ông
Ba Lập, đêm ngày lặn lội, lo toan cho tập đoàn, rồi cho cả hợp tác xã
Hưng Nhơn ở đây, già trẻ, nam nữ ai cũng đều biết rõ. Việc khen thưởng
cho người làm giỏi, người có công với dân với nước, là chuyện rất hợp
với lòng bà con. Tỉnh đã khen cho ổng nhiều lần, nhiều năm. Việc xét
khen thưởng cao hơn của trên, chưa rõ sao, chớ ở địa phương này, đã làm
bầm dập ổng quá lắm rồi! Từ lâu bà con ở đây, nhất là những người nghèo
khó chịu ơn ổng nhiểu, đã coi ổng như người anh hùng của mình.
Xin
đừng xét tặng anh hùng chi nữa, đây rồi lạI đưa ổng đi nơi khác, bà con
tui thiệt thòi!"
Mọi
người còn đang bàn tán về ý kiến của Năm Lai, ông Năm Nê đã xin tiếp lời:
- Tôi
là lính chế độ cũ, từ nơi khác đến đây. Nghèo khó không nhà, phái ở nhờ,
không đất đai, phải mượn đất, phải đi làm mướn kiếm thêm tiền mua gạo
nuôi vợ nuôi con.
Nói tới
đây, ông Năm Nê xúc động, nghẹn ngào, nước mắt ròng ròng, mãi sau mới
tiếp lời:
- Ân
tình của ông Ba Lập đối với gia đình tôi lớn lắm! Ngày mới lập tập đoàn,
ông Ba đến nhà vận động. Tôi từ chối, viện cớ còn nghèo quá, để thêm vài
vụ khấm khá hơn sẽ vô. ổng nói: Vì nghèo quá mớI vận động vô tập đoàn
cho khá hơn. ổng còn hứa: nếu thua thiệt, sẽ lấy lúa nhà đền bù!
Ông Hai
Thông, tuổi đã ngoài 60, giọng oang oang, xăng xái tiếp lời:
- Bà
con tui thương ông Ba Lập nhiều lắm! ổng dốc toàn tâm, toàn sức để lo
cho tập thể, lấy cả máy bơm, ống tưới của nhà để lo cho việc tập đoàn.
Có đám mía gần nhà, bận bịu việc chung ổng bỏ thí, không chặt. Tôi phải
tự mình rủ thêm anh em, chặt mía giúp ông.
Nhiều
bà , nhiều chị giành nhau kể chuyện:
Bà Sáu
nhắc chuyện ông Ba Lập cứu đám mạ, vụ đầu tiên của tập đoàn 3 Hưng Nhơn.
- Gieo
mạ Đông Xuân xong, ai cũng lo chuyện ăn tết của nhà mình. Ai đời, bên
cạnh suối Mủ, nước chảy ào ào, mà đám mạ khô ran. Việc này đâu phải của
Ba Lập? Ba Lập chỉ làm thủ kho, theo sự chỉ đạo của xã. Còn chuyện điễu
hành lao động, là do ông Truyện, tập đoàn trưởng, luôn được lòng chủ
tịch xã. ông tập đoàn trưởng vốn là thợ làm cửa sắt ở Chợ Lớn.
Chẳng
lẽ phải chờ đến sau tết? Như vậy còn gì là đám mạ?
Nghĩ
vậy Ba Lập đã mượn thùng, xách nước đổ vào ruộng mạ. Đủ nước mạ lên xanh
tết. Vụ làm ăn chung đầu tiên thắng lợi. Cả tập đoàn ai cũng mừng.
Bà Sáu
vừa sụt sùi, vừa kể tiếp:
- Vụ
đầu tiên được mùa nhưng mấy ai biết được chuyện chiều và đêm 30 tết nãm
đó, mỗi mình Ba Lập hì hục xách nước chống hạn cho đám mạ của tập đoàn
được tốt tươi mà chẳng có công điểm nào!
Chị
Mười kể tiếp chuyện ông Ba vận động trồng mía, ép nấu đường cho bà con
ãn tết. Khi giao khoán đất và vận động khai hoang phục hóa, ông Ba hướng
dẫn cho bà con trồng mía ngoài kế hoạch. Mía ít hay nhiều là tùy vào
hoàn cảnh gia đình, tùy điều kiện đất đai, vốn liếng. Ráng trồng, có mía
sẽ có đường. Tới hồI thu hoạch mía. Mỗi nhà chỉ có đôi ba xe bò, đâu bõ
bèn cho lò đường của ông Năm Sum trong ấp ép mía, nấu đường...
ông Ba
Lập vô rẫy nhà mình, cưa cây mít lớn, làm cặp che ép mía. Có che nhưng
không có trâu bò, không có máy nổ để kéo che. ông Ba Lập kề vai kéo che,
vận động bà con cùng làm. Không có cháo đựng, không có thợ nấu đường,
qua nhà người em ở Bàu Hàm mượn chảo đụng đem về, kiếm thợ trông coi nấu
đường.
Tưởng
vậy là xong. Ai dè quán lý thị trường của chợ tới nơi, ặm ọe bắt
dẹp, bắt gom mía ra lò đường của ấp cho dễ bề quản lý.
Ông Ba
ra rả trình bày, đủ tình, đủ lý. Sau cùng, xã cung phẩi chấp thuận cho
cái lò đường bất đất dĩ này tiếp tục hoạt động.
Tết năm
đó. Tập đoàn 3 Hưng Nhơn, mỗi nhà chia nhau cả chục ký đường, ngọt ngào
hơn ở mọi tập đoàn khác trong xã Hưng Lộc.
Được
trớn, vụ sau Ba Lập lên huyện, xin vay ngân hàng 40.000 đồng để mở rộng
thêm 10 ha mía cho 40 hộ trong tập đoàn. Đến mùa thu hoạch, Ba Lập lại
ủng hộ tập đoàn mấy chục cây tre; dựng trại làm lò đường bề thế hơn
trước.
Ông Bảy
Quang, chủ nhiệm Hợp tác xã Hưng Nhơn vốn lả trung tá quân đội, đã nghỉ
hưu nói như phân trần:
- Tôi
làm chủ nhiệm theo sự phân công của cấp ủy xã. Là người lính, tôi quen
cầm súng, đâu quen cầm cuốc, lại càng không quen chuyện quản lý. Mọi
việc làm được ở HTX là do ông Ba Lập.
Buổi
họp mặt chưa kịp kết thúc, cơn mưa như trút xối xả, bất chợt ập tới. Chỉ
một loáng sau cơn mưa chợt đến chợt đi đó, đã dứt hẳn. Bầu trời lại xanh
ngắt, chẳng gờn chút mây. Mặt trời đủng đỉnh lên cao. Nắng rọi qua vòm
lá xanh quanh nhà. Những hạt mưa còn nấn ná, càng long lanh tỏa sáng.
Trong
buổi gặp gỡ hôm đó , ai cũng bộc bạch, chân tình, xúc động. Người nghe
cảm thông với nỗI lòng người nói, cùng đầm đìa nước mắt như nhau. ..
Giờ đây
là ủy viên Trung ương Đảng, với cương vị là Bí thư tỉnh ủy, đồng chí
Trần Thị Minh Hoàng vẫn còn nhớ mãi những giọt nước mắt của mình hôm đó,
như một kỷ niệm đẹp của 16 năm về trước. ..
Ông Ba
Lập đốt tiếp điếu thuốc, vuốt mớ tóc bồng bềnh, lao xoăn, rồi hề hà kể
tiếp:
- Nè!
Chuyện Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lao động kèm tấm Huân chương lao
động hạng nhì cho Lê Văn Lập năm 1985, nay đã được tròn 15 năm rồI đó!
Mấy ai biết được Ba Lập có tới hơn chục cái tên. Ngay cái tên Lê Văn Lập
cũng là tự chọn khi bỏ xứ Tương Bình Hiệp ở Thủ Dầu Một theo cha đến xứ
Hưng Lộc này lập nghiệp đó!
Hồi mới
cưới nhau, cha mẹ Ba Lập nghèo lắm. Nhà không có ruộng, cha phải lam lũ
theo con nước ròng, lai quần không ráo, vạt áo chẳng khô, như thân cò
đêm ngày lặn lội bờ sông, kiếm con cá con tép, bán lấy tiền độ nhật. Mẹ
phải ở đợ theo mùa, ngồi che ép mía cho nhà giàu trong làng, lam lũ hái
từng cọng rau mót về muối dưa bán lấy tiền phụ cha mua gạo. Đẻ con ra mà
không tiền làm giấy khai sinh, không nồi chè cúng mụ nên không đặt tên
con. Sẵn thấy bàn chân có tật ngón cái quẹo qua bên, nên gọi luôn là
thằng Quìu.
Hồi đầu
kháng chiến, bộ đội Cụ Hồ về làng. Thấy các má, các chị góp tiền làm
bánh, thêu khăn ủng hộ. Quìu thương mấy ảnh lắm. Mới 8 tuổi đã leo cau
giỏi không thua người lớn, Quìu bẻ cau lấy tiền ủng hộ bộ đội. Số tiền
không nhiều. Nhưng các anh thương Quìu lắm, cõng trê cổ. Vì không có tên,
nên giới thiệu chẳng trọn lời:
- Đây
là em. . . đây là em. ..
Cõng
tới đâu bà con hoan hô rần rần tới đó. Và cũng từ đó, Quìu có thêm cái
tên ngồ ngộ: Ba Em.
Hồi nhỏ
Quìu mê coi hát giữ lắm! Gánh hát của Bầu Keo về làng, diễn vở Phạm Công
Cúc Hoa. Quìu đòi riết, bà nội phải cho theo. Cô đào Nết nhập vaí dì ghẻ
Tào Thị xuất thần, hành hạ con chồng Nghi Xuân, Tấn Lực quá ác. Ai coi
cũng giận. Ngồi cạnh bà nội ở hàng ghế hạng nhì, Quìu nghiến răng trèo
trẹo, hai mắt giựt giựt. Chịu hết nổi, chạy mấy bước, đã tới sân khấu.
Bất chấp mấy hàng ghế đầu dành cho mấy ông hương, ông cả, bất kể mấy ông
trống kèn đờn ngồi sát sân khấu, Quìu vẹt ngang, nhảy cái ruột đã lên
sàn diễn. Túm ngay được mụ Tào Thị độc ác, sẵn cái ống quết trầu bằng
đồng của bà nội, quơ theo lúc nào không biết, Quìu phang túi bụi vào đầu
Tào Thị. Bị đòn đau quá, sợ hãi mụ la chói lói.. .
Mọi
người ngỡ ngàng. Pu lít thỏi còi tu huýt inh ỏi Khi kéo được Qùiu ra,
cây đèn măng xông đã bể nát, sân khấu tối thui.
Bà nội
đứng cười, chỉ biết kêu trời, lặng nhìn Quìu bị trói, dắt về nhà làng
đóng trăng như những người thiếu thuế thân.
Sáng
sớm hôm sau, ông nội phải chạy đầu này đầu kia, vay mượn tiền, rồi khăn
đóng áo dài, ra làng nộp phạt. Thời đó nhiều người nghèo, không có một
đồng để đóng suất thế thân bị bắt bớ,đánh đập đóng trăng ở nhà làng khổ
sở, vậy mà ông nội phái nộp tiền làng phat tới 1 đồng 2 cắc.
Nhà quá
nghèo, Qùiu không được cha mẹ cho đi hoc. Nhưng rắn mắc, gan lì thông
minh đáng nể, bạn bè cùng trang lứa khó bì. Mới 8 tuổi, Quìu đã dám leo
cây dừa cao trật ót nhà ông nội. Chờ mãi nhiễu ngày mới thấy cặp chim
trống mái tha cục mồi nhỏ hơn.Nhưvậy lúc này cưỡng con đã bể bọc cứt, dễ
nuôi , Quìu mới làm cái nài để leo lên bắt chim. Leo tới đọt dừa, ổ
cưỡng lớn bằng cái nơm, miệng ổ kéo dài như cái vòi, thấy bãt ham. Thọc
tay vào ổ, cưỡng con không thấy, chỉ đụng cái cổ rắn nhám càm mà
tay Quìu chưa giáp. Hoảng lắm chớ! Nhưng Quìu còn đủ gan và thông minh,
xiết chặt cổ rãn hơn. Con rắn còn quậy mạnh đuôi, phá nát ổ cưỡng. Quìu
mài đầu con rắn hổ vào thân cây dừa, vừa mài vừa tuột lần xuống đất. Gần
tới nơi, quá mệt và quá căng thẳng. Quìu thả mình, rớt ùm xuống mương,
ông chú Năm Hằng chạy ra vớt lên. Lúc này Quìu đã hết biết trời đất, tay
còn nắm chặt con rắn hổ mang dài cả sải, đã mất tiêu cái đầu.
Sau
trận này, ông chú Năm Hằng qua nhà, nói với cha Quìu:
- Thằng
này được. Gan dạ và thông minh lắm! Ráng cho nó đi học. Có thêm cái chữ,
sau này ấm thân nó, lại giúp được cho xóm làng, quê hương. Bây nghèo,
chuyện tiền bạc để tao lo.
Nhờ đó
mà tuổi thơ của Quìu được cắp sách đến trường, hết bậc tiểu học. Nâm 15
tuổi Quìu đã tận mắt thấy được thế nào là tội ác của giặc Tây, nung đúc
thêm lòng căm thù ngay từ buổi niên thiếu. Lúc này Quìu đã có thêm 3 đứa
em. Cha Qùiu kéo chủ trên sông, bắt cá tép khồng đủ nuôi vợ con, phải
lãnh ruộng của bà Phó Phán trên cánh đồng giữa sông Lưu và rồng Gừa.
Sông Lưu và rồng Gừa là hai đoạn sông phân nhánh của sông Sài Gòn khi
chảy tới đầu cánh đồng này của 2 xã Trung An, thuộc tỉnh Gia Định và xã
Tương Bình Hiệp thuộc tỉnh Thủ Dầu Một.
Mỗi khi
có Tây càn, bà con 2 xã thường chạy vô cánh đồng có nhiều gừa, lau, sậy,
đưng, bàng để lánh giặc.
Hôm đó
cha mắc công chuyện, từ sáng sớm, Quìu phái một mình vô đồng thăm lúa.
Thăm lúa và thả mấy tay lưới bén xong Quìu vô rồng Gừa lá xanh um tùm,
rễ mọc chằng chịt kiếm ổ cưỡng và sáo. Quìu thích nhất là vô đây vừa
nghe chim cu gù vừa làm một giấc cho đã...
Chưa
kịp làm gì đã nghe súng giặc nổ ran khắp cảnh đồng.
Trời
đất! Hai chiếc tàu sắt đen trùi trũi đang nằm núp trong rồng Gừa. Có lẽ
từ đêm khuya, lợi dụng nước lớn, 2 chiếc tàu sắt đã tắt máy thả trôi vào
ém kín ở đây. Quìu nghĩ: như vậy lần này thì chết rồi! Thu mình trốn
trong đùm rễ gừa rậm rịt Quìu thấy rõ cảnh bắn giết tàn bạo trên khắp
cánh đồng. Tiếng súng nổ, tiếng kêu cứu lạc giọng, tiếng hò hét say máu
man rợ của bọn giặc. Chúng sục vào các chòi lúa giữa đồng, gặp trâu bắn
trâu, gặp người bắn người, gãp rẫy mía chúng quăng lựu đạn vô đốt, gặp
đống lúa mới đập chúng cào hết xuống ruộng. Khói lửa mịt mù, mùi ngọt
của mía pha lẫn mùi thịt người cháy khét lẹt. Lúc đầu Quìu sợ thót ruột.
Sau đó nỗi căm thù đã làm tan biến dần sự sợ hãi. Mãi tới chiều 2 chiếc
tàu sắt mớì hả hê nổ máy chở bọn giết người trở về chợ. Giặc rút, tiếng
súng ngưng bặt. Tiếng khóc than thảm thiết khắp cánh đồng. Mãi tới khuya
hôm đó bà con vẫn đốt đuốc đi tìm xác người thân. Giờ đây Tương Bình
Hiệp và Trung An vẫn còn đám giỗ cùng ngày của gần 300 người chết vì
trận càn năm ấy. Để ghi nhớ lạỉ mối hận thù này, có ai đó đã đặt mấy câu
thơ:
Sông
Lưu đẩm máu.
Rồng
Gừa vênh râu.
Qua năm
16 tuồi, Quìu đã dám làm chuyện động trời.
Tây về
xây bót Tương Bình Hiệp. Thằng Tây xếp bót Lơ-ri, bà con quen gọi là Tây
Điên, đã gây biết bao tang tóc ở vùng này. Nó nghe và nói tiếng Việt khá
rành, có lối chơi quái ác, Qùiu còn nhớ mãi không quên. Cạnh bờ sông
trước bót có 4 cây trụ. Nó bắt Quìu trèo, đặt cái vỏ đạn garăng lên đầu
trụ. Chưa kịp rút tay về.
- Đoàng!
Tiếng
súng nổ chát chúa. Gió mát lạnh bên tai. Cái vỏ đạn vừa đặt đã văng mất
tiêu. Còn đang ngơ ngác sợ hãi, đã nghe tiếng cười hô hố:
- Ban
gioi lam! ê , thang nhỏ, ang co!
Một tên
lính patidăng cầm súng bước ra, đưa vỏ đạn khác, biểu leo lên đặt tiếp.
- Thú
thiệt - ông Ba Lập kể, ánh mắt còn nguyên vẹn vẻ hãi hùng - lần đầu leo
lên chưa biết nó làm gì nên chưa sợ nhiều, lần sau leo lên.... Trời ơi.'
Muốn té đái té cứt lận!
Phải
làm cái trò chơi chết người đó nhiều lần, về nhà Quìu nằm liệt giường,
bịnh gần cả tháng. Sau đó thằng Tây Điên chuyển sang trò chơi khác. Nổi
hứng, nó xách súng kiếm người chèo xuồng trên sông tập bắn mục tiêu di
động. Một ngày mưa gió lê thê. Thím Ba của Quìu chèo xuồng qua sông, mua
thuốc tán cho con. Hôm đó thím được chọn làm mục tiêu, trúng đạn té sấp
trên xuồng, chết mà mắt vẫn trừng trừng. Trong căn nhà nát, dột bốn bề,
đứa em gái ngồi vuốt mắt cho mẹ , nước mắt nhòe nhoẹt, câm lặng...
Giữa
ban ngày mà Quìu thấy toàn đom đóm. Sau suốt mấy ngày bẻ cau mướn cho
Hương thân Tỏ, Quìu lầm lì chẳng nói một lời. Vác cau vô nhà, thấy cây
lao bén ngót, chủ nhà vẫn dựng ở góc buồng, Qùiu lén lấy cắp đem giấu
sẵn ở bụi lá ven sông...
Hôm sau.
Mặc kệ đàn muỗi háu đói. Trời sáng dần. Quìu căng mắt chờ. Kia rồi, cái
dáng kềnh càng của thằng Tây Điên đang bước tới đám lá. Hai chục sải.
Nỗi hận
thù dồn cả vào cây lao bén ngót. Quìu tung người, nhảy lên, lụi thẳng
vào ngực hắn. Thằng Tây Điên ở trần trùi trụi dướn người, cặp mắt xanh
lè trên gương mặt đỏ au, lạ lẫm nhìn Quìu, miệng há hốc. Máu đỏ từ miệng
hắn ồng ộc trào ra, phun cả vào tay áo đen bạc màu của Quìu. Chiếc lao
dài gần hai sải. Trổ qua sau lưng, tới gần lút cán.
Qua
trận này, Quìu có thêm một cái tên mới, nghe rất anh chị: Quìu lút cán.
Sau vụ
đâm chết thằng Tây Điên, Ba Em phải trốn về Sài Gòn. Lúc đầu Ba Em học
nghề quấn mô tơ điện ờ nhà bà con xa, tại xóm Bàn Cờ. Hồi đó con nhà
nghèo đi học nghề, đồng nghĩa với chuyện đi ở đợ không công phải ngoan
ngoãn phục dịch nhà chủ nhiều năm, chủ có thương mới dạy cho cái nghề.
Ba Em
siêng năng, luôn cố gắng làm vui lòng chủ nhà. Suốt ngày lo dọn dẹp phục
dịch cho nhà chủ.
Ông chủ
là một tay nghiền thuốc phiện. Sáng sáng, sai Ba Em ra quán mua cà phê.
Gặp bữa quán đông khách, phải chờ lâu, đem cà phê về trễ, không kịp cho
ổng chiêu một hớp sau cữ hút, ổng chửi không tiếc lời, có khi còn co giò
đạp thẳng vào mặt.
Ba Em
đi học nghề ở Sài Gòn nhưng nhớ lắm cha mẹ và mấy đứa em. Nhớ cả con
sông Sài Gòn nhiều kỷ niệm êm đềm chảy qua xứ Tương Bình Hiệp. Nhớ những
buổi trưa hè cùng mấy dứa bạn trèo cây bắt cưỡng, sáo. . .
Nhớ mãi
lời cha: nhẫn nhịn để học cho được cái nghề .
Vì vậy
đến đây học nghễ có cơ cực cách mấy, có bị mắng chửi đánh đập đến mấy,
Ba Em vẫn bậm môi, nhới lời cha dặn ráng nhẫn nhịn.
Ông chủ
thường biểu Ba Em ngồi trước đe dùng hai tay chấm hai đầu dây để ổng
ngồi bên cầm đèn khò hàn nối lại. Một hôm cơn ghiền kéo tới, ngáp lên
ngáp xuống, run tay, cây đèn khò không thổi lửa vào chỗ mối hàn mà thổi
vào tay Ba Em. Nóng quá, giật tay ra. Chưa kịp nói gì, cây đèn khò đang
phun lửa xanh lè đã mổ vào đầu, tóc cháy khét lẹt.
- Đ. mẹ,
bộ mày đui hả?
Chịu
hết nổi, Ba Em đứng thẳng người co giò đạp mạnh vào đầu ông chủ, mặt đập
xuống đe, máu me xốI xá . Còn Ba Em, đã nư rồi, phóng ra khỏi nhà, trốn
biệt.
Sau đó,
Ba Em xin vào làm cho Đốc tờ Triệu. Nói tiếng làm cho oai, chớ thực tế
là tiếp tục đi ở đợ, lo chuyện nấu kim và ống chích. Sau đó chuyển qua
Đốc tờ Tạo, rồi Đốc tờ Chương.
Thấy Ba
Em siêng năng lại thông minh, ham học hỏi, chủ đã cho theo lớp vừa học
vừa làm ở trung tâm kỹ thuật học đường Chợ Quán, có được bằng cấp y tá
trung cấp.
Năm
1952 Ba Em là người giúp việc đắc lực cho cả vợ chồng Đốc tờ Oanh. Lúc
này Ba Em đã thành chàng trai hào hoa, ăn diện bảnh bao, đi chiếc BW 250
phân khối. Ba Em ca cải lương thiệt mùi, thi bơi lội ở sông Thị Nghè, và
ở bến Lăng Tô cột cờ Thủ Ngữ, thường được nhiều giái nhất nhì. Ba Em còn
làm thơ, gửi đăng báo Sài Gòn mới, được bà Út Trà gửi quà thưởng.
Ba Em
được nhiều cô gái giúp việc trong nhà mến mộ, còn được nhiều nữ sinh con
gái nhà giàu ở trường Gia Long ghé mắt.
Cô Phan
Thị Phấn cháu gái của bà chủ, quê ở miệt ruộng Gò Đen, Long An được Ba
Em để tâm nhiều nhất Cô gái hiền thục, có mái tóc đen huyền tha thướt.
Mỗi lần chải đầu, phải đứng trên ghế mà đuôi tóc còn phủ dài trên nền
gạch. Điều mà Ba Em cảm động nhất là cô gái này không hề sảnh sẹ với kẻ
ăn người ở. Cô lại rất kính trọng và chăm chút từng miếng ăn chỗ ngủ cho
mẹ của Ba Em, mỗi khi bà từ Thủ Dầu Một về Sài Gòn thăm con. Kể cả mấy
chục năm sau, khi đã thành vợ thành chồng, những lúc Ba Em phảI trốn
lính chui nhủi, bị đưa ra quân trường, bị giam
trong
nhà tù, cô Phấn vẫn hiếu thảo với cha mẹ, thủy chung với chồng, bảo bọc
nuôi dưỡng cả đàn con vừa đủ chục.
Giúp
việc cho vợ chồng Đốc tờ Oanh, Ba Em có nhiều dịp tiếp xúc với những
người giàu có, làm ăn lớn ở Sài Gòn lúc đó. Sẵn có tấm lòng hướng về
kháng chiến, hiểu biết về thuốc men, lại có chiếc xe máy BW 250 phân
khối, Ba Em đã nhiều lần đem thuốc Tây vào bưng điền trót lọt. Một lần
chở bọc thuốc Tây lớn, có nhiều thuốc kháng sinh và thuốc sết rét rừng,
Ba Em bị lính Tây đen chặn bắt ở cầu Bình Lợi, đem về giam ở bót Giếng
nước quận 3, đưa sang điều tra ở bít Catina, rồi đem giam trại giam Chí
Hòa. May nhờ có hiệp định Giơ - ne - vơ, Ba Em mới được thả về.
Năm
1954 Ba Em cưới vợ. Chưa được giáp tháng đã được lệnh động viên, gọi
đăng lính quân y. Bàn kỹ với vợ: Không thể đi lính, cũng không thể ở lại
Sài Gòn. Chỉ còn nước trốn về Trương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một.
Vuốt
lại mái tóc tài tử, loăn xoăn bồng bềnh, thả mắt mơ màng theo làn khói
thuốc, ông Ba Lập tâm sự:
- Nói
thiệt, tôi không ngờ đây là buổi mở đầu cho cuộc trốn lính đầy sóng gió,
dằng dặc suốt cả hai mươi mốt năm.
Năm
1955 đẻ con gái đầu lòng, đặt tên là Lê Kim Liên. Vợ chồng Ba Em muốn
luôn nhớ đến đến công ơn Cụ Hồ kính yêu, qua cái tên làng quê đã sinh ra
Người.
Trở lại
quê nhà. Không ruộng đất cấy cày. Mượn được công đất bỏ hoang ven sông.
Ba Em đổ ra biết bao công sức. San gò lấp trũng, đào mương lên líp, hết
phân trâu bò về ủ với tro, đào cả giếng nước để trồng rau cải.
Một
mình đào giếng, nhảy xương giếng đào đất, xúc vô giỏ, leo lên kéo đất
đem đổ. Rồi lại tiếp tục thâu đêm. Gần sáng mới về. Vợ vẫn bồng con,
chong đèn thức đợi. ..
Nhà
nghèo, nhìn con thương đứt ruột. Không tiền mua vải. Ba Em biểu vợ đem
chiếc áo dài cướI bằng gấm Thượng Hải, cắt may quần áo cho con.
Công
sức và tài ba của Ba Em đã được đền bù xứng đáng: đám cải xanh tốt bời
bời. Cho dù Ba Em chỉ mới trồng được một lứa cải, chủ đất đã tối mắt,
thúc hối bán cải nhanh nhanh để trả lại ruộng.
Ba Em
mượn tiếp đám ruộng khác. Lại tốn biết bao công sức để có được đám cải
xanh tốt hơn. Lần này chủ đất cũng học theo cách làm y chang như chủ
trước.
Ông Lê
văn Trọng, cha của Ba Em đã tham gia kháng chiến chống Pháp từ những
ngày đầu. Chính quyền Ngô Đình Điệm kéo lê máy chém, lập danh sách khủng
bố người kháng chiến cũ ở Tương Bình Hiệp. Nghe tin có tên mình trong
danh sách, ông bỏ trốn về Sài Gòn, làm nghề hớt tóc dạo.
Năm
1959, ông Trọng theo anh em về Hưng Lộc phá rừng ìập rẫy. Cũng thời gian
này, ở quê nhà Ba Em sống chật vật nhưng vẫn đào hầm nuôi giấu cán bộ
kháng chiến. Anh em quen biết nhau từ lúc còn ở Sài Gòn, qua chuyện tiếp
tế thuốc men vào bưng biền.
Lúc đó
ở Tương Bình Hiệp giặc ráo riết lùng sục, bắt bớ đánh đập, bắn giết
người kháng chiến cũ như cơm bữa. Hương thân Lập đã lập nhiều chiến công
vớI giặc, bắt giết ông Nguyễn Tấn Đạt, ông Tư Đôi.. . Được làm xã trưởng,
hắn càng thêm hung hãng.
Ba Em
đâ giúp các anh nắm rõ đường đi nước bước của giặc để tránh né, sau đó
đã khử được tên Lập có nhiều nợ máu.
Vợ Ba
Em lại có bầu đứa thứ 5. Ruộng đất không có lấy gì để nuôi gia đình? Hơn
nữa cũng không thể sống ở đây với sự bao bó , rình rập đêm ngày của giặc.
Ba Em đành chia tay với mẹ, vợ con và các em, theo cha đi Hưng Lộc.
Nhấp
chung trà đậm vừa châm, ngón út điệu nghệ gạt nhẹ tàn thuốc, cặp mắt mơ
màng nhớ lạI chuyện xưa, ông Ba Lập kể tiếp:
- Mấy
ảnh thương lắm! Việc cách mạng bám trụ được trong dân và việc khứ được
tên chó săn Lập là có công Ba Em đóng góp không nhỏ. Mấy ảnh còn làm
giấy létxe phế năm ngón tay (giấy thông hành có giấy lăn tay 5 ngón) ghi
luôn cái tên Lê Văn Lập, cho xài.
Anh Ba
Nhỏ là người nằm hầm bí mật trong nhà lúc đó. Sau ngày giải phóng là cán
bộ của tỉnh Sông Bé đã về Tương Bình Hiệp hỏi thăm gia đình Ba Lập. Biết
gia đình đang ở Hưng Lộc, mừng lắm. Tội nghiệp, chưa kịp đi thăm hỏi đã
bị tai nạn giao thông, chết ngay hôm đó.
Năm
1959, Ba Em cùng cha đến Hưng Lộc phá rừng lập rẫy, vừa để tránh né giặc,
vừa tạo dựng cơ nghiệp với cái tên thứ tư. Lê Văn Lập.
Lúc mới
đến, rừng cặp theo mặt lộ đã có ngườI giành khai phá trước rồi. Thấy
cách lộ còn đất rừng. Cả hai cha con lội giáp mấy lần, cùng gật đầu ưng
ý, ông Ba bèn vác cái bảng cấm có dòng chữ: "Rừng cấm số 13" đem tuết vô
rừng sâu hơn nữa, cắm xuống đất:
- Cho
mày cấm từ đây!
Hồi đó
rừng này còn nhiều cây lớn, cỡ cái thùng phi. Đốn hạ cây xong, đoạn ra
từng khúc, bán cây, bán củi mua gạo, mắm muối để phá rừng dọn rẫy tiếp.
Trên cây cao hai ba chục thước, ong mật đóng đặc khừ, thấy bắt ham. Ba
Lập dùng thế, đóng cọc vào thân cây, từng bước leo lên tới ngọn ăn ong,
bán lấy tiền gửi về cho vợ và mẹ nuôi em với đàn con ở quê nhà.
Trong
rừng hồi đó còn nhiều cọp beo, heo, khỉ, cá sấu, rắn rết. .. Ngay trước
sân nhà đang ở hiện nay, cọp đã vật chết ông Bái người Thượng. Chung
quanh đây có bốn năm cái mả chôn người chết vì cọp vồ, toàn là bà con xứ
khác tới phá rừng lập rẫy.
Dọn đất
xong. Vụ đầu tỉa bắp. Đất rừng mới khai phá, bắp xanh tết mượt mà. Lúc
bắp có trái, khỉ bầy hàng mấy trăm con kéo tới bẻ phá. Ba Lập tìm cách
đánh bẫy. Bắt sống được hơn ba chục con. Trói thúc ké , cột phơi nắng,
chúng la hét inh ỏi. Đám còn lại sợ hãi, dạt mất tiêu. Sau đó đem bán
bọn "tù binh" khỉ này, mua được mấy tạ gạo.
Ba Lập
tự hào nhiều lắm về dòng họ Lê của mình. Dòng họ oai hùng có nhiều người
tài giỏi, nhiều công trạng với dân với nước. Thời xưa có Lê Đại Hành, Lê
Lợi, Lê Lai, Lê Qúi Đôn, Lê Quang Bình.. . ThờI nay có Lê Hồng Phong, Lê
Duẩn. . .
Ba Lập
là con nhà nòi.
Ông nội
là Lê Vãn Tễ, đã từng vác dao theo Thiên địa hội chống Tây, anh ruột của
ông nội là Lê Văn Hằng cũng ghét Tây nhưng theo Đảng Cộng sản, hoạt động
cách mạng, bị giặc đày ra Côn Đảo. Năm 1945, cách mạng thành công mới
được anh em rước về đất liền. Hiện nay ở thị xã Thủ Dầu Một có con đường
mang tên Lê Văn Hằng.
Ba Lập
hận giặc Tây nhiều lắm chớ. Chỉ muốn đi theo con đường các ông và cha đã
ra đi.
Khi còn
nhỏ đã đâm chết thằng Tây Diên để rửa hận cho mình và thím ruột. Lớn lên,
Ba Lập khi ở Sài Gòn đã nhiều lần tiếp tế thuốc Tây vào bưng biền, ủng
hộ kháng chiến, đã bị giặc bắt bớ, giam cầm nhiều lần... .
Suy
nghĩ nát óc: cảnh nhà không đi kháng chiến được, phải ở lại làm ãn nuôi
mẹ, nuôi em và vợ con. Nhưng ở lại nhà, làm sao sống yên được với giặc?
Lúc này
mẹ, các em cùng vợ con đâ trở về ở chung tại Hưng Lộc. Ba Lập đã cùng
người em kế ]à Tư Lanh trốn lính mút mùa. Ba Lập đã chịu tốn lần lượt
hơn cả chục cây vàng lo lót cho thầy chú để làm 5 căn cước giả. Xài bốn
căn cước đầu, cả bốn lần bị phát hiện bắt giam. Xài tiếp tấm căn cước
thứ 5, giặc chưa kịp bắt, đất nước đã hoàn toàn giải phóng. Tấm căn cước
sau cùng mang tên Lê Văn Hải, hiện đang nằm ở nhà Bảo tàng Đồng Nai.
Còn
chuyện trốn lính và nơi trốn lính của Ba Lập nhiều lắm, kể sao xiết!
Nhờ cái
dáng tròm ròm, trên môi có bộ râu cá chốt quảnh lên, dưới cằm, râu rậm
rì thả dài tới ngực. Ba Lập lại hay đội cái nón cối bằng nhựa rộng vành,
nên dễ có bề thế xưng ông xưng bác với đám lính trẻ.
Cái khó
ló cái khôn.
Trốn
lính ở Hưng Lộc, sống ngay tại nhà cùng vợ con, nhưng trong tờ khai gia
đình và tấm hình chụp chung cả nhà để làng xã kiểm soát đều không có tên,
cũng không có hình của Ba Lập. Lúc cần, Ba Lập ngồi nhậu ngất ngưởng cả
buổi cùng thầy chú cỡ cảnh binh, hội đồng xã, trưởng ấp. Có lúc trốn
biệt trong nhà. Nghe đài phát thanh Mặt trận giải phóng. Có lúc thấy mòi
không êm, phóng cái rột, Ba Lập đã vô tới rây, ở cạnh mé rừng. Khi ở
Hưng Lộc động quá, Ba Lập lộI rẫy băng rừng dạt qua xã Bàu Hàm. Lúc này
cha mẹ và các em đã vô đây phá rừng lập rẫy mới. Đây là khu dinh điền
của bà con người Hoa - Nùng do chính quyền Diệm đưa từ Móng Cái vô năm
1945. Có lúc Ba Lập được ông Năm Tiêu iàm việc ở trại Thực Nghiệm Hưng
Lộc cho vạch rào chui vô trốn lính. Đất trại rộng mênh mông, công nhân
đông cả trăm, giặc chỉ càn bắt lính ở ngoài rào. (Sau ngày giải phóng
mới biết ông năm Tiêu là đảng viên nằm vùng). Chính trong thời gian trà
trộn vào công nhân của trại để trốn lính – Ba Lập - con người luôn ham
mê cái mới đã học hỏi được nhiều kỹ thuật nông nghiệp mà các chuyên gia
nước ngoài thực nghiệm ở đây. Cũng từ nơi đây Ba Lập đã lấy cắp được
nhiều giống bắp, cao lương, khoai lang qúi Trốn lính mà vẫn lo gầy giữ
giống, lòng vẫn mong chờ một ngày mai...
Có khi
cả Hưng Lộc, Bàu Hàm giặc càn bố mạnh, Ba Lập lại trốn lính ở vùng công
giáo Hố Nai. Phụ vợ đem bán sầu riêng, mít, chuối ở chợ Thái Bình. Nghe
chuyện linh mục che chở cho thanh niên trong giáo xứ trốn quân dịch,
cảnh sát ruồng bố cũng khó bề bắt lính ở đây. Ba Lập lân la làm quen với
gia đình ông Vũ Văn Giang ở giáo xứ Ngọc Bồng. Làn hồi Ba Lập được vào
làm thợ cưa xẻ gỗ, được ở luôn trong trại cưa của gia đình. Có lúc cùng
con chủ nhà theo xe đi Long
Khánh
mua cây gỗ. Hiền lành, khéo léo, tận tình giúp đỡ mọi người trong gia
đình và cả bà con chòm xóm. Ba Lập còn được gia đình giúp cho cây gỗ làm
chuồng trại nuôi hơn 600 con thỏ. Chuyện quan trọng nhất là được trốn
lính an toàn, khỏe ru gần ba năm cho đến ngày giải phóng.
Thật
vậy, không khỏe sao được khi sống trong tình yêu thương, che chở của gia
đình, bà con chòm xóm. Cha xứ vừa dặn dò con chiên ở nhà thờ: Thanh niên
không ra đường vì có cảnh sát ruồng bố bắt quân dịch. Ba Lập biết tin
liền ngay sau đó, khi có lính đến gần nhà, Ba Lập chui vô thùng phi, bên
ngoài đã có mấy cậu em che đậy chu toàn không thua ở hầm bí mật.
Mới đây
thôi, mùa chôm chôm năm 2000 chín đỏ vườn. Cậu con trai của gia đình
công giáo ở Hố Nai vừa đưa cả vợ con, dâu rể, em út, cháu nội ngoại gần
30 người ngồi chật chiếc xe Labô vận tải nhỏ đến thăm.Ba Lập vui vẻ nhìn
đàn cháu nhỏ ríu rít dưới gúc Sơri, chôm chôm chín đỏ, xà sát đất, vừa
ăn vừa hái ôm ra xe. Nghe nhắc đến tên Ba Thỏ, Ba Lập ngậm ngui nhớ đến
ông bà cụ năm xưa đã clâl mang mình trong những ngày trốn lính cơ cực. .
.
Ông Ba
đã bị đưa ra tòa tiểu hình ở Biên Hòa về tội trốn lính, sau lại ra tòa
đại hình ở bến Bạch Đằng Sài Gòn với can tội: Bất phục tùng, vượt ngục,
bốn lần sử dụng căn cước giả, qua mặt nhà chức trách.
Tòa
tuyên án: 8 năm tù giam!
Ba Lập
nói ngay tại tòa:
- Tòa
xử, tòa ở!
Mà
thiệt, bắt giam Ba Lập như bắt cóc bỏ dĩa.Lần đầu, giam ở phòng thông
tin xã Hưng Lộc, có cả trung đội dân vệ gác bên ngoài, Ba Lập khoét
ngạch trốn dễ ợt. Lần sau, giam xong, đưa ra quân trường Vạn Kiếp, Ba
Lập rủ thêm một người cùng trốn. Lần sau cùng, ở trại giam lao công đào
binh Sư đoàn 18 của tướng ngụy Lê Minh Đảo, Long Khánh. Vợ đến thăm nuôi
nhìn chồng mặc áo tù có sọc, đầu cạo trọc, có lính cầm súng dí trước
ngực, dí sau lưng, thương quá, khóc ròng. Ba Lập giả đò cúi xuống xách
giỏ đồ ăn thăm nuôi, nói nhỏ vừa đủ nghe:
- Về
đi, vài bữa tôi về!
Ba Lập
đã nói là làm, chưa hết tuần sau đã tìm cách đánh gục tên lính áp giải,
lột bỏ quần áo tù, trần trụi băng rừng cao su, bỏ trốn về nhà với vợ
con.
Sau
hiệp định Paris giặc càng o ép mạnh, việc trốn lính của Ba Lập càng thêm
gian nan, vất vả. Nhưng càng nung đúc cho Ba Lập thêm khôn khéo, nhanh
nhẹn, nhất là cái tánh thẳng mặt chống đốI với cái ác, cái bất công đã
có sẵn trong máu từ buổI còn ấu thơ.
Năm
1972 Ba Lập lại làm thêm chuyện động trời.
Sau
nhiều ngày trốn biệt ở đám rẫy mới khai phá ở Bàu Hàm, Ba Lập lén về nhà
thăm mẹ. Thấy con thương đứt ruột, người mẹ vẫn thúc hối đi ngay vô rẫy
vì cảnh sát đang lùng sục bắt lính. Chưa kịp đi, đã nghe tiếng súng nổ
gần nhà. Tiếp đó là tiếng kêu khóc thảm thiết của người vợ. Bà con xúm
lại ngày càng đông. Cạnh hàng rào dâm bụt, anh thanh niên ngườI Nùng nằm
sóng xoài bất động trên vũng máu, mắt mở trừng trừng. Người vợ tóc tai
rũ rượi, thai đã vượt bụng, đang ôm xác chồng gào thét thảm thương.
Nhớ
chuyện năm xưa ở quê nhà. Hình ảnh đứa em ôm xác mẹ, đầm đìa máu, Ba Lập
lại thấy mắt giựt giựt, hàm răng nghiến chặt. Quên mất thân phận đang
trốn lính, bước lại gần tên giết người, Ba Lập nạt lớn:
- Tội
gì, bắn chết người ta?
- Trốn
lính!
Hai
tiếng trốn lính làm cho Ba Lập nổi ôn. Chân bước tới, một tay gạt văng
khẩu súng, tay kia đấm thẳng vào sau gáy, tiếp đó là cú đá như trời
giáng vào hạ bộ. Hắn chắng kịp kêu tiếng nào, ôm bụng đổ nhào xuống vũng
máu người vừa bị chính hắn giết hại.
Vừa
quay đầu chạy, thấy ông Chu Việt Thiêm, người dân tộc Nùng đánh xe bò
chở chuối vô nhà. Kéo tay ông trở lại, Ba Lập chỉ tay vào tên trung úy
đang nằm bất động:
- Tôi
vừa đập, vì nó bắn chết đồng bào sắc tộc của anh!
Thấy Ba
Lập bỏ chạy đã xa, bà con mới hô hoán:
- Thằng
già có râu đánh chết ông cảnh sát trưởng rồi!
Lính
tráng kéo tới đông nghịt. Trực thăng đáp xuống chở tên trung úy đi luôn.
Sau đó không thấy trở lại.
Ông
Việt Thiêm cũng có bộ râu cá chốt, lại có mặt sớm ở đó, nghe bà con hô
hoán như vậy, phải lánh mặt cả tháng sau thấy êm mới trở về. (Sau ngày
giảI phóng, Ba Lập mới biết ông Chu Viết Thiêm là đảng viên nằm vùng xã
Bàu Hàm).
Sau đó
chi bộ Đảng đã vận động bà con vác biểu ngữ có cả máy cày chở xác người
bị nạn lên xã đấu tranh đòi bồi thường, đòi phải chấm dứt bắt lính và
đàn áp.. .
Giờ đây
xã Bàu Hàm đã đổi tên là xã Sông Thao. Nhà nước đã phong tậng danh hiệu
là xã Anh hùng.
Cũng
chính vì việc Ba Lập đánh gục tên trung úy trưởng cục cảnh sát Bàu Hàm
mà khi tỉnh xét và đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, ở địa
phương đã rộ lên chuyện: Ba Lập là nhân viên CIA.
Sau
giải phóng, có lần một cán bộ đến tận nhà hỏi Ba Lập về chuyện này. Nghe
xong, ông ta vừa hỏi, vừa vỗ bàn: .
- Đánh
nguc thằng trung úy của giặc giữa ban ngày, sao nó không bắt anh bỏ tù?
Sao anh vẫn còn? Vẫn được yên lành?
Đã bị
bầm dập quá nhiều về chuyện này, công biến thành tội, Ba Lập không trả
lời mà lớn giọng hỏI ngược lại:
- Vậy
sao chiến sĩ cách mạng đi đánh giặc, hết đồn này tới đồn khác, giặc rào
kẽm gai, kể cả hàng rào điện tử mà cũng cứ đánh hoai, đánh hoài. Sao vẫn
còn? Như ông đây nè! Còn tôi là dân, đánh nó rồi trốn riết trong rẫy
trong rừng. Sao lại không còn? Sao lạI không yên lành được?
Nói
xong, Ba Lập vỗ bàn cái rầm, mạnh hơn bình trà văng xuống đất, bể nát.
Cha
đang bệnh, nằm trên võng bên cạnh, chỉ biết kêu trời. ..
Sau
ngày giải phóng, Ba Lập thôi sống cuộc đờI trốn lính, tù đày, cất mặt
làm ăn với đời.
Mà
thiệt, nhờ làm ăn giỏi, lại hay giúp đỡ ngườI gặp khó khăn, cơ nhỡ nên
ngay từ những ngày đầu giảI phóng, Ba Lập đã được bà con mến mộ, tặng
cho nhiều danh hiệu vua.
Đang
lúc thiếu đói, kiếm được giống cao lương có năng suất cao, trồng được
gần 2 mẫu, đi qua ai cũng thấy ham. Ba Lập rủ rê, hướng dẫn cách trồng,
cho luôn cả hột giống nên được tặng danh hiệu: Vua cao lương.
Nhớ
câu: Có ăn lai rai, nhờ khoai nhờ củ.
Có ăn
no đủ, nhờ củ nhờ khoai!
Ba Lập
gây và nhân giống khoai Tài Nung. Đây là giống khoai lang ngon năng suất
cao mà khi trốn lính ở trại Thực nghiệm Hưng Lộc, đã lén ăn cắp dây
giống, đem trồng ở rẫy nhà. Ba Lập thường tự hào về bàn tay vàng, cùng
với cái đầu chịu quan sát, học hỏI của mình.
Thật
vậy, đám khoai lang Tài Nung rộng cả mẫu, đạt năng suất trên 40tấn/ha,
đang lúc thiếu đói. Nhiều người xin giống về trồng. Việc này đã giúp cho
Ba Lập có thêm cái tên mới: Vua khoai lang. Sau đó, Ba Lập nhân một số
đậu xanh, đậu nành giống mới cho Viện nghiên cứu Nông nghiệp Nam bộ. Nhờ
có phương tiện, nhất là nhờ nắm vững kỹ thuật, lại chăm sóc kịp thời nên
giống của Ba Lập lại rất tốt. Viện đã mời về dự tổng kết và tặng bằng
khen. Bà con nông dân địa phương lại có dịp tặng thêm tên mới: Vua nhân
giống đậu.
Chuyện
làm kinh tế của gia đình Ba Lập mớI nghe qua cũng chẳng giống ai. Đã có
không ít cán bộ quản lý tập đoàn, hợp tác xã lợi dụng cương vị để vun
vén cho mình. Với Ba Lập thì ngược lại. Chẳng những dồn hết sức lực, trí
lực, Ba Lập còn đem cả tài sản đắp bồi cho tập thể. Chỉ riêng khoản chi
phí tiếp khách, có đoàn gần cả trăm, giúp đỡ cho sinh viên ãn uống trong
thời gian thực tập và chi phí cho việc đi học nghiệp vụ nhiều tháng ròng
rã, Ba Lập đều không đụng đến quỹ của tập thể, chỉ tự mình gồng gánh,
quả là con số không nhỏ.
Nhiều
người xuýt xoa khen ngợi vườn tiêu sai trái của Ba Lập, có nọc tiêu hái
tới 26kg, có nhiều nọc tiêu không mặc quần tà lỏn vì trái xòa sát đất.
Nhưng mấy ai đã nghĩ tới chuyện Ba Lập vì lo việc chung mà vườn tiêu của
nhà xơ xác lụi tàn?
Thấy
kinh tế gia đình sa sút,Ba Lập đã trồng rau cải mùa mưa.Thông thương giá
rau cải mùa mưa tăng gấp rưỡi, có khi gấp đôi so với rau cải mùa khô
nhưng ít người trồng vì mùa mưa khó trỗng, lại có nhiều sâu bệnh.
Có lần
đến tận nơi, nhìn thấy tận mắt đám rau cải của Ba Lập đều chằn chặn lúc
nhổ bán, một cây nặng từ 1-1,5kg, mới thấy được cái khéo léo, cái tài
hoa của Ba Lập. Rau cải mùa mưa khó trồng mà có đợt Ba Lập thu hoạch gần
20 tấn. Lần này bà con lạI phong tặng: Vua rau cải mùa mưa.
Nghe
báo chí giới thiệu, có mấy tập đoàn trồng rau ở Củ Chi , Hốc Môn đã đến
trao đổi, học tập. Ba Lập phải để cả ngày trời để tiếp đón, dùng tiền
túi đãi cơm trưa cho cả đoàn gần đến trãm người.
Ở mỗi
vùng sản xuất nông nghiệp đều có những khó khăn khác nhau. Nhưng có lẽ
ít nơi nào lại nhiều khó khăn như ở Hưng Nhơn. ở đây thuộc vùng bán sơn
địa, thế đất vặn xa, chỗ cao chỗ trũng, như chảo úp chảo ngưa, chó vá da
beo. Cả ruộng và rẫy đều có đủ đá trồi đầu, lẫn đá chìm trong đất, trong
đất có cả sỏi đỏ xen lẫn đá xanh. ở đây thế đất ương điền. Cấy lúa thì
thiếu nướe, trồng bắp khoai mì thiếu khô vì oi nước.
Vụ đầu
tập đoàn ba chỉ có 3,8ha, vụ kế xã giao thêm 8ha đất vắng chủ. Với số
diện tích này, làm sao có đủ lương thực để ăn, nói chi đến chuyện làm
giàu, đóng góp cho nhà nước? Ba Lập suy nghĩ mãi: Đất hoang hóa, cỏ mọc
lút đầu, chuối cỗi lơ thơ phải được khai phá cho lúa màu mọc lên. Không
chịu kiểu đi làm kẻng, chấm công theo buổỉ. Chỉ có con nít, người già ra
đồng làm sao khá nổi? Ba Lập đã nghiên cứu và áp dụng theo kiểu khoán
việc cho từng hộ gia đình. Sau đó chuyển sang khoán sản phẩm cuối cùng,
dựa theo kế hoạch chung định mức có vật tư, định mức công lao động, có
quy trình kỹ thuật. Rõ ràng cách khoán mớI đã kích thích niềm hăng say
lao động của mọi người, gắn liền trấch nhiệm với quyền lợi, bỏ hẳn tư
tưởng ỷ lại cha chung không ai khóc. Nhờ cách khoán này mà bà con hăng
hái rủ nhau đi... đẻ đất. Đẻ đất là cách nói vui ở tập đoàn 3 Hưng Nhơn.
Trên diện tích nhận khoán có nhiều chỗ trước đây không sắn xuất được,
nay bà con tự làm hoặc vần công với nhau xeo đá, phá gốc, vác đá ra đắp
bờ ruộng bậc thang. Chỗ thấp giữ được nước để cấy lúa. Chỗ cao đào mương
vét rãnh cho đất ráo nước, rỏ phèn để trồng khoai, bắp, mía. Nhiều đám
ruộng pháo đài có bờ đá chất cao và rộng 1-2 m. Đổ thêm công sức để có
thêm đất cấy ìúa, thêm đất trồng màu, phần sản lượng vượt trội này,
người lao động hương trọn, ai mà không ham!
Vlệc
giao khoán đã thổi ìuồng gió phấn khởi vào tập đoàn và hợp tác xã. Lúc
này ở miền Bắc đã có chuyện khoán chui (lén giao đất cho từng hộ gia
đình). Một số cán bộ ở huyện và ở tỉnh biết chuyện Hưng Nhơn khoán sản
phẩm nhưng vẫn cứ lờ đi. Nhờ đó khi Ban Bí thư trung ương Đảng vừa ra
chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến người lao động, thì báo Đồng Nai cơ
quan ngôn luận của tỉnh đã có ngay bài báo: Khoán sản phẩm ở xã Hưng
Lộc.
Có lẽ
không nơi nào trong tỉnh, đất đai lại manh mún như ở Hưng Nhơn. Nhờ ìàm
khoán mà tập đoàn 3 Hưng Nhơn mở ra được 36 ha nhưng lại có đến 619
miếng ruộng. Miếng rộng nhất chưa quá 1.000m2, hẹp nhất chỉ vừa bằng tấm
chiếu đôi. Vùng đất phát quanh vùng rừng U Minh, Cà Mau, Rạch Giá làm
ruộng khó khăn, phải dùng cây nọc thọc lỗ để cấy lúa. ở đây đá lớn xeo
bẩy, đá nhỏ hốt đem ra bờ, khi cáy cũng phảI dùng nọc thọc ìỗ, bàn tay
cầm mạ còn phải quấn kín giẻ vào đầu các ngón tay, vậy mà gốc lúc xanh
vẫn chan hòa máu đỏ. Sỏi đá sắc lẻm vẫn còn trong ruộng, làm sao hốt
sạch?. Từng người làm ruộng đã cực, Ba Lập là người luôn sâu sát, quản
lý 619 miếng ruộng đó còn cực đến chừng nào?
Đất đai
ở Hưng Nhơn như vậy nên trước đây năng suất lúa chỉ 1 - 2tấn/ha, khó
lòng vượt qua 3tấn/ha. Nhờ làm ăn tập thể, đặc biệt là nhờ cách giao
khoán, tuy giao mức cao đến 5 - 6tấn/ha lúa nhưng có nhiều gia đình đổ
thêm nhiều công, nhiều phân bón, trong vụ Đông - Xuân đã đạt tới 9 -
10tấn/ha lúa là bình thường.
Ba Lập
là người luôn say mê với cái mới. Thấy vợ chồng kỹ sư Nguyễn Đăng Khoa
làm đám lúa thí nghiệm giống mới. Lúa tốt thấy ham. Tuy là chỗ thân tình
mà hỏi mua không bán, hỏi xin cũng không cho. Vì đây là nguyên tắc thí
nghiệm. Ngày gặt lúa còn có cả ngườI cầm súng canh giữ. Ba Lập thoáng
nghĩ nhưng không dám tính chuyện ăn cắp như đã từng làm khi còn trốn
lính. Suy tính mãi: Chỉ còn nước đi mót.
Lật
đống rơm vừa tuốt xong, thấy không còn sót hột lúa vì làm quá kỹ. Đành
bó tay sao? Bỗng thấy đàn bồ câu nhà ai lượn một vòng rồI đáp xuống
ruộng lúa thí nghiệm vừa gặt xong. Đúng rồi! Chim bồ câu không ăn lúa
đám mà chỉ mổ lúa rụng trên ruộng. Bất chợt, Ba Lập nhớ chuyện mót lúa
rụng bằng cách dùng khăn ướt chấm từng hột.
Giữa
trưa nắng. Ba Lập đi như chạy về nhà cha ở gần đó . Vô nhà chỉ kịp chào
hỏi mấy câu, ra ngay nhà tắm, quơ vội chiếc khăn cũ, nhúng ướt rồi chạy
nhanh ra đám ruộng thí nghiệm. Đã mấy ai biết được giữa buổi trưa nắng
gay gắt hôm đó, ông Lê Văn Lập - Phó chủ nhiệm hợp tác xã Hưng Nhơn đã
kiên trì dùng khăn chấm từng hột lúa rơi? Đem về tự tay phơi khô, quạt
sạch còn được 2,2kg. Ba Lập cho mời ông Tư Bình ở đội đến bàn bạc và
hướng dẫn cách làm ruộng giống gieo mạ thưa, cây lúa một dảnh, chăm sóc
đặc biệt. Vụ đó từ 2,2kg lúa giống đi mót, làm đúng theo sự hướng dẫn
cấy trên một sào, ông Tư Bình gặt được 460kg lúa, bung rộng giống mớI ra
cả HTX vụ kế tiếp. Qua vụ sau nữa, nhiều tập đoàn trong xã huyện, tỉnh
đã đến đổi hơn 40 tấn lúa giống. Trong đó có cả tập đoàn l xã Hiệp Hòa,
con chim đầu đàn của tỉnh cũng đến đổi 1,5 tấn. Mãi 4 năm sau nhà nước
mới công nhận và đưa rộng ra đồng ruộng giống lúa mới này, với cái tên
IRI13.240536.
Giờ đây
tuổi đã vào loại xư('nay hiếm, sức khỏe ông Ba Lập đã sút giảm nhiều. Vợ
con phải đổ hồ trợ sức như pha sữa, quậy bột sắn dây, nấu cháo, nấu lá
thuốc nam, kể cả chưng mấy lát sâm cao ly. Vậy là Ba Lập vẫn dành phần
với người con trai đang độ tuổi thanh niên để leo cao, mé nhánh mấy cây
điều già lão. Ông phân bua:
- Nó
mạnh khỏe, vai u thịt bắp đó, nhưng sợ chưa đủ kinh nghiệm leo
trèo, mình còn đang ráng được, làm luôn cho yên tâm.
Không
chỉ thương yêu con mình, gặp chuyện, Ba Lập dám xả thân để kịp thời cứu
đứa con người khác khi gặp nạn.
Đó là
chuyện gần 30 năm trước. Thằng Tài mớI 3 tuổi, con bà Sáu Lãnh ở ấp Hưng
nghĩa té xuốnggiếng sâu trên 13 sải, miệng giếng rộng bằng cái nia vừa
nghe tiếng la Ba Lập đã phóng ra tới cạnh giếng, Không kịp suy nghĩ,
buông tay nhảy ào xuống. May sao đụng liền thằng nhỏ, xốc nó lên vai
ngay trong lòng giếng cho nước ọc ra. Trên miệng giếng, bà con xốI nước
xuống ào ào cho dễ thở. Dây thòng xuống, cột vào ngang hông, ôm nó cùng
lên. Tới bờ giếng, Ba Lập sảI tay, ngất lịm. Sau. này có lần đi ngang,
nhớ chuyện cũ, ghé mắt dòm xuống mọc óc cùng mình, sợ nguội. Ba Lập tự
hỏi không biết sao lúc đó mình dám làm như vậy? Giờ này thằng Tài năm
xưa đã quá 30 tuổi nhưng vẫn còn nhớ mãi. Gặp vợ chồng Ba Lập chỉ một
điều: ba ba, má má.
Ba Lập
có tánh hay thương người gặp cảnh ngộ khó khăn. Nhà có bụi tre trồng từ
hồi mới lên đây lập nghiệp chiếm đất gần cả sào, mỗi năm nhảy mụt có
thêm hàng trăm cây. Ba Lập chớ hề có bán cho ai, chỉ để giúp bà con lối
xóm. Từ cây tre sửa nhà, Iàm vạt giường cho vợ đẻ, cây ăngten cho tivi
mới sắm, kể cá Ba Lập treo bóng đèn công cộng... cũng đến nhờ ông.
Mấy năm
đầu tập đoàn Ba Lập Hưng Nhơn còn biết bao khó khăn. Có 5 gia đình nghèo
khó nơi xa cùng rủ nhau đến ấp Hưng Nhơn trú ngụ. Nói trú ngụ chớ họ làm
gì có nhà cửa. Đùm túm nhau vào các chòi giữ rẫy để ở. Họ làm gì có tiền
bạc để mua gạo, khoai, bắp. Quá đói, đào trộm khoai, bẻ trộm bắp, lén
chặt cá chuối, mít non nấu ăn tại rẫy. Chủ rẫy bất được, nhiều người
thông cảm bỏ lơ. Có người giận dữ bắt tróí, đem mấy đứa nhỏ giao cho Ba
Lập, ông bàn bạc với tập thể giao cho họ những chỗ rẫy còn hoang hóa,
giúp đỡ gạo bắp cho ăn, hướng dẫn và đưa cả phân bón, giống má cho họ
làm ăn như người trong tập đoàn. Vì không có hộ khẩu, lại bị thưa gửi về
tội trộm cắp vặt trong rẫy, có nhiều gia đình là binh lính, sỹ quan chế
độ cũ, công an xã ra lệnh đuổi. Ba Lập đứng ra can thiệp. Trong số này
có gia đình Ngô Bá Tứ là sĩ quan lái máy bay thám thính L.19, chuyên chỉ
điểm cho giặc đánh phá xóm làng. Ba Lập cảm động vì thấy Ngô Bá Tứ còn
mẹ già, chăm sóc mẹ rất đỗi hiếu thảo nên càng ra sức bảo bọc. Sau này
có nhiều người làm ăn khấm khá, mua thêm ruộng rẫy, có người về làm ăn ở
thành phố... vẫn nhớ mãi ân tình của Ba Lập.
Nắng
chiều cuối xuân dìu dịu. Con đường đất đỏ chạy sâu vào ấp Hưng Nhơn giờ
đã thẳng tắp, phẳng lỳ Hàng cột điện chạy dài mút mắt. ông Ba Lập tiễn
chân người cháu gái sắp theo chồng sang Thụy Sỹ vừa ghé thăm ra tận
cổng. Cô gái nắm chặt mãi cánh tay ông, tha thiết:
- Năm
sau về nước cháu ghé thăm bác Ba. Giờ đây Hưng Nhơn đổi thay nhiều quá!
Đúng như bác Ba đã nói: Đất lành chim đậu!
Giọng
cô chùng hắn xuống, tiếp lời:
- Nhưng
phải có người lành nữa Bác ạ.
Ông Ba Lập chớp chớp mắt, nhớ lại chuyện năm xưa tập đoàn 3 dã cưu mang
5 gia đình nghèo đói đến đây trong đó có gia đình cô gái này. Lúc ấy cô
còn là đứa bé 8-9 tuổi gầy yếu xanh xao. Cô bé bị bắt đưa tớI nhà ông vì
tội bẻ trộm chuối xanh nấu ăn tại rẫy ông Mười. .