Nguyễn Duy Thinh
Từ
hội trường Thành đoàn Thanh niên cộng sản thành phố Biên Hòa, sau buổi
nói chuyện thời sự quốc tế Bùi Văn Bình về thẳng nhà mình ở phường Quang
Vinh, anh lặng lẽ ngồi xuống bộ ván giữa nhà. Chị Tư Khánh, hỏi Bình:
- Có
chuyện chi không chú? Coi bộ chú suy nghĩ dữ lắm?
- Không
có chi, thưa chị.
- Trời
đất, chị đi chợ gặp ai cũng nói rần rần đó: Bọn Pôn Pết cho lính tấn
công chúng ta trên cả trăm cây số vùng biên giới phía Tây Nam!
- Em
biết, quân ta kiên cường đánh trả... Rồi đây lịch sử sẽ nghiêm khắc xét
họ, bọn lang sói mang lốt cộng sản!
Bình
nhớ lại sáng nay ở Thành đoàn, diễn giả truyền đạt phân tích. . .
Từ
giữa năm 1976, đường lối chính trị của giớI cầm quyền Pônpốt - Iêngxari
ngày càng bộc lộ rõ bản chất phản động, thông qua những chính sách chia
rẽ, gây hận thù dân tộc và đối đầu với Việt Nam, chúng ngang nhiên tiến
hành các hoạt động xâm lấn chủ quyền Việt Nam ở biên giới Tây Nam, ngay
sau khi miền Nam vừa hoàn toàn giải phóng.
Quân
Pônpốt đã đẩy mạnh các hoạt động khiêu khích thăm dò, dọn đường cho cuộc
chiến tranh xâm lấn biên giới bằng cuộc đột nhập vào kho vũ khí của ta ở
Tây Ninh tăng cường trinh sát, tuần tiễu dọc theo biên giới, đồng thời
cho lực lượng nhỏ (cấp tiểu đội, trung đội) bí mật thọc sâu vào đất ta
để gài mìn, lùa bắt trộm trâu bò, giết hại cán bộ , chiến sĩ ta. Thậm
chí quân Pônpốt còn đào và dời cả cột mốc biên giớI tại các khu vực Gò
Dầu, Cà Tum, rồi đưa dân Campuchia sang xâm canh tại các vùng Mộc Bài,
Khuốt, Vát Xa, Tà Nốt, Tà Đạt (thuộc tỉnh Tây Ninh). Nghiêm trọng hơn
trong hai ngày 25-2 và 3-3- 1976, quân Pônpốt bất ngờ tấn công vào đồn
biên phòng số 7 và số 8 ở Buphtrăng. Số vụ xâm lấn ngày càng tăng trên
địa bàn Quân khu 7, năm 1975 18 vụ, năm 1976 tăng gấp 9 lần, 171 vụ trên
82 điểm vào sâu trong lãnh thổ của ta đối diện với quân khu 203, còn gọi
là Quân khu Đông của Pônpốt!
- Giờ
chú tính sao, chú Bình?
- Em
tình nguyện nhập ngũ, thưa chị!
Chị
Tư Khánh hỏi vậy thôi rồi xuống bếp lấy cho em chồng ly nước, chị biết
Bình đã quyết thì khó mà cản, lát sau đã nghe anh hát vang:
Ơi
những đỉnh núi mây mù xa tắp
Ta sẽ
đến nơi đâu còn giặc
Ta chưa
về khi Tổ quốc chưa yên!
Nghe
Bình hát, chị Tư Khánh cầm ly nước trên tay run run xúc động nhớ lại. .
. mới đó thôi mà 21 năm đã trôi qua. Năm 1957 chị về làm vợ anh Tư Khánh
thì Bình mới được hai tuổI và ngày đó anh Tư Khánh cũng mới vượt ngục
trung tâm huấn chính Biên Hòa chưa đầy năm. Hồi nhỏ Bình lớn nhanh, mập
mạp và trắng như vắt bột làm bánh ít. Khuôn mặt Bình tròn, đôn hậu, rất
hiền, chỉ có cái miệng của em bị khuyết tật nhỏ, hơi méo một chút, nhưng
cười rất có duyên. Chị thường ôm chặt Bình trong vòng tay to khỏe, ấm áp
của người lao động và chẳng biết “ầu ơ” ru em theo lời ru Nam bộ.
Thay vào đó chị hát ru: Con cò, con vạc. ..khế chua, đào ngọt. . . trong
lời ru đồng bằng Bắc bộ của quê nhãn Hưng Yên. Năm 1965 vào cuối tháng
10, ông Bùi Văn Thôn -cha chồng chị -mất trong đêm đánh sân bay Biên Hòa,
Bình mới 10 tuổi, cậu em út lại càng được cả nhà thương yêu nhiều hơn.
Những năm đầu đi học, Bình học trường Nguyễn Du, đến năm gần giảI phóng,
cậu học sinh trung học Ngô Quyền Bình đã cao lớn và mạnh mẽ như một
chàng trai độ tuổi bẻ gẫy sừng trâu. Một lần giỡn chơi như thiệt, 6 cảnh
sát không rượt đuổi bắt nổi Bình. Mẹ và chị Tư Khánh rất lo cho Bình,
nhưng em chỉ cười, nói vui luyện tập mai mốt trốn lính khỏe re. Và đến
hôm nay, em đã 23 tuổi, là cán bộ Đoàn thanh niên, đối tượng Đảng ở Viện
Kiểm sát Nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Chị
Tư Khánh trao ly nước cho Bình và hỏi: “Em sao không hát nữa đi". Bình
nói: "Em nằm nghỉ một chút rồi đi kiếm thằng Thu bên Sở Văn hóa thông
tin, rủ nó cùng đi bộ đội đợt này". Chị Tư thấy vui trong lòng bảo: "Em
ngủ đi" . Bình cười nói: "Chị ru em đi, nếu không còn khuya em mới chịu
ngủ. Chị Tư nhìn cái lưng ở trần của em cuồn cuộn những bắp thịt săn
chắc. Ờ thì chị ru như hồi em còn bé nghe. ..
Cái
cò đậu cọc cầu ao
Ăn
sung, sung chát
Ăn
dào, đào chua.. .
Ngày
ngày lên đứng cổng chùa. .. "
Nghe
tới đó Bình quay lại. "Bài khác đi chị, bài đó con nít quá, để mai mốt
chị ru cháu ngoại hay cháu nội" .
Và
chị Tư ứng tác một bài ru theo điệu cò lả:
"Con cò
bay lả bay la
Bay từ
ruộng lúa, bay ra cánh đồng. . . "
Bình
xúc động ngồi ]ên, nắm tay chị dâu:
- Chị
ơi, em quí chị biết chừng nào, chị là chị ruột của em!
- …Thì
chị cũng đã làm việc ấy ngay từ năm 1957 khi về làm dâu ba, mẹ.. .
- Chị
muốn em bay cao, bay thiệt xa không? Bây giờ em bay đây nè , em bay đi
tìm thằng Thu.. .
- Còn
tập giấy của em ở trên bàn...
- Bản
tin mật cúa Việt Nam thông tấn xã đó , em đọc chị nghe nhé. . .
Bình
đọc:
"0 giờ
30 phút sáng ngày 25-9- 1977, Khơ me đỏ sử dụng hai trung đoàn 155 (sư
đoàn 4) và 182 (sư đoàn3) cùng 7 tiểu đoàn địa phương đồng loạt tấn công
các chốt của ta trên tuyến biên giới thuộc 3 huyện: Tân Biên, Bến Cầu,
Châu Thành (Tây Ninh) với 3 mục đích:
- Đánh
chiếm tuyến biên giới bờ phía Tây sông Vàm Vỏ . Nếu thuận lợi sẽ phối
hợp với sư 4 bộ binh (Quân khu Đông), từ hướng Bắc đánh xuống Thiện Ngôn,
sau đó chiếm thị xã Tây Ninh.
- Thực
hiện ba sạch: đốt sạch, phá sạch và giết sạch (kể cả trẻ em sơ sinh).
- Phá
hoại kinh tế, cướp lương thực, trâu bò và tài sản của nhân dân ta. Khơ
me đỏ tập trung lực lượng đánh vào dân, chỉ dùng lực lượng nhỏ đánh vớI
lực lượng vũ trang ta, cốt để kiềm chế, giữ chân. Vi vậy hậu quả của
địch gây ra rất nặng nề: dân chết, bị thương, mất tích cả trên ngàn
người, 300 trâu bò bị cướp đi, gần 500 ngôi nhà bị thiêu hủy..."
- Chị
thấy đó, Tổ quốc chúng ta bị xâm lăng, máu đồng bào ta đâ đổ... Em đi
đây!
Đầu
tháng 5-2000, được sự hướng dẫn của HộI cựu chiến binh Đồng Nai, cục
chính sách Quân khu 7, tôi người ghi lại truyện kể về anh hùng Bùi Văn
Bình đã gặp anh Tư Khánh (anh của Bình ìà cán bộ sở giao thông về hưu),
chị Ngọc Thanh (cháu ruột của Bình hiện đang công tác tại Ban dân vận
Tỉnh ủy), chị Tư Khánh (chị dâu của Bình) , trung tá Thu (Ban tác chiến
tỉnh đội người đi bộ đội và cùng được phong hàm thiếu úy một đợi với Bùi
Văn Bình).
Sáng
thứ bảy trong phòng trực tác chiến, trung tá Thu vui vẻ bắt tay tôi:
- Em
nhận được điện thoại của anh và đang chờ anh đây. . . Thành tích của
Bình anh đọc rồi, bây giờ em kể những kỷ niệm về Bình rất đời thường và
rất lính. . .
Bùi
Văn Bình sinh năm 1955, nhập ngũ tháng 10 năm 1978, lính Nam bộ rất
thích ra đánh địch ở biên giới phía Bắc, nhưng đơn vị của Bình được bổ
sung cho Quân khu 7, tham gia thành lập tiểu đoàn 14, bộ đội địa phương
Tây Ninh. Trong đơn vị có nhiều chiến sĩ mang tên Bình (thí dụ anh
Nguyễn Văn Bình, hiện đang công tác ở Quân khu 7, cấp hàm trung tá, được
phong danh hiệu anh hùng ngày 29/8/1985) bởI vậy đồng đội yêu quí Bùi
Văn Bình gọi anh là Bình méo, Bình lực sĩ. . . Bình to con rất khỏe,
nhưng rất hiền, vui tính đến độ hài hước. Một lần ở huyện Ba Rài, trên
đất bạn lính vui nhộn cá độ chơi, Bình đã vật ngã một con bò mộng nặng
cả trăm kí. Năm đó lính ở tuyến sau ăn độn 50% hạt bo bo. Đêm lạnh đi
tuần tra, Bình có sáng kiến rang hạt bo bo trong mũ sắt, giã hạt bo bo
thành bột bằng trái lựu đạn lép trong mũ sắt.. . Từ đó có thêm thú vui
mỗi khi đến hầm của Bình: Tiệm cafê bo bo Bình méo! Bình rất nhộn, dũng
cảm, một lần thu được chiếc xe 90 màu đỏ của địch, Bình chạy thử với tốc
độ như trên xa lộ Biên Hòa, không may gặp xe tảí quân ta chạy ngược
chiều. Để tránh chiếc xe tải có thể bị lật vì đường hẹp, Bình bay xuống
ruộngl Đổ nợ cho đám lính tếu phải đem xe bò hai con kéo, mới lôi được
xe và thiếu úy Bình lên khỏi vũng sình. Bình lại còn tặp làm thơ, có
những bài rất chuẩn, chẳng hạn bài tặng đồng chí đại đội trưởng quê Long
An hy sinh trong trận đánh Bắc Ba Rài:
Ngày
mày chết tao không thấy mặt.
Má
mày đau không tiền bạc thuốc thang
Đã
bao năm Người chịu cảnh cơ hàn,
Nuôi
mày lớn dâng cho Tổ quốc!
Blnh
nói rất thông thạo tiếng Campuchia, rất rành phong tục tập quán làm công
tác dân vận xây dựng làng chiến đấu khá giỏi, bởi vậy các trưởng fum,
sóc ở Ba Rài, San Túc quí Bình như con em ruột thịt. Có đồng đội còn kể
rằng Bình còn có cô bạn Campuchia tên là Chăn Thu con bà Xiêng Phên biết
hát dân ca bằng tiếng Việt Nam.
Bùi
Văn Bình về mặt trận 779, đúng vào dịp Quân khu 7 đã tham gia 15 tháng
chiến đấu lập chiến công rực rỡ (25-9- 1977 đến 20- 12- 1978 ) đẩy lui
quân Pônpốt -Iêng xari sang bên kia bên giới hàng chục cây số, giải
phóng hoàn toàn 3 huyện Tà Nung, Mimết, Snoul thuộc Kông Pông Chàm mở ra
vùng giải phóng đầu tiên của "Mặt trận giải phóng dân tộc cứu nước
Campuchia" rộng 1.300 km2” làm điểm tựa cho bước phát triển mới của cách
mạng Campuchia. Sáu năm làm lính tình nguyện giúp bạn Campuchia, Bùi Văn
Bình đã tham gia 5 chiến dịch, có những trận đánh trong đội hình phối
hợp binh chủng cấp sư đoàn. Xin kể lại một vài trận đánh và hành quân
mang phong cách rất lính Nam bộ, lực lượng nhỏ , thọc sâu thắng lớn.
Trận
Sông Pốt, tháng 5- 1980. Mười lăm chiến sĩ cùng với Bùi Văn Bình tham
gia truy đuổi và tiêu diệt một trung đội lính Pônpốt. Trang bị của tiểu
đội Bình 1 B40, 1 M79, 15 khẩu AK, riêng đạn và lựu đạn xài thoải mái
theo sức có thể đem theo. Chẳng hạn trận này đã bắn hết 2 thùng đạn M.79
( 120 quả), 4 quả B.40 (theo định mức gặp từ l trung đội và bộ binh địch
có thể tặng chúng một trái B40, nhưng khi gặp tổ đạI liên 3 thằng có ưu
thế độ cao và lấp ló ăng ten máy bộ đàm cũng sẵn sàng thui cháy chúng
bằng một trái B.40)... Khi đến đúng tọa độ ven sông báo có địch, lạI
chẳng có thằng chết tiệt nào. Nóng quá, lính phóng xuống sông. Từ những
bụi cây trên bờ, AK nổ ran tằng tằng hai phát một điểm xạ. Bình hô đồng
đội nằm xuống và ra ìệnh:
- Này
các cậu cẩn thận, điểm xạ kiểu đó chắc bọn này được ông bạn lớn cho súng,
dạy cách xài thiệt bảnh! Mình đánh vỗ mặt, các cậu thọc sườn xé tan độI
hình tụi nó.
Truy
đuổi bọn chúng khoảng 2 cây số, trời sụp tối rất nhanh, Bình cho anh em
làm công sự qua đêm mai đánh tiếp. Sáng hôm sau theo hướng cũ sục tìm,
chín giờ gặp địch, cài răng lược đánh nhau đến một giờ chiều. Khí thế
tiến công hăng hái, lính ta nổ súng như bắp rang. Bình vui quá, tếu cho
vui luôn:
- Đm
xài đạn vừa phải thôi! Bắn thủng mẹ hết vải và thuốc xamít, về phum già
làng không chịu đổi rượu đâu!
Đánh
tiếp 100m nữa thấy kho gạo, muối và cứt người ỉa đầy rừng . Bình gọi máy
bộ đàm về chỉ huy sở:
- Có lẽ
chúng tôi đụng độ với một trung đoàn, gạo muối rất nhiều, bọn chúng mất
vệ sinh lắm, ỉa đầy rừng!
Đầu
máy bên kia:
- Không
phải, có lẽ mà các cậu đụng với 600 thằng lộ đuôi rồi, chúng bọc hậu các
cậu đấy. Lệnh cho rút. Bên ta thế nào.
- Báo
cáo anh, bắn gần hết đạn, nhẹ cả người, quân số còn đủ, vài đứa bị
thương như bị gai mắc cỡ thôi!
Bình
cùng đồng độì phá kho gạo, muối rồi rút theo bờ sông về căn cứ. Ta diệt
20 tên và 60 tên bị thương.
Trận
đánh Biển Hồ , môi ghe 3 chiến sĩ. Ta đánh sông nước không quen. Đạn cối
8 l bắn 3 quả , sàn gỗ mũi ghe đã sập. Đại liên bắn, ghe giật lùi, nòng
súng gếch lên như bắn cò. Bình cho lui binh, tìm chỗ qua đêm. Thân hình
hộ pháp của Bình không ngủ trên ghe được. Anh leo lên cây máng võng dưới
ánh sao đêm. Vừa ấm lưng, Bình kể chuyện tiếu chọc quê hậu cần phát áo
lục cộc tay để lính làm mồi cho muỗi, chân 40 phát giầy số 42. . . Bất
ngờ cành khô gãy, đứt vòng, Bình té xuống hồ. Anh em cười vang:
- Bình
méo ơi, cá sấu thịt mày chưa!
Bình
trả lời:
- Tao
định bắt mấy con nhậu chơi mà kiếm không ra.
Sáng
hôm sau, Bình leo lên cây gỡ đầu võng còn lại Từ hốc cây một con hổ mang
khè chơi, như trong chuyện cổ tích. Bình ra lệnh "đưa tao khẩu B.40”.
Anh em tưởng Bình đùa, ném cho khẩu A.K đã dương lê. Lát sau Bình tụt
xuống với con rắn hổ dài 2 m đã bị lưỡi lê xọc vô miệng:
- Ráng
mang về tụi bay, đủ chơi thùng đạn đạI liên rượu thốt nốt đó!
Đờị
lính của Bình theo đồng đội kể lại cũng có chuyện đầy tình nghĩa. Hồi
Bình công tác trong một phum ở Ba Rài giúp huấn luyện quân sự cho dân
quân bạn, gặp dì XinPhên. Chồng dì là thầy giáo trên huyện bị bọn Pônpốt
đập chết. Tám mẹ con dắt nhau về quê ngoại. Dì buôn bán trên Biển Hồ với
bà con Việt Nam nên dì và con dì nói tiếng Vìệt rất sõi. Mến bộ độI Việt
Nam, dì Phên bảo Bình:
- Cậu
Bình giỏi trai quá, biết trèo thốt nốt lấy mật ngọt... khi nào hết chiến
tranh ở lại Ba Rài thôi. ..Dì cho cậu con Chăn Thu, da nó sáng đẹp như
con gái Việt Nam vậy!
Bình
trả lời:
-
Cám ơn dì Phên. Hết chiến tranh, dân quân Campuchia biết giữ phum sóc là
Bình lại về Việt Nam hái dừa thôi!
Đấy
là người mẹ, còn Chăn Thu gặp Bình giặt áo ngoài suối, thì con tim biết
nói lời đẹp hơn.
- Anh
Bình nhớ Việt Nam không?
- Nhớ
lắm, nhưng khi nào Pônpốt - Iêngxari hạ vũ khí đầu hàng thì Bình mới về
được.
- Chăn
Thu hát bài dân ca bằng tiếng Việt cho anh Bình nghe, vui không.
- Hôm
nay Chăn Thu bắn tập giỏi Bình vui lắm.
- Chăn
Thu không thích súng, chỉ muốn nghe suối reo và chim hót thôi.
- Thế
thì con chim Chăn Thu hát đi.
Chăn
Thu hát bài dân ca Thái.
Noọng
ơi. noọng về cùng ta
Cùng
chung mái nhà. Noọng về cùng ta.
Ta tắm
chung dòng suối
Nghe
sáo diều vi vu
ú ù ú u
Ta về
noọng ơi
Chăn
Thu kéo cao váy bước xuống suối:
- Chúng
mình tắm đi.
- Không
được đâu, Chăn Thu!
- Bộ
đội Việt Nam hy sinh cuộc sống cho ngườI Khơ me, mà sao không tắm được
với con gái ăng Ko.
- Được
chứ, nhưng anh Bình đã có một bông hoa rừng, rồi Bình cũng có chung mái
nhà.. .
- Chị
ấy đẹp lắm phải không. Hoa gì vậy, hoa chăm pa, hay hoa pơlang?
- Hoa
phong lan.
- Thế
thì anh Bình cho Chăn Thu làm em gái anh Bình.
- Được
thôi.
- Đặt
cho em tên Việt Nam đi.
- Tên
Chăn Thu cũng quá đẹp rồi, tiếng Việt Nam Chăn Thu là chị Hằng Nga. Bình
đặt cho Chăn
Thu tên
Việt Nam là Bùi Thị Thu Hằng.
- Anh
Bình đừng quên Thu Hằng nhé.
- Anh
Bình nhớ mãi phum này, nhớ già làng, nhớ dì Phên và nhớ cả mặt trăng mùa
thu của các anh bộ đội Việt Nam.
Thu
Hằng - Chăn thu mong anh Bình cao như cây thốt nốt tắm mình trên dòng
suối. ..
Mong
ước của Chăn Thu là mong ước của hàng triệu người dân Campuchia có nền
Văn hóa ăng Ko rực rỡ. Mong ước trở thành huyền thoại, khi hai tháng sau
gần lễ Chôn chơ nan thơ nây anh lính tình nguyện Bùi Văn Bình đã đi vào
huyền thoại để tiêu diệt bọn diệt chủng Pônpốt Iêng xari!
Trận
đánh bất tử.
Trung
tá Thu, Ban tác chiến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai, kể lại trong
niềm thương tiếc vô hạn. . . Ban chỉ huy ra lệnh cho chúng tôi đến tọa
độ X nơi hai nhánh sông chảy về hai tỉnh khác nhau. Bùi Văn Bình khi đó
đã là trợ lý tham mưu tác chiến của tiểu đoàn 14. Anh dẫn 12 chiến sĩ
Việt Nam và 5 dân quân Campuchia đi về nhánh sông bên phải. Bên chúng
tôi có 19 người đi về nhánh sông đối diện. Mỗi nhóm trang bị gọn nhẹ và
một bi đông rượu già phum tặng lúc lên đường. Chúng tôi hẹn nhau hoàn
thành nhiệm vụ sẽ về ngã ba sông có 5 cây thốt nốt uống rượu mừng chiến
thắng.
Qua máy
bộ đàm, Bình nói không gặp địch và anh lại nói vui: "Tết đến nơi rồi,
chắc chẳng có thằng Pônpốt nào chịu chết đâu. Bọn tao uống nửa bi đông
rượu đây. Sau đó 3 lần, chúng tôi bật máy đều không bắt được sóng của
Bình. Những vùng điếc không có từ trường trong khu vực địa hình phức tạp
thường hay gặp Chúng tôi trở về ngã ba sông đợi Bình. Hôm đó ngày
25.1.1984".
Chiến
sĩ mang máy bộ đàm bị thương nặng đã chứng kiến những giây phút anh hùng
của Bùi Văn Bình. . .
…Không
phát hiện ra địch, Bình cho bộ đội đi tiếp 500mét nữa thì phát hiện dấu
vết 6 người rẽ lên bờ vô rừng. Bình nhanh chóng ra lệnh tấn công, ngay
phát đầu tiên gặp địch các anh đã tiêu diệt 3 tên. Bọn địch cụm lại bắn
rất mạnh bằng nhiều loại vũ khí. Lúc này một nửa đơn vị đã hy sinh và bị
thương. Lợi dụng các gò mối, các cây đổ, Bình và đồng đội tiếp cận địch,
bằng điểm xạ chính xác Bình tiêu diệt thêm 3 tên nữa. Bình quay lại, đạn
đại liên, B40 của địch đã đốt cháy phát quang cả vạt rừng. Phía sau anh
chỉ còn duy nhất chiến sĩ bộ đàm bị thương nặng đang lết theo anh. Bình
ném liên tiếp 3 trái lựu đạn, lăn mấy vòng trở lại, anh nói với chiến sĩ
bị thương:
- Đưa
vũ khí cho tôi. Bằng mọi cách đồng chí phải trở về đơn vị.
- Anh
Bình, em không thể, em ở lại với anh. ..
- Thiếu
úy Bùi Văn Bình trợ lý tác chiến tiểu đoàn ra lệnh: Đồng chí quay trở về
, đó cũng là nhiệm vụ chiến đấu.
Bình
tiến lên sau gò mối, bình tĩnh sử dụng 3 loại vũ khí: B40, AK, RPD và
ném lựu đạn về phía hàng trăm tên địch đang xông tới. Biết chỉ còn một
mình Bình, bọn địch đợi anh bắn hết đạn và kêu gọI đầu hàng bằng tiếng
Việt Nam. Bình đứng dậy khỏi gò mối, với khẩu AK đã giương lê anh từ
bước tiến về phía địch. Một vài tên địch đứng xựng lại. Bình dõng dạc:
- Hỡi
bọn diệt chủng, hỡi bọn làm nhục nhã nền văn hóa Ăng Ko vĩ đại! Hỡi
những kẻ đã quên ân nghĩa xương máu của nhân dân Việt Nam. Chúng bay
phải đầu hàng!
Nhíều
tên lính Pônpốt, buông vũ khí bỏ chạy, chỉ có tên chỉ huy mặc áo bà ba
đen khăn rằn quấn trên đầu, đoạt khẩu AK bắn chết những tên lính bỏ chạy
rồi hướng nòng súng về phía Bình nhắm mắt sợ hãi nghéo cò cho nổ những
viên đạn còn lại...
Bùi Vân
Bình khựng người lại, lưỡi lê khẩu AK cắm xuống đất, một tay anh nắm
băng đạn đã hết đạn, tay kia đặt trong vòng cò súng, lồng ngực đẫm máu
tựa trên báng súng. Bọn địch bỏ chạy. Những đồng đội đi tìm anh vẫn thấy
anh đứng vững trong tư thế ấy.
Đó là
ngày 25/1/1984 tại phum Bông Sang Khao, giáp ranh huyện Ba Rài và San
Túc. Nơi ấy bây giờ là vùng biên giới bình yên, trẻ em Campuchia đến
trường học chữ như đi hội té nước Chôn chơ nan thơ nây. Nơi ấy có một
người con gái Campuchia mang tên Việt Nam Thu Hằng vẫn ngắm cây thốt nốt
cao lồng lộng in bóng xuống dòng suối trong xanh.
Anh Bùi
Văn Khánh, anh ruột Bùi Văn Bình vẫn nhớ lễ truy điệu Bình ở Thành phố
Biên Hòa, lời điếu văn vẫn văng vẳng bên tai anh: "đồng chí Bùi Văn Bình
sinh năm 1955 tại xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, nhập
ngũ tháng 10 năm 1978. Khi hy sinh đồng chí là thiếu úy trợ lý tham mưu
tiểu đoàn 14 anh hùng, thuộc Đoàn 7702, Mặt trận 779, Quân khu 7, Đảng
viên Đảng cộng sản Việt Nam.
Nhớ lại
chuyện cũ, chị Tư Khánh cứ ân hận sao không cố học cho được lời ru Nam
bộ cho Bình "ầu ơ, ví dầu cầu ván đóng đinh..."
Cô
Phong Lan cũng đến chịu tang Bình, cô nói với anh Tư Khánh: Bây giờ và
mãi mãi về sau trong trái tim cô vĩnh viễn chỉ có Bùi Văn Bình.
Trung
tá Thu, nghẹn ly trà tiếp tôi và bảo rằng hồi tập đội ngũ, anh và Bình
đi dọc theo đường Đồng Khởi khu vực trường Cao đẳng sư phạm và đài phát
thanh truyền hình bây giờ. Tháng phụ cấp binh nhì đầu tiên hai anh ghé
quán nước vệ đường, ãn hai cục kẹo đậu phộng, hai ly trà đá và hai điếu
Sài Gòn xanh.
Bây giờ
đoạn đường ấy rất đông người, họ là sinh viên, học sinh trường cao đẳng
sư phạm, trường chuyên Lương Thế Vinh. . . Tôi gặp họ hàng ngày và muốn
nói với họ rằng anh lính binh nhì Bùi Văn Bình đã từng đi con đường này
để đến trang sách của bạn, ghi nhớ một Bùi Vãn Bình, người anh hùng của
nghĩa vụ quốc tế cao cả.