Giới thiệu      |      Các anh hùng      |      Trang đầu

 

(ANH HÙNG LÊ DUY CHÍN)

Anh hùng Lê Duy Chín sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại úy, tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 76 công binh, bộ đội địa phương tỉnh Đồng Nai.

Từ năm 1964 đến Xuân 1975, Lê Duy Chín chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, anh đã qua các chức vụ: đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng công binh. Trong những năm 1969 và nửa năm 1970, tiểu đoàn do Lê Duy Chín chỉ huy đã diệt và làm bị thương hơn 2.000 tên địch (có 1.400 tên Mỹ và chư hầu), phá hủy, phá hỏng 720 xe quân sự (có hơn 200 xe tăng, xe bọc thép), 18 đồn bốt, 36 cầu, 9.000 mét đường sắt, 540 mét đường bộ, bắn rơi 2 máy bay… Tháng 8 năm 1968, Lê Duy Chín chỉ huy 1 đại đội phục kích 1 đoàn xe địch, đồng chí đã kiên trì chờ cho chúng lọt vào trận địa mới cho đơn vị đồng loạt nổ súng xung phong. Kết quả diệt 12 xe chở 60 lính Mỹ, phá sập 1 cầu, làm tắc giao thông của địch 2 ngày. Tháng 9 năm 1968, Lê Duy Chín chỉ huy đơn vị phá 1 chiếc cầu gần nơi đóng quân của 1 đơn vị lính Thái Lan. Anh khôn khéo nhử địch ra vừa phá sập cầu vừa diệt 6 xe tăng cùng một số lính địch trên xe, đơn vị an toàn. Tháng 8 năm 1972, Lê Duy Chín chỉ huy 1 liên đội công binh nằm trong đội hình trung đoàn 4 đánh 2 tiểu đoàn bảo an địch. Trận đánh này diễn ra ác liệt, anh bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị diệt 50 tên địch, bắt 7 tên, thu 15 súng, tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn diệt gọn 2 tiểu đoàn địch.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 10 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Duy Chín được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

THĂM QUÊ

TIÊU THANH GIANG

1.Gần nửa thế kỷ tham gia chiến đấu trên các mặt trận, đại tá Lê Duy Chín mới có một niềm vui đặc biệt, một đêm đoàn viên, hội ngộ tràn đầy yêu thương và kỷ niệm. Trong căn nhà ấm cúng của người cháu ruột, nơi đặt bàn thờ cúng tổ tiên, có đông đủ anh chị em con cháu nội ngoại và cả các cụ, một thời vốn là bạn bè chăn trâu thân thiết. Nhìn mọi người tề tựu đông vui, ông Chín bồi hồi xúc động:

– Thưa các bác, các anh chị em và các cháu. Hôm nay vợ chồng tôi vô cùng xúc động được sống trong cảnh đoàn viên, hội ngộ với người thân trong gia tộc cũng như các cô bác, bạn bè thôn xóm, thật là hạnh phúc. Đã 21 năm, vợ chồng tôi mới có điều kiện trở về thăm quê, thăm mồ mả cha ông, làng xóm quê hương. Vâng, chúng tôi thật có lỗi với mọi người.

– Thôi đi cha, “mần răng” mà trịnh trọng quá vậy “Chín cu”.

Cả nhà cười ầm lên bởi hai tiếng “Chín cu” mà ông Hảo, người bạn thân thuở nào đã cao giọng nhắc đến tài đặc biệt bắt chim cu của ông Chín thuở thiếu thời.

Bỗng ông cả Thiềng đứng lên:

– Ông bà Chín đã vào tuổi xưa nay hiếm. Lại 21 năm mới về thăm quê. Tôi đề nghị thế này: Hôm nay, ông bà hãy kể chuyện về mình, chuyện về “chàng”, người chinh phu biền biệt, và “nàng”, người chinh phụ vòi või ngóng trông... đã yêu thương nhau, chung thủy đợi chờ...

Tiếng vỗ tay, tiếng cười tán thưởng rộ lên, ông bà Chín ngồi thẫn ra trước yêu cầu bất ngờ. Không nỡ chối từ, ông Chín vui vẻ nói với mọi người:

– Được, tôi xin kể. Đại loại chuyện tình của chúng tôi cũng mới lắm chứ không cổ hủ, kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Đâu hồi đó sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng tôi cùng tham gia đoàn thể thanh thiếu niên cứu quốc, cùng đi bình dân học vụ, cùng vận động nhân dân tham gia sản xuất, cùng tham gia dân quân canh gác bờ biển...

– Dạ, thế có phải ông bà cùng chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm mà yêu nhau không ạ? – Tiếng cái Sơn, cháu gái ông Chín cắt ngang, làm ông bà Chín cũng phải cười phì theo mọi người.

– Đúng, ông bà đã “ba cùng”, rồi không biết vì sao “mắt nhìn mắt, tay cầm tay” lúc nào không hay.

– Thế ông bà có hôn nhau không ạ? – Tiếng cái Sơn lại chen ngang làm cả nhà cười rúc rích. Ông cả Thiềng giận quá đứng bật dậy, chỉ vào mặt cái Sơn:

– Tổ cha mi, mi lúc nào cũng giỡn, để ông Chín nói.

– Kìa anh Thiềng, cứ để cháu nó vui mà, có sao đâu. Nói rồi ông Chín ngồi xuống, vẻ mặt trầm ngâm. Đôi mắt ông bỗng sáng lên nhìn mọi người:

– Hồi thanh niên tụi tui vui lắm. Cả ngày làm ruộng quần quật, tối đến lại cùng nhau quây quần sinh hoạt đoàn thể, tham gia văn nghệ. Đội văn nghệ được thành lập. Tôi và cô ấy cùng tham gia. Hoạt cảnh “Hũ gạo nuôi quân” được dựng. Cô ấy đóng vai bé gái đi ở đợ nhà địa chủ, cứ mỗi lần vo gạo nấu cơm lại lén giấu nửa bát để bỏ vào hũ gạo nuôi quân. Nào ngờ, có một lần gia chủ bắt được, nghi cô bé lấy cắp về nhà cho mẹ, đã đánh một trận đòn nhừ tử. Bé gái khóc nức nở gặp anh cán bộ vận động (do tôi đóng) kể lể sự tình. Cán bộ nghiêm sắc mặt phê bình “Bé có tinh thần yêu nước, thương anh bộ đội là tốt. Nhưng việc làm của bé dễ bị ngộ nhận là sai, là xấu lắm, người ta sẽ nghĩ mình ăn cắp, phải nói cho gia chủ biết toàn dân tiết kiệm nuôi quân là hành động yêu nước, là thực hiện lời kêu gọi của Cụ Hồ góp gạo nuôi quân đánh giặc”. Đột nhiên, cô ấy ngưng khóc, vẻ mặt tức tối, nhìn thẳng vào tôi (vai cán bộ). “Ừ đấy, đây là người xấu, là đồ ăn cắp đấy, đi mà làm, mặc kệ”. Thế rồi cô ấy nhảy xuống sân khấu bỏ chạy, làm mọi người ôm bụng cười. Còn tôi thì đứng trơ trên sân khấu.

Nghe đến đó mọi người cười ầm lên. Bà Chín ngồi lặng thinh bỏm bẻm nhai trầu. Ông Huệ, lứa bạn ông Chín hồi đó, nhớ lại:

– Tôi nhớ lúc đó cha Chín đứng trân trân, rồi dậm chân thình thịch xuống sàn diễn, miệng làu bàu: “Thế mà cũng đòi xung phong lên diễn. Rõ ghét”.

– Ông bà có giận nhau không, ông Huệ? – Tiếng cái Sơn hỏi.

– Có, giận nhau đâu chừng ít bữa thôi. Hôm ông và ông cháu xung phong đi dân công hỏa tuyến lên tận Việt Bắc thì bà cháu có tiễn đưa và dúi vào tay ông cháu một chiếc khăn tay trắng, thêu hình hai con chim đang bay. Thế rồi sáu tháng, một nửa quân số bỏ về vì hết thời hạn, hết lương ăn lại chưa có hàng, không chịu được cảnh xa nhà đói khát. Nhưng ông và ông cháu vẫn kiên định bám trụ, đi rừng hái măng, đi suối bắt cá, ăn cả củ nâu non, suốt ba tháng ròng mới có hàng đưa về. Lại ba tháng lội suối xuyên rừng với trên hai vai thùng sắt 60 ký. Về tới nhà, ông và ông cháu bị sốt rét.

Bà Chín ngồi nghe từ đó tới giờ mới lên tiếng:

– Đoạn này để tôi kể cho cả nhà nghe. Lúc đó ông Huệ, ông Chín này khi đi trai tráng lực điền, khi về ốm tong ốm teo, mắt trắng, da xanh bủng trông đến tội nghiệp. Thuốc thang thì chẳng có, người ta mách uống lá thuốc gì là tôi đi hái sắc cho ông. Mới hơn một tháng đổ bệnh, tóc tai rụng hết, thân hình chỉ còn da bọc xương. Nghe nói nuốt giun đất sẽ khỏi, tôi đi đào giun về cho ông nuốt, nhưng con nào con nấy cứ ngọ nguậy chui ra lằng ngoằng ở ngay miệng. Sau đó tôi phải lấy khoai luộc sơ qua, dùng bột khoai gói giun lại từng con cho ông dễ nuốt. Ấy thế mà ông khỏi đấy.

– Lúc ấy bà đã lấy ông con đâu mà bà chăm sóc ông con chu đáo thế?

– Cha mi, mi chỉ bẻm mép. Cụ nội mi thì bận chăm sóc bà cả, còn ông nội mi chỉ có hai mẹ con ở nhà, các anh và em gái phải đi cày cấy mướn, có ai ở nhà đâu mà chăm sóc. Tao thương, tao đến chăm mà mi còn hỏi vớ vẩn.

Cái Sơn cười như nắc nẻ:

– Té ra bà nội ngày xưa cũng là người tình thật đáng yêu của ông cháu đấy.

– Chẳng những đáng yêu mà còn rất đẹp. – Ông cả Thiềng lên tiếng. Rồi ông kể cho mọi người biết: Cuối năm 1951, ông và ông Chín tình nguyện xung phong đi bộ đội, bởi những ngày tháng nằm chờ ở Lạng Sơn để nhận hàng, nhìn những binh đoàn súng to, súng lớn, từ biên giới đổ về trông thật oai hùng. Lại nghe chuyện bộ đội ta đánh địch ở Đông Khê, Thất Khê, bắt sống quan ba, quan tư giặc Pháp mà lòng tràn ngập say mê, khát vọng muốn đứng vào đội ngũ trùng điệp ấy. Ngày ra đi, cô gái Trịnh Thị Vượng xinh đẹp, bẽn lẽn tiễn chàng ra tận cổng làng cùng hướng về ngọn Hồng Lĩnh, lòng nhủ lòng:

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai

Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền

Thế rồi năm 1954, hòa bình lập lại, trai gái đi thanh niên xung phong, đi dân công Điện Biên, đi bộ đội tấp nập trở về, chỉ riêng chàng Chín biệt vô âm tín, không một cánh thư, một lời nhắn nhủ. Cô gái Vượng dù chỉ là tay trao khăn hẹn ngày tái ngộ, vẫn nén lòng chờ đợi, ngóng trông như bao người chinh phụ mòn mỏi chờ chồng. Cho đến đầu năm 1958 anh lính Cụ Hồ Lê Duy Chín, áo đẫm mồ hôi, miệng thở dốc lù lù xuất hiện.

– Ông nội ơi, ông tệ quá, ông đi đâu mà suốt bảy năm ròng để bà cháu thui thủi một mình. – Tiếng cái Sơn nhỏ nhẹ như thầm trách.

Còn ông Chín thì vui vẻ:

– Dù có lâu cũng đã về để cưới bà cháu còn gì!

– Thế sao ông lại về trong cảnh “áo đẫm mồ hôi, miệng thở dốc”?

– À chuyện là thế này, ông chỉ có mười hai ngày phép mà phải vượt quãng đường hơn hai trăm cây số, qua cả đèo Ngang bằng mỗi phương tiện đi bộ. Suốt bảy ngày ròng rã, ngày đi đêm nghỉ, ông đi như chạy với biết bao nhớ thương để mong trả món nợ lòng với bà cháu sau bảy năm chờ đợi. Bảy ngày vất vả, cơ cực của ông sao có thể so được với hơn 2500 ngày đêm buồn tẻ cô đơn, ngóng trông của bà cháu. Cho nên ngay hôm sau ông dẫn bà ra xã đăng ký, rồi về làm lễ cưới. Chỉ có kẹo lạc, nước chè xanh ông bà cũng nên vợ nên chồng. Sống với bà được đúng ba ngày, sáng ngày thứ tư ông đã phải lên đường trả phép. Không thể khác được, với ông – người lính Lữ đoàn 341 bảo vệ giới tuyến hồi đó luôn phải sẵn sàng chiến đấu trước bao mưu mô, hành động phá hoại của kẻ thù bên kia giới tuyến. Ông ra đi, bà chỉ biết khóc trong nhớ thương. Hai năm sau, năm 1960, tiếp đó là bốn năm (1964) xa cách mới được gặp nhau dăm bữa nửa tháng. Để rồi đằng đẵng mười một năm sau, đất nước thống nhất, mọi người tấp nập trở về sum họp, còn bà chỉ nhận được lá thư báo tin ông còn sống và hẹn ngày sẽ trở về. Chứ bà có biết đâu lúc bấy giờ, vừa ngưng tiếng súng, đơn vị ông đã được lệnh rà phá bom mìn xung quanh các trụ điện cao thế từ đèo Chuối, Bảo Lộc xuống tận Thủ Đức. Suốt ba tháng trời ròng rã, lội suối trèo đèo, mò mẫm trên các bãi “tử thần” ông và đơn vị đã giải phóng mặt bằng, bàn giao cho ngành điện lực để họ nhanh chóng đưa điện từ nhà máy thủy điện Đa Nhim về thành phố Sài Gòn - Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh).

– Thảo nào đầu năm 1976 ông mới trở về với tôi. Mà làm cái nhiệm vụ chết người đó cũng chẳng cho tôi hay. Thiệt là tệ.

– Thôi đi bà, có cho bà biết, bà lại đứng ngồi không yên, mắc mớ chi mà bà trách móc ông ấy. Vả lại, còn sống trở về cho bà tọt ra thằng cu Long, bà còn muốn chi nữa.

Bà Chín đỏ mặt quay qua ông cả Thiềng:

– Tôi trách là trách các ông không hiểu lòng vợ con. Biền biệt hàng chục năm những nhớ cùng thương chúng tôi ở hậu phương khao khát tin tức, muốn được chia sẻ, an ủi, động viên người thân... thế mà các ông lại quá vô tình.

– Bà nói đúng đấy – cái Sơn chen vào – đã bao đêm con nằm với bà, bà thường nói trong nước mắt: “Hòa bình rồi, đất nước thống nhất rồi, ông con làm gì mà mãi chưa về”. Bà nhớ thương ông lắm.

Từ nãy giờ ông Huệ ngồi nghe chuyện tình của đôi bạn già lòng cũng cảm thấy nao nao. Xem ra cái lão “Chín cu” này cũng lãng mạn đáo để. Ông nhớ lại hồi chín năm, lúc ông và ông Chín cùng là lính của Sư đoàn 325 chiến đấu ở mặt trận Bình Trị Thiên, ông Chín là một chàng trai hiền lành, chân đất, nói ít làm nhiều. Đặc biệt không bao giờ có chuyện bông lơn trai gái. Với ông, trận chống càn ở Thanh Hương năm 1952 đã để lại trong ông một kỷ niệm khó quên về ông Chín. Vì vậy, ông vội đứng lên chỉ cánh tay đầy sẹo của mình!

– Chắc anh Chín còn nhớ trận Thanh Hương 2?

– Nhớ chứ, trận Thanh Hương tháng 6 năm 1952.

Ông Huệ ngồi xuống vớ lấy chiếc điếu cày, chầm chậm mồi thuốc rồi châm lửa rít một hơi. Cả không gian ré lên tiếng kêu reng réc. Mọi người hướng về ông đón chờ một sự tích. Trong khói thuốc lởn vởn, ông Huệ kể lại:

– Trận đánh hoàn toàn bị động. Mới 4 giờ sáng, súng đã nổ ran ở phía phòng tham mưu trung đoàn bộ Trung đoàn 101. Đại đội trưởng đi họp, đại đội phó ra lệnh chiến đấu. Toàn đơn vị nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa phòng ngự. Nằm dưới chiến hào, ngó xung quanh bốn bề lửa cháy, nghe tiếng đồng bào kêu cứu thất thanh, tất cả chúng tôi đều muốn bật dậy xông tới đơn vị bị tập kích, bị bao vây, chưa có liên lạc với trung đoàn bộ, các trung đội giữ vững trận địa, chờ địch đến ta mới nổ súng. Lệnh đại đội phó vừa dứt, phía trước mặt tôi hàng chục cái bóng mũ sắt lố nhố. Ông Chín nói nhỏ: “Chờ chúng đến thật gần mới hạ”. Ngón tay trên cò khẩu trung liên của tôi nóng lên. Bỗng ông Chín đứng bật dậy, ném về phía giặc quả lựu đạn, thét lớn: “Bắn!”. Cả trận địa rung lên trong khói thuốc và tiếng nổ chát chúa. Bọn giặc kêu rống lên, bỏ chạy tán loạn. Một lát sau hỏa lực địch bắt đầu bắn tới tấp vào trận địa phòng ngự của chúng tôi. Các phân đội rút xuống hầm, không thấy ông Chín đâu, tôi vội nhảy lên chiến hào, thấy ông đang nằm quan sát từng đợt bắn cấp tập của địch. Cho tới 5 giờ sáng, sau nhiều đợt phản kích, địch vẫn không chiếm được trận địa phòng ngự. Trời sáng rõ, liên lạc cho hay, dưới sông, trên bộ địch đã huy động sáu tàu, ba mươi xe tăng, xe thiết giáp và hai tiểu đoàn lính Âu Phi tinh nhuệ bao vây, quyết xóa sổ Trung đoàn 101 chúng tôi. Lệnh: từng đơn vị tổ chức cầm cự, tìm cách mở đường máu phá vây. Đơn vị được phân tán thành từng tốp nhỏ, vận động linh hoạt quần nhau với giặc cho tới 6 giờ chiều thì quân ta hết đạn. Tôi và ông Chín chôn xong khẩu trung liên, trong tay chỉ còn hai quả lựu đạn và một dao găm. Chúng tôi men theo lũy tre để ra bờ sông. Trời tối như mực, hai anh em lủi thủi thế nào gặp phải chiếc xe tăng nằm chình ình ngay đầu làng. Ông Chín kéo tôi nằm xuống lắng nghe động tĩnh. Bỗng ông Chín giật tay tôi về phía sau cái xe tăng. Những chấm đỏ lóe lên lại tắt. Ông ghé sát tai thì thào: “bò vòng ra phía sau chúng”. Cách địch chừng 10 mét, ông Chín nháy tôi móc lựu đạn. Thế là “một, hai, ba!” hai anh em đồng loạt tung hai trái lựu đạn vào toán giặc đang phục kích. Hai chớp lửa xanh lè kèm theo hai tiếng nổ như sét đánh, cùng tiếng kêu la hoảng loạn “Việt Minh, Việt Minh” của bọn giặc đã xé tan màn đêm yên tĩnh. Chúng tôi chạy thục mạng tới bờ mương, giặc mới bắn xối xả, vung vãi ra bốn phía. Bất ngờ một luồng sáng quét qua đầu, ông Chín đè tôi nằm xuống. Ngay lúc đó, từng chùm đạn đỏ lừ, nối tiếp nhau chíu chíu vụt qua. “Anh Chín, tụi nó phát hiện thấy mình”. Ông Chín nắm tay tôi: “Nằm im”. Chừng mười phút sau, bóng đêm trở lại yên tĩnh. Chúng tôi bật dậy chạy một mạch xuống bờ sông. Cả hai đang ngó nghiêng quan sát, thì từ phía sau bụi dứa một bóng đen lao tới. Tôi né sang nhưng cũng bị ngã sập xuống với cảm giác đau buốt một bên tay. Vừa lúc ấy, nghe “phập” một tiếng rồi bóng cả hai đổ rầm rầm xuống bên tôi. Tôi nhận ra ông Chín đang đè tên lính Pháp qua đôi giày xăng đá. Tôi chồm dậy xông tới, song cánh tay phải buốt nhói. Tôi quỵ xuống, tay trái quàng qua nắm lấy cánh tay phải. Máu ướt đẫm một bên áo. Mắt hoa lên và bên tai chỉ còn nghe thấy tiếng hổn hển của ông Chín: “Huệ này...”. Tôi lịm đi và khi tỉnh dậy, hai đứa chúng tôi ở bên sông, chúng tôi đã thoát khỏi vòng vây của quân thù.

Cái Sơn nghển cổ lên hỏi:

– Ông Huệ ơi, thế ông cháu có giết được thằng Tây không?

– Không giết được thì tao với ông mày đã về gặp tổ tiên. Có thế mà cũng hỏi.

Nhưng sao lúc đó chỉ có một thằng Tây đánh nhau với hai ông?

Ông cả Thiềng nháy nháy mắt:

– Chuyện này vui lắm, chỉ có ông con mới biết thôi.

– Ông ơi, ông kể đi, ông kể đi – Cái Sơn nheo nhéo vòi ông.

Ông Chín nhìn cháu tủm tỉm cười. Còn ông Huệ bỗng cười sằng sặc:

– Bởi nó là thằng “ngồi đồng”, bất ngờ gặp hai ông thì “oánh” nhau thôi.

Mọi người cười phá lên. Còn ông Chín ngồi lặng thinh. Ông nghĩ: Chuyện đã mấy chục năm thế mà lão Huệ nhớ dai thiệt, kể đâu ra đó. Nếu bắt ông kể lại, chắc ông chịu. Mấy chục năm đánh giặc, từ Bắc vào Nam, hàng trăm trận đánh khốc liệt, đến bây giờ, ông có nhớ gì đâu. Bởi với ông, chuyện vào sinh ra tử giữa mưa bom bão đạn là chuyện thường tình của người lính, chẳng có gì to tát. Ông chỉ lo mỗi một điều: Nếu không hoàn thành nhiệm vụ, mình đâu có xứng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ và người đảng viên gương mẫu ông nói với mọi người:

– Thôi không kể chuyện đánh đấm nữa. Tôi về thăm quê lần này thấy được bà con gia tộc, bạn bè, thôn xóm có đủ ăn, nhà ai cũng có xe đạp, xe máy, ti vi, cát sét... thế là mừng lắm. Các vị cũng không quên tu sửa Nhà Thờ tổ tiên ông bà thế là quý lắm. Vợ chồng tôi ở xa, không góp được công sức, xin được góp một phần nhỏ này. Nói rồi ông rút trong ngực chiếc phong bì, đứng lên trịnh trọng đưa hai tay cho ông Cả Thiềng:

– Đây là tấm lòng của vợ chồng tôi với gia tộc, xin ông thay mặt họ nhận cho.

Ông Cả Thiềng đứng lên trân trọng:

– Xin nhận tấm lòng của chú thím với gia tộc.

Ông nhìn khắp lượt mọi người, giọng bồi hồi:

– Ông Chín đây là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cả cuộc đời ông đã hy sinh vì dân, vì nước. Nghỉ hưu, “Anh hùng áo vải” vẫn chân chất cần cù với con heo, con gà, vườn cây, lại một lòng một dạ chăm chút từng muỗng cơm, giấc ngủ cho người bạn đời già nua, ốm yếu. Ông Chín là niềm tự hào của gia tộc ta, là người ông mẫu mực cho con cháu chúng ta.

Ông Chín vội cắt ngang:

– Thôi anh Cả, anh quá lời đó. Tôi chỉ là một công dân bình thường, góp một chút công sức nhỏ trong sự nghiệp cứu nước, lại may mắn còn sống trở về với vợ con, đó cũng là nhờ công đức của cha mẹ, ông bà, sự chỉ bảo và giúp đỡ của đoàn thể và anh em đồng đội. Sống được đến ngày hôm nay, được họp mặt với các anh, các chú, các cháu như vậy là hạnh phúc lắm. Tấm lòng của gia tộc, làng xóm với vợ chồng tôi trong cuộc họp mặt đầy yêu thương, đầy kỷ niệm này xin được ghi nhận và biết ơn. Xin chúc mọi người mạnh giỏi.

Không ai bảo ai, ông Chín vừa dứt lời, mọi người lần lượt đứng lên ra về. Ai cũng quyến luyến bắt tay chào hỏi ông bà Chín, chúc ông bà mạnh khỏe sống lâu.

Buổi họp mặt kết thúc. Ngày mai, ông bà Chín ra Vinh lên tàu vào Nam. Mới đó mà đã hơn chục ngày. Ông Chín cảm thấy hình như có cái gì đó chưa trọn vẹn trong chuyến hành hương về thăm quê. Ông đốt ba nén hương cắm lên lư hương trên bàn thờ ông bà rồi kính cẩn đứng nghiêm. Đằng đẵng xa quê cha đất tổ mấy chục năm trời, nay tuổi gần đất xa trời mới lại về thăm mà bản thân chẳng giúp gì cụ thể cho sự phát triển của quê hương như những người cùng thời, ông thấy mình thật buồn.

– Ông ơi, ông còn đứng đó làm chi, đi ngủ đi, mai còn dậy sớm.

Tiếng bà Chín gọi ông làm ông sực tỉnh quay lại:

– Này bà, tôi tính thế này, ngày mai ra Đô Lương, chúng mình ghé thăm mộ bà ngoại rồi chiều sẽ xuôi Vinh, được không?

– Ông tính sao thì tính, đừng để lỡ tàu là được.

Ông biết cho đến bây giờ vợ ông vẫn còn giận người mẹ đã bỏ lại bà giữa lúc tuổi thơ mồ côi cha chỉ vì gia cảnh lúc đó quá nghèo. Bà đi biền biệt từ năm 1947 đến năm 1960 mới hay tin bà ra Đô Lương lấy chồng ngoài đó. Năm 1963, nhân có lớp tập huấn cán bộ đại đội ở Đô Lương, ông Chín đã xin phép đơn vị cho vợ ra. Ông chủ động sắp xếp cho vợ gặp mẹ ở nhà ông dượng. Song những ngày sống chung đó, tình cảm hai mẹ con vẫn không sao thắm thiết được. Với ông Chín, tình cảm đó của vợ là cố chấp. Nhiều năm qua, ông đã chủ động hàn gắn lại tình cảm thiêng liêng đó. Khi là những cánh thư, lúc là những gói quà, đôi khi cũng có chút tiền bạc, tất cả những thứ ấy gửi đi bao giờ cũng kèm theo dòng chữ: “Con, Trịnh Thị Vượng, kính gửi mẹ”. Ông không giấu bà, mỗi lần gửi đi ông đều đọc cho bà nghe. Bà chỉ im lặng. Tối nay, ông tính với bà chuyện ghé thăm mộ bà ngoại, bà trả lời như thế, ông cảm thấy nhẹ cả lòng. Và cái cảm giác chưa trọn vẹn trong chuyến ông về thăm quê lần này cũng đã thanh thản bay đi.

Ông Chín từ từ đi lại chỗ bà:

– Chân bà còn nhức không? Bà nhớ uống thuốc trước khi đi nằm đó, nghe chưa!

Ông Chín nắm lấy tay vợ lắc lắc:

– Ờ, người ta bảo người già cũng giống trẻ con mà.

2. 6 giờ 15 phút, tàu S1 dừng lại ở ga Đồng Hới. Hai người khách ngồi đối diện với ông bà Chín xuống ga. Ông Chín ngó ra ngoài. Nắng sớm trải rộng trên sân ga thoáng mát. Hành khách lên xuống không vội vã, chen lấn như hồi nào. Hai mươi mốt năm mới đi lại trên đoàn tàu Thống Nhất, ông thấy cuộc sống thay đổi thật mau lẹ. Con người giờ đây ai cũng đẹp ra, trẻ trung. Ngồi trên chiếc ghế đệm rung rung theo nhịp tàu chạy, được các nhân viên nhà tàu phục vụ chu đáo từ miếng cơm, ly nước với thái độ ân cần, cởi mở, ông hoàn toàn tin tưởng vào sự đổi mới của đất nước. Với ông, cái nghĩa hy sinh của bao đồng đội, của bao lớp người cho đất nước độc lập tự do, cho nhân dân hạnh phúc đã và đang tỏa sáng trên khắp mọi miền, trên khắp mọi việc. Đâu đó bên tai ông rộn lên lời ca, tiếng nhạc reo vui...

– Thưa hai bác, đây có phải là số ghế 246 và 247 không?

Ông Chín quay lại, trước mặt ông hai người một nam, một nữ, ăn vận lịch sự, người đàn ông áo sơ mi trắng quần tây, đeo kính đen, tay xách chiếc cặp xinh xắn. Người phụ nữ quần tây, áo thun, tay đeo chiếc nhẫn to đùng. Cả hai đang đối diện với ông, nhìn ông chăm chú. Ông Chín gật đầu:

– Anh chị ở Đồng Hới mới lên?

Người đàn ông đưa chiếc cặp lên giá, kêu người đàn bà đưa cái túi lưới đầy hoa quả treo lên móc, ngồi xuống, vui vẻ:

– Vâng. Vợ chồng tôi vừa mới lên.

Nói xong, cả hai cùng ngồi xuống. Người đàn ông bỏ kính ra nhìn ông Chín. Đôi mắt nhíu lại, vẻ băn khoăn, tay vỗ vỗ lên trán, bất ngờ đứng dậy:

– Anh Chín, có phải “cụ” Chín ở D67 phải không? Em là Minh “lủi” Hải Phòng đây.

Ông Chín sững người, ngắm nhìn người đàn ông từ đầu đến chân. Bỗng ông nhỏm dậy nắm lấy hai tay người đàn ông:

– Minh “lủi” phải không? Sao cậu lại vô đây?

– Vợ chồng em vô thăm bạn lập nghiệp ở Đồng Hới. Bây giờ vô tiếp Sài Gòn thăm thằng em.

– Còn đây là chị Chín?

– Bà ấy đó. Anh chị vừa về thăm quê. Hôm nay vô lại trong đó. Gia đình anh chị lập nghiệp trong đó hai mươi mốt năm rồi.

– Chắc ông anh bây giờ là chủ trang trại lớn?

– Dân Hải Phòng mi lúc nào cũng tếu. Thằng lính nghỉ hưu nào cũng trở thành trang trại thì dân đã được nhờ.

Minh “lủi” quay qua vợ:

– “Cụ” Chín đây nhỏ con nhưng đánh nhau thì lì lắm. Dưới sự chỉ huy của “cụ” không chú em nào ú ớ được. Học tập, huấn luyện, sinh hoạt, tác chiến phải răm rắp, phải “quân lệnh như sơn”. Nhất là cái vụ léng phéng trai gái, ho he một tý là ông cụ cho cạo giấy liền.

Chị Chín ngồi nghe tới đó không nhịn được cười, vội lên tiếng:

– Thế chú bị ông ấy cho cạo giấy mấy lần?

Cô vợ hóm hỉnh nhìn chồng, nhoài người sang chị Chín nhỏ to, sau đó lấy tay che miệng cười.

– Chị chớ nghe cô ấy nói bậy. Chứ em là nghiêm lắm, không tin chị cứ hỏi anh Chín đây.

Ông bà Chín và cô vợ bỗng phá lên cười trước câu thanh minh vụng về rất “bộ đội” của Minh “lủi”.

Hội ngộ khá bất ngờ và thú vị làm mọi người không hay biết con tàu đang chuyển bánh rời ga lúc nào. Theo nhịp tàu đung đưa, Minh “lủi” như sống lại với thời gian. Thật bất ngờ sau mấy chục năm, anh lại được gặp thủ trưởng, người anh cả đơn vị đã từng kèm cặp, dìu dắt anh trưởng thành. Anh nhớ như in, cuối năm 1967 được điều về phòng công binh Miền, lúc đó anh Chín mới là đại đội phó, làm trợ lý tham mưu. Song, dưới mắt các chiến sĩ anh lại là một cán bộ sâu sát anh em. Trước mỗi trận đánh, sau khi lắng nghe trinh sát báo cáo xong, anh đều đi kiểm tra thực địa. Như chợt nhớ ra điều gì, Minh “lủi” vội hỏi ông Chín:

– Có điều này em giữ mãi trong lòng chưa dám hỏi anh?

– Chắc chú lại hỏi cái vụ trinh sát cầu Suối Đỉa chứ gì.

– Ủa, anh còn nhớ?

– Nhớ chứ – Làm ăn cẩu thả như chú, có mà nướng anh em đồng đội.

– Thế sao anh không kỷ luật em?

– Kỷ luật. Tôi chỉ có “kỷ luật” chú bằng chính thực địa, bằng đôi mắt sáng, bằng đôi tai nhạy cảm của lính trinh sát. Đó là bài học kỷ luật cụ thể nhất, thực tế nhất để các chú sáng mắt, sáng lòng.

Minh “lủi” nhớ lại, trong trận đánh năm đó, đại đội 22 đã tiếp cận trận địa theo hướng anh Chín vạch, còn nếu theo hướng của tổ trinh sát, đại đội chắc rơi ngay vào bãi mìn phục kích của giặc. Sau trận đánh, anh Chín chỉ nhẹ nhàng rút kinh nghiệm: “Bọn ngụy rất xảo quyệt, các đồng chí cần chú ý những bãi phân trâu khô, dưới đó là mìn Clâymo đó”.

Minh “lủi” giật mình cho sự sai sót đến cẩu thả của mình. Anh thầm cám ơn người cán bộ chỉ huy đã dạy cho anh một bài học rất sơ đẳng, nhưng lại rất xương máu cho mỗi người lính trinh sát.

Vợ Minh vừa gọt táo vừa nghe hai người nói chuyện, lại thấy chồng có lúc nhíu mày, vẻ đăm chiêu tư lự, có lúc lại tủm tỉm cười điều gì đó, chị mới hay những người lính mới gặp nhau đã sống dậy biết bao ký ức. Chị đặt những miếng táo vàng, thơm lên nắp hộp nhựa, trân trọng:

– Mời anh chị Chín ăn táo. Táo em mới mua ở Đồng Hới lên đó.

Minh “lủi” cầm hai miếng táo đưa cho chị Chín, anh Chín.

– Anh chị ăn đi cho chúng em lấy thảo.

– Chà, chú mày cũng còn nhớ cách ăn, cách nói Nam Bộ.

– Nhớ chứ anh Chín, làm sao quên được.

Vợ Minh “lủi” chăm chú nhìn anh Chín, hỏi chồng:

– Thế đây có phải anh Bảy Chín, anh hùng lực lượng vũ trang không anh?

– Còn ai nữa, anh hùng chân đất đấy, thủ trưởng của anh hồi kháng chiến chống Mỹ đó.

– Xin lỗi anh Chín. Em cứ tưởng các tướng lĩnh anh hùng là phải oai phong lắm. Thế mà trông anh chẳng khác một lão nông.

– Đúng đó, ông lão nhà tôi trước sau cũng chỉ là nông dân thôi. Không tin vô trong đó mời cô chú ghé thăm nhà.

Minh “lủi” lườm vợ, thanh minh:

– Bọn em cũng là nông dân. Ý nhà em nói một vị tướng anh hùng sao trông giản dị, hiền lành quá.

Bà Chín cười vui vẻ:

– Không sao đâu. Tôi mời thiệt đó.

Vợ Minh như muốn nói đỡ câu nói vô tình của mình đã nhanh nhảu:

– Vô trong đó, nhất định chúng em vô thăm anh chị.

Con tàu lao đi trong nắng gió, để lại phía sau những cánh đồng vàng rực, những mái nhà lô nhô sau lũy tre, vườn cây xanh mướt. Cảnh hoang tàn xơ xác của trận lụt thế kỷ năm ngoái đã đi vào dĩ vãng bởi chính tấm lòng yêu thương, cưu mang của đồng bào cả nước và cũng bởi sức sống tự chủ, tinh thần đồng cam, cộng khổ, vươn lên khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn của nhân dân các tỉnh miền Trung. Ngồi trên tàu, ông Chín không còn nhận ra quang cảnh nhất là khu vực Vĩnh Linh nơi ông đã cùng đồng chí, đồng đội một thời làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh giới tuyến. 42 năm, cảnh vật đổi thay đến lạ lùng. Còn ông, người lính già đi suốt chặng đường đó, vào sinh ra tử, đánh hàng trăm trận, tiêu diệt nhiều tên địch, bắn cháy biết bao xe tăng xe thiết giáp, phá bỏ hàng ngàn trái bom, mìn... được tặng thưởng hàng chục huân chương, huy chương cũng vẫn là anh nông dân chân đất như bao người nông dân khác hoàn toàn bằng lòng với chính mình sau mỗi mùa vụ bội thu. Giờ đây về nghỉ, lập nghiệp ở vùng đất Trị An với con cháu, ông mãn nguyện với tuổi già. Cho nên chuyến về thăm quê lần này, sau 25 năm đất nước thống nhất, ông cảm thấy trong cuộc đời binh nghiệp của ông giờ nhìn lại thấy thật hạnh phúc và đáng tự hào làm sao!

– Anh Chín! Nghe nói hồi chín năm anh đánh nhau với bọn Pháp ở Lào?

Minh “lủi” cắt ngang dòng suy nghĩ của ông, đưa ông trở lại với thực tại.

– Sao chú biết ?

– Thế anh quên chuyện cây chuối rừng mà anh thường kể cho bọn em nghe rồi sao?

– À, anh nhớ rồi. Chuyện đã làm bọn các chú tranh luận mãi: đó là mưu trí hay là trong “cái khó ló cái khôn” phải không?

– Đúng. Đến bây giờ em vẫn còn nhớ thằng Phát, quê An Hải, Hải Phòng. Nó cứ mãi khẳng định chuyện đó thủ trưởng phịa, chứ làm gì có nhiều chuối rừng lao lên đè hàng rào dây thép gai để bộ đội ta vượt lên.

– Chuyện có thực đấy. Đó là trận đơn vị anh tập kích một tiểu đoàn Âu Phi đóng ở Bản Bung, cách Thà Khẹt năm cây số. Ba mũi tập kích thì hai mũi mở được cửa mở, còn mũi thứ ba bị tắc bởi khẩu trọng liên 12 ly 8 của địch quét rất rát. Bộc phá hết lớp hàng rào bùng nhùng cuối cùng án ngữ ngay mũi tiến công, anh chợt nhớ ra vạt chuối rừng ngay chân đường 12 cách đó không xa. Báo cáo với chỉ huy xong, sáu anh em được lệnh lao đi, 12 cây chuối, đóng thành từng sáu cặp được anh và tổ xung kích phóng lên. Lớp rào kẽm gai chùng xuống, cửa mở, bộ đội ta ào ạt xông lên.

– Quả ông anh thông minh, nhanh trí thật.

– Chú khen quá lời. Lúc đó mọi người chỉ nghĩ làm cách nào vượt qua hàng rào khốn kiếp kia. Anh nghĩ đến cái cầu ao ở quê. Không có tre, vầu thì làm bằng chuối, mà chuối thì vạt rừng phía sau nhiều vô kể. Thế là anh đề xuất.

– Ông anh khiêm tốn đấy, xử lý như thế là cực kỳ đó. Cái huân chương chiến công hạng ba tặng cho anh sau đó xứng đáng lắm.

– Này, thế quan điểm của chú có cho đó là mưu trí không?

– Dứt khoát là mưu trí.

– Vì sao?

– Vì... vì... “trong cái khó ló cái khôn”...

Ông Chín bật cười, ông nghĩ lớp chiến sĩ ở tiểu đoàn 67 ngày đó so với tuổi thanh niên thời chống Pháp của ông, chúng tỏ ra thông minh lanh lẹ, còn nghịch ngợm thì thật tinh quái. Ông nhớ đến Phát, Phong, Minh, Hoàng những người bạn chiến đấu đã ngã xuống trong những trận đánh khốc liệt. Tất cả họ đều xứng đáng là anh hùng. Ông hỏi Minh:

– Không biết nhóm Phát, Phong, Minh, Hoàng đã được di dời hài cốt về quê chưa?

– Dạ, năm 1990 em cùng với thằng Bình “đen” đi một chuyến mới tìm được mộ ba thằng: Phong, Minh, Hoàng. Còn mộ thằng Phát vẫn chưa tìm thấy.

Ông Chín ngồi lặng đi. Ông lấy mùi xoa chấm nước mắt. Biết bao đồng đội của ông đã ra đi mà không hề để lại một dấu tích. Hôm nay, ngồi trên chuyến tàu Thống Nhất này, trái tim ông lại đau nhói như mỗi lần nghe mục “nhắn tin tìm đồng đội” trên đài phát thanh, đài truyền hình vì âm thanh, hình ảnh đó mách bảo ông họ vẫn chưa về được với quê cha đất mẹ.

Con tàu lao trong đêm, kéo vang hồi còi giục giã. Trong toa số 6 này, bốn hành khách, hai già, hai trẻ đã thiếp đi trong giấc ngủ bình yên. Có thể coi họ như một “gia đình lính” hai thế hệ. Họ đã đi suốt tuổi thanh xuân, góp một phần nhỏ vào sự nghiệp vĩ đại của cuộc hành trình giành độc lập tự do thống nhất đất nước. Dưới ánh sáng lung linh, chập chờn của ánh đèn và nhịp lắc lư của toa tàu lao trong đêm, nét mặt của mỗi thành viên “gia đình lính” ấy, trông thật dễ thương. Họ đang có một giấc ngủ ấm cúng, bình yên. Vâng. Họ là những người lính may mắn và hạnh phúc.

3.Ông bà Chín về đến nhà vào đúng dịp lễ 30 tháng 4, kỷ niệm 25 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đảng bộ, chính quyền, đồng đội và bà con cô bác trong xóm tấp nập đến thăm hỏi, chúc phúc ông bà mạnh giỏi sống lâu. Con cháu quây quần nghe chuyện làng xã ngoài đó. Ông bà Chín đang sống những ngày đầm ấm, hạnh phúc nhất.

– Cho tôi hỏi thăm đây có phải nhà ông Chín không?

Ông Chín chạy vội ra.

– Ủa, chú thím đây hả? Vào đi !

Vợ chồng Minh “lủi” tay xách nách mang, đứng ngẩn người ngó ngang ngó dọc:

– Cơ ngơi của ông “chủ” chỉ có thế này thôi à?

– Cái thằng bẻm mép, tao mà là ông chủ?

– Sao lại không là ông chủ được. Giữa vùng đất đỏ bazan rộng lớn thế này, lại nằm giữa thị trấn, ngay chân nhà máy thủy điện lớn, thế mà ông anh hiền quá!...

– Hiền quá hóa ngu phải không? Thôi vào nhà, rửa mặt mũi chân tay đã.

Vợ chồng Minh “lủi” vào nhà. Ngôi nhà ngói ba gian, chỉ mới xây được gian giữa, còn hai bên và phía trong tạp gỗ rừng. Đồ đạc cũng chẳng có chi ngoài bộ xa lông gỗ, chiếc xe máy 78 đầy bụi và chiếc ti vi cũ kỹ. Với ông, thời chiến cũng như thời bình, nhiệm vụ cấp trên giao phó là trên hết. Nếu không hoàn thành ông cảm thấy mình có lỗi với Đảng, với đồng đội và với nhân dân. Còn hưởng thụ, ông coi ngôi nhà, mảnh vườn có được như hôm nay cũng tạm ổn, cũng còn hơn rất nhiều anh em đồng đội.

– Nè, anh Chín! Từ sau năm 1975 đến nghỉ hưu anh làm những gì?

– Phá gỡ bom mìn, xây dựng kinh tế, xây dựng đơn vị chính quy phòng vệ bờ biển quân khu, làm phó giám đốc Ban quản lý công trình thủy điện, trực tiếp phụ trách lực lượng bảo vệ công trình.

Minh “lủi” lắc đầu:

– Làm tới chức đó mà nhà cửa anh thế này sao?

Ông Chín cười, đưa điếu thuốc cho người đồng đội:

– Thế chú bảo anh phải ăn cắp à?

– Sao lại ăn cắp? Đó là chế độ, anh phải có ý kiến chứ.

– Cậu biết đó, 40 năm đi đánh giặc, xây dựng lực lượng, anh chỉ có suy nghĩ duy nhất là hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ, người cán bộ đảng viên. Còn mọi cái đối với anh chẳng là gì.

– Họ cấp cho anh mảnh vườn, xây cho anh ngôi nhà này phải không?

– Không. Đó là tiền bạc, công sức của cả gia đình. Anh chị không có đòi hỏi gì.

– Anh chị bằng lòng như vậy?

– Hoàn toàn bằng lòng. So với ông bà, cha mẹ không một tấc đất cắm dùi, anh chị đã có đất, có vườn, có nhà. Như thế là đổi đời còn gì.

– Anh nói thế, em hết ý kiến.

Chị Chín và vợ Minh “lủi” vào nhà. Trên tay hai người hai rổ xoài vàng ươm. Vợ Minh hổn hển:

– Anh ra mà xem, xoài ngoài vườn cây nào cây nấy trông đến là sướng mắt.

Chị Chín chọn những quả vàng nhất đặt lên đĩa:

– Cô chú nhớ ăn thật nhiều. Lộc của vườn nhà đấy.

Ông Chín vừa ăn xoài vừa hỏi Minh “lủi”:

– Vợ chồng chú em có khỏe không?

– Vợ chồng hắn khỏe re. Hắn ở Sư đoàn 312, sau giải phóng “lặn” luôn. Mãi năm 1980 mới báo tin về nhà đã có vợ hai con rồi. Vợ hắn người Việt gốc Hoa ở quận 10. Bây giờ chúng là ông bà chủ của hai khách sạn mi ni ở đường Phạm Ngũ Lão quận I thành phố Hồ Chí Minh.

– Thế thì mừng cho gia đình cô chú. Anh chị là ông bà chủ mỏ đá núi Voi. Cậu em là ông chủ khách sạn. Đúng là sự đổi mới kỳ diệu của cơ chế thị trường.

Vợ chồng Minh “lủi” vừa ăn xoài, vừa nói chuyện rôm rả. Với người khác, lời nói của ông Chín có thể phật lòng, song với Minh “lủi” thì ngược lại. Anh rất hiểu thủ trưởng xưa nay không hề ghen ghét, tỵ nạnh với ai bao giờ, nên Minh “lủi” cũng bỗ bã:

– Thì anh chị cũng là ông bà chủ vườn xoài...

Cả nhà cười vang trước lời nói tếu táo của Minh “lủi”. Vợ Minh quay sang hỏi ông Chín:

– Anh được tặng mấy huân chương?

Ông Chín thủng thẳng:

– Cũng không nhớ nữa. Thím hỏi làm gì?

– À, chẳng thấy cái nào anh treo trên tường cả, nên em hỏi.

– Có đấy, song bụi quá anh mới cất đi.

“Gia đình lính” trên tàu hôm nào nay lại sum họp thân thiết. Con cháu ông Chín tụ họp thăm hỏi vợ chồng Minh “lủi” như người thân lâu ngày mới gặp. Bà con lối xóm thấy khách Bắc mới vô cũng kéo qua hỏi thăm. Vợ chồng Minh “lủi” rất cảm động. Lâu lắm cả hai mới được sống trong không khí gia đình ấm cúng chân tình. Nó khác xa với cuộc sống bon chen đến ngộp thở ở chốn thành thị. Minh “lủi” bộc bạch với ông Chín:

– Giá như gia đình em có cuộc sống yên lành như gia đình anh chị.

– Chú nói thế nào, cô chú buôn bán, làm ăn, lại quen nếp sống thị thành, làm sao thích hợp với làng quê yên tĩnh.

– Thú thật, bon chen mệt mỏi lắm rồi. Làm ra nhiều tiền, nhà cửa tiện nghi đầy đủ, nhưng vợ một nơi, chồng một nẻo, con cái đua đòi lang bạt, lúc nào cũng canh cánh lo lắng, sợ hãi tai họa ập đến.

– Vậy thì cô chú dọn vào đây ở với chúng tôi.

Ông Chín nói vậy, chứ biết Minh “lủi” giỏi lắm chỉ có thể ở với vợ chồng ông hai, ba ngày là cùng. Nào ngờ vợ chồng hắn ở lại với gia đình ông tới nửa tháng. Mặc dù ông bận tối ngày với công tác Đảng, Hội, chỉ có ban đêm “gia đình lính” mới lại quây quần bên nhau.

– Nè, anh chị tính trả công cho hai vợ chồng em thế nào đây?

Bà Chín nói theo:

– Cô chú ấy lao động khá lắm đấy. Hơn hai công vườn của ông, cô chú ấy đã dọn cỏ sạch banh. Ông tính thế nào thì tính.

– Còn tính thế nào nữa, cho cô chú ấy một nửa.

Vợ Minh cười cười:

– Anh nói đùa hay nói thật?

– Tôi không nói đùa. Cô chú cứ vào đây, nửa vườn đó là của cô chú. Chỉ sợ cô chú không dám từ bỏ cuộc sống phồn hoa thôi.

Minh “lủi” đặt ly nước xuống bàn:

– Em sẽ từ bỏ cuộc sống bon chen đó. Nhưng không bao giờ lấy đất của anh.

– Đất của tôi?

– À, đất sở hữu của anh.

Bà Chín chợt nhớ ra điều gì, quay qua chồng:

– Sáng nay ông ra lớp tập huấn, có ông nhà báo đến muốn trao đổi với ông về việc gì đó.

– Tôi gặp rồi.

Minh “lủi” nhanh nhảu:

– Có chuyện gì thế anh?

Ông Chín châm điếu thuốc, kéo một hơi, bình thản:

– Các ông ấy định viết về tôi.

Vợ Minh “lủi” vỗ tay đánh bốp:

– Hay đấy anh Chín. Cuộc đời anh xứng đáng được lên sách.

Ông Chín lắc đầu chậm rãi:

– Tôi đi đánh giặc, cứu nước cũng như bao đồng đội. Biết bao người hy sinh, cống hiến nhiều hơn tôi đã không trở về, may mắn sống về với vợ con, làng xóm là hạnh phúc lắm rồi. Với tôi, từ một nông dân không mảnh đất cắm dùi, làm thuê, được Đảng giác ngộ, đi suốt hai cuộc trường chinh, trước sau cũng chỉ một tâm niệm: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mà Bác Hồ, vị cha già dân tộc đã dạy, vậy thôi.

Bà Chín nghe chồng nói rất cảm động. Không ai có thể hiểu ông hơn bà. Ông ấy là tá, tướng, là anh hùng... gì gì đi nữa cũng là ông nông dân chân chất, và dù có bao năm xa cách “chồng Nam, vợ Bắc”, chiến tranh ác liệt ông vẫn còn sống, trở về sống trọn vẹn hết mình với vợ con. Nghĩ vậy bà tủm tỉm cười:

– Dù sao cũng có chuyện viết về ông đấy.

– Chuyện gì thế chị Chín?

– Chuyện về ông Chín “cu” quê ở xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã một thời...

Cả nhà cười ầm lên. Nhất là vợ Minh “lủi” cứ ôm miệng cười như nắc nẻ. Chợt nhớ ra điều gì đó, chị ta vội hỏi:

– Anh Chín, thế biệt danh Minh “lủi” của chồng em là sao?

– Thì đêm nay cô về, hỏi hắn thì rõ.

Vợ Minh “lủi” chẳng hiểu mô tê, thấy ông Chín, chồng và mấy người hàng xóm cười bò ra, cô đỏ mặt rồi cũng cười theo.

Lại một đêm “gia đình lính” vui vẻ.

T.T.G


>>Top